Chương 57
Chương 57: Âm mưu
Đăng ngày 30/09/2026
19
Đêm, trong đại điện thênh thang tĩnh lặng lạ thường, chỉ có tiếng ngòi bút của Chu Doãn Thông hạ trên giấy, cùng tiếng lật tấu chương sột soạt của Chu Nguyên Chương.
Hôm nay hắn chỉ được rảnh rỗi chốc lát. Vừa bước ra khỏi Đông Cung, Chu Doãn Thông đã bị Trung thư xá nhân Lưu Tam Ngô và Hàn lâm Học sĩ Phương Hiếu Nhụ giữ lại dạy sử suốt cả buổi chiều.
Nội dung chủ yếu là phân tích những được mất của tiền triều Đại Nguyên. Người Hoa Hạ xưa nay vốn rất giỏi rút tỉa bài học và tự xét mình sâu sắc, đặc biệt là giới sĩ phu thời đại này. Họ luôn biết cách bù đắp những khiếm khuyết của tiền triều vào triều đại hiện tại, không để những vết xe đổ đó trở thành tì vết trong việc triều chính của Đại Minh.
Qua lời giảng giải của hai người, Chu Doãn Thông cũng nhìn thấy một khía cạnh khác của Đại Nguyên. Dù quốc vận chỉ kéo dài vỏn vẹn chín mươi năm, lại thêm cảnh dân chúng lầm than, đói kém nổi lên khắp nơi vào buổi mạt vận, song vương triều này vẫn có những điểm sáng nhất định.
Lưu Tam Ngô và Phương Hiếu Nhụ dạy dỗ Chu Doãn Thông hoàn toàn theo quy chuẩn giáo dục thái tử. Một bậc đế vương đủ tư cách thì tâm tính không được cực đoan, càng không thể thiên lệch; nhìn nhận bất kỳ sự việc nào, bên cạnh mặt xấu cũng phải nhìn thấy mặt tốt, đồng thời phải biết thừa nhận và tán dương.
Có như vậy, bậc đế vương mới không tự trói buộc mình, không sinh lòng kiêu ngạo tự đại.
Thời Nguyên, thương nghiệp phát triển rực rỡ, nhất là mậu dịch hàng hải. Khắp các bến cảng duyên hải đều có thương nhân từ bốn phương trời tụ hội về cư ngụ, từ người da trắng, người Ba Tư, cho đến cả người da đen. Con đường thương mại đường biển khởi phát từ thời Tống đã đạt đến đỉnh cao vào thời Nguyên. Tơ lụa, trà diệp, gốm sứ cùng nhiều sản vật của Trung Hoa theo những đoàn thuyền quy mô khổng lồ tỏa đi buôn bán khắp cùng trời cuối đất.
Văn hóa thời kỳ này mang tính dung hợp và đa dạng, thành tựu của văn hóa dân gian, hí khúc và văn học đều không thể coi nhẹ. Hơn nữa, trước thời Nguyên Thành Tông, chính cục Đại Nguyên vẫn tương đối ổn định, mấy đời hoàng đế đầu triều đều tích cực tiếp thu văn hóa Hán.
Thế nhưng kể từ sau thời Nguyên Thành Tông, triều đình trung ương nhà Nguyên bắt đầu rơi vào cảnh nội đấu triền miên. Hoàng đế và quyền thần tàn sát lẫn nhau, đại thần trong triều kết bè bài xích như nước với lửa. Việc hoàng đế ngả theo văn hóa Hán đã chạm vào quyền lợi cốt lõi của quý tộc Mông Nguyên cũ.
Văn hóa Hán bản chất là văn hóa đại nhất thống tập quyền trung ương, mọi việc trong thiên hạ đều do một tay hoàng đế định đoạt, trong khi người Mông Nguyên vẫn còn duy trì tàn dư của cơ cấu bộ tộc và quyền lực phân tán. Nền văn hóa tập quyền ấy khiến hoàng đế có xu hướng trọng dụng các đại thần nho sinh người Hán, điều này càng khoét sâu thêm mâu thuẫn với giới quý tộc Mông Nguyên.
Bởi vậy, từ giai đoạn trung kỳ trở đi, Đại Nguyên hoàn toàn đi thụt lùi so với lịch sử.
Mặt khác, tuy thương mại phồn thịnh nhưng thuế vụ của Đại Nguyên lại áp dụng ngạch cố định, toàn bộ đều giao khoán vào tay đám quan thu thuế người Sắc Mục. Thương nhân địa phương giàu nứt đố đổ vách, kéo theo nạn kiêm tính ruộng đất bừa bãi. Lũ người này lại câu kết quan thương, trốn tránh thuế khóa, gây tổn hại khôn xiết cho ngân khố trung ương.
Đồng thời, do triều đình trung ương mất dần khả năng khống chế địa phương, các thế gia hào tộc bắt đầu sinh lòng ly khai, thậm chí công khai dấy binh làm phản.
Điển hình như Bồ gia ở Tuyền Châu, Phúc Kiến. Gia tộc này định cư tại Tuyền Châu từ thời Đường, vốn là hậu duệ người Ba Tư, nhờ mậu dịch đường biển mà thao túng toàn bộ kinh tế Tuyền Châu. Tới thời Nguyên mạt, bọn chúng nắm giữ cả chính quyền địa phương, nắm trong tay đội vũ trang phiên nhân lên tới vài vạn tên người Ba Tư.
Tuyền Châu vốn là nguồn tài chính huyết mạch của Mông Nguyên thời mạt kỳ. Về sau, vì lợi ích riêng, lũ phiên nhân này thừa cơ thiên hạ đại loạn cũng đứng lên phản Nguyên, vừa gieo rắc tai họa cho một phương, vừa mưu toan nuốt trọn toàn bộ đất Phúc Kiến.
Dẫu về sau bị Bình chương Phúc Kiến của nhà Nguyên là Yến Đóa Bất Hoa dẹp yên, song thứ triều Nguyên thu lại chỉ là một Tuyền Châu Cảng đổ nát hoang tàn, phải mất rất nhiều năm mới có thể phục hồi.
Còn về phần Bồ gia, sau khi bị Yến Đóa Bất Hoa tàn sát một bận, lại bị một trong "Mân Địa Tam Trung" là Trần Hữu Định thanh trừng thêm một bận, cuối cùng đến lượt Chu Nguyên Chương quét sạch thêm lần nữa, khiến dòng máu đích hệ hoàn toàn tuyệt diệt. Các nhánh bàng hệ của Bồ gia cũng bị Chu Nguyên Chương ghi tên vào sổ tội dân, nghiêm cấm đọc sách làm quan, đời đời kiếp kiếp không được bước chân vào khoa cử.
Sở dĩ Chu Nguyên Chương căm ghét bọn chúng thấu xương, ngoài việc Bồ gia đã phá nát Tuyền Châu, còn bởi gia tộc này sở hữu một quá khứ nhơ nhuốc khôn cùng.
Bồ gia gốc Ba Tư đến Tuyền Châu thời Đường, phất lên vào thời Tống. Cuối thời Nam Tống, Bá Nhan thống lĩnh đại quân Mông Cổ nam hạ, người nhà họ Bồ khi ấy vì muốn lấy lòng chủ tử Mông Nguyên mà cả gan mưu sát ấu đế Nam Tống.
Mưu đồ bị các đại thần Nam Tống vạch trần nên ấu đế chạy thoát, nhưng trong cơn giận dữ vì hỏng việc, Bồ gia đã ra tay thảm sát gần ba nghìn tôn thất họ Triệu cùng triều thần Nam Tống ngay trong thành Tuyền Châu.
Có thể nói, từ lúc lập quốc cho đến khi diệt vong, Đại Nguyên chưa từng xây dựng được một chính quyền ổn định, hữu hiệu và đủ tư cách. Việc không thể tạo lập một hệ thống tập quyền trung ương vững chắc chính là một trong những căn nguyên lớn nhất dẫn tới sự sụp đổ.
Nếu suy xét kỹ hơn, nguyên nhân sâu xa này thậm chí còn nghiêm trọng hơn cả nạn kiêm tính ruộng đất.
Thêm vào đó, văn hóa dẫu phồn vinh nhưng không thể không thừa nhận đó là một sự phồn vinh đầy bi kịch. Lượng lớn nho sinh người Hán không được trọng dụng, nỗi niềm cảm thán trước cảnh triều chính tối tăm chỉ còn biết gửi gắm vào chốn sáng tác nghệ thuật.
Đại Nguyên vừa gặp thiên tai nhân họa, lại vừa đánh mất lòng dân. Kiêm tính đất đai, chính sự mờ ám, quan lại địa phương chuyên quyền lấn át triều đình, những điều ấy tích tụ lại đã đẩy triều Nguyên tới chỗ diệt vong.
Lời dạy của Lưu Tam Ngô và Phương Hiếu Nhụ cốt để Chu Doãn Thông nhận thức rõ những căn nguyên đó, đồng thời đặt lên bàn cân so sánh với điển chế của bản triều cùng các triều đại trước.
Chu Doãn Thông vốn tiếp thu hệ thống giáo dục từ hậu thế, khả năng suy một ra ba rất nhạy bén, góc nhìn lại độc đáo khác người. Bậc thầy nào mà chẳng yêu thích học trò thông tuệ, hai vị Hàn lâm Học sĩ vớ được học trò giỏi liền dốc hết sở học ra mà dạy.
Nếu không phải Chu Nguyên Chương lên tiếng ngăn lại, e rằng trời tối mịt hai người họ vẫn chưa chịu tan buổi học.
Dẫu vậy, Chu Doãn Thông chưa từng vì mang linh hồn của người hiện đại mà lơ là việc học tập. Dù học vấn khi xưa không thuộc hàng xuất chúng, hắn vẫn ghi khắc lời người thầy năm nào từng dạy dỗ.
Thầy giáo dạy lịch sử của hắn từng bảo, triều Thanh dẫu có nhiều điểm khiến hậu thế chê trách, nhưng có một điều buộc phải thừa nhận: triều đại ấy không có hôn quân.
Nếu xét theo góc độ của người quản trị, đa phần các hoàng đế triều Thanh đều tròn vai.
Nguyên nhân là bởi trước khi đăng cơ, họ đều phải trải qua nền giáo dục vô cùng nghiêm ngặt, rèn luyện gian khổ, nhận thức sâu sắc về sự hưng vong của các triều đại trước, nhờ đó đạt tới đỉnh cao của thuật đế vương và sự tập quyền trung ương, nắm chặt quyền bính tuyệt đối trong tay.
Bởi vậy, họ biến toàn bộ triều thần thành lũ nô tài.
Trong khi đó, các hoàng đế triều Minh lại mang đậm cá tính riêng, sẵn sàng chia sẻ quyền lực với triều thần, dẫn đến việc vào trung hậu kỳ, đảng tranh đã trở thành một trong những mầm mống hủy hoại cơ nghiệp Đại Minh.
Chu Doãn Thông dốc lòng học tập không phải để biến quần thần thành nô tài, cũng chẳng phải để trở thành kẻ độc phu duy ngã độc tôn. Hắn học vì muốn thực hiện hoài bão trong lòng, muốn tiếp nối ánh hào quang cho quốc gia cổ kính này.
Trước hết phải trở thành một hoàng đế đủ tư cách, sau đó mới có thể trở thành một minh quân kiệt xuất, có đủ năng lực và uy vọng để dẫn dắt giang sơn đi đúng hướng.
(Tất cả những điều trên chỉ là lời dài dòng, ha ha)
"Bất cập trong phép Lưỡng thuế của Đại Nguyên nằm ở chỗ sổ sách điền mẫu tại địa phương hỗn loạn. Hào cường địa phương tùy tiện kiêm tính đất đai mà không khai báo, trên sổ chỉ ghi lại ruộng đất của kẻ bần nông. Cứ kéo dài như thế, sưu thuế đè nặng lên vai lê dân nghèo khó, khiến trăm họ phải tán gia bại sản..."
Chu Doãn Thông ngậm đầu bút, cẩn thận nắn nót từng chữ ghi lại tâm đắc của buổi học hôm nay. Cảnh tượng chẳng khác nào lúc viết luận văn năm xưa, nặn ra từng chữ một. Việc này không thể qua loa lấy lệ, bởi ngày mai hai vị tiên sinh sẽ đích thân kiểm tra.
Hai vị hủ nho tính tình vừa gàn vừa cứng rắn ấy đâu cần bận tâm hắn có phải là Ngô Vương hay không. Nếu bài vở làm không ra hồn, họ quở trách chẳng nể nang chút thể diện nào.
Nói như lời của hai người bọn họ: Năm xưa phụ thân của người là Thái tử còn từng phải chịu thước kẻ của tiên sinh, người thì hơn được cái gì?
Bất chợt, ánh nến trước mắt bừng sáng lên. Chu Doãn Thông ngẩng đầu, thấy Chu Nguyên Chương đang mỉm cười nhìn mình.
"Hoàng gia gia, người xem xong tấu chương rồi ạ?" Chu Doãn Thông cười hỏi.
"Đại tôn, mệt không cháu!" Chu Nguyên Chương đặt cây nến xuống, cười hỏi.
Chu Doãn Thông gật đầu, thở dài cười khổ: "Mệt ạ!"
"Có mệt mấy cũng chẳng mệt bằng việc làm ruộng!" Chu Nguyên Chương cười ha hả, "Đám người đọc sách dẫu lắm lúc chẳng ra cái thể thống gì, nhưng học vấn của họ thì chúng ta phải học, nhất là cái đạo trị quốc này, cháu phải học cho thật kỹ. Đánh thiên hạ cậy nhờ võ tướng, trị thiên hạ phải dựa văn thần. Một hoàng đế không có chút học vấn nào thì không thể làm một hoàng đế tốt được!"
Chu Doãn Thông bỗng chớp mắt mỉm cười: "Hoàng gia gia, người cũng đâu có nhiều học vấn, vậy mà người vẫn là một vị hoàng đế vĩ đại đấy thôi!"
"Đó là bởi ông nội cháu luôn như đi trên băng mỏng, cẩn trọng từng li từng tí." Chu Nguyên Chương cầm lấy tờ giấy Chu Doãn Thông vừa viết lên xem thử, "Ừm, chữ của đại tôn nhà ta viết khá lắm!"
Vừa nói, nếp nhăn trên mặt lão hoàng đế dãn cả ra vì cười: "Chiều nay cháu tan học, hai tên Hàn lâm Học sĩ kia đứng trước mặt ta khen cháu nức nở. Ha ha, đại tôn, cháu làm vẻ vang mặt mũi ông nội rồi!"
Ngữ khí đầy vẻ tự hào và đắc ý của Chu Nguyên Chương chẳng khác nào một người ông lão nông vừa dạy dỗ được đứa cháu ngoan.
Chu Doãn Thông cười đáp: "Gia gia, tôn nhi học đâu chỉ vì người, mà còn là học vì Đại Minh của chúng ta."
"Tốt!" Chu Nguyên Chương cười lớn, "Nói hay lắm, học vì Đại Minh của chúng ta. Rất có chí khí!"
Nói đoạn, lão ngồi xuống cạnh Chu Doãn Thông: "Mấy ngày nay học hành vất vả, ngày nào cũng thức đến tận đêm khuya. Có muốn thứ gì, thích món gì không, cứ nói với Hoàng gia gia!"
Chu Doãn Thông ngẫm nghĩ một lát rồi mở lời: "Gia gia, ngày nào cũng ru rú trong cung chán ngắt, hay là ngày mai hai ông cháu mình ra ngoài thành dạo chơi một chuyến nhé?"
"Ta còn tưởng chuyện gì to tát. Được, mai hai ông cháu ta ra ngoài lượn một vòng!"
Lúc này, trong tòa đại điện hoàng gia ngập tràn tình thân cốt nhục.
Thế nhưng nơi chốn thâm cung sâu thẳm, tình thân lại là thứ xa xỉ và hiếm hoi nhất.
Chỉ có những toan tính giữa người với người mới là thứ tồn tại mãi mãi. Ngay tại Đông Cung nơi Chu Doãn Thông đang ở.
Một bóng đen khẽ liếc nhìn hai vị công chúa đang say giấc, sau đó lách qua viên thái giám trực đêm đang gà gật, lặng lẽ lẻn vào thư phòng của Chu Doãn Thông.
Một lát sau, bóng đen kia lại rón rén bước ra, đi thẳng về phía hoa viên Đông Cung.
"Song Hỷ công công?" Bóng đen cất tiếng gọi.
Song Hỷ, kẻ vừa bị Chu Doãn Thông sai người đánh một trận trượng đến ngất đi, từ trong góc tối bước ra, trầm giọng hỏi: "Xong xuôi rồi chứ?"
"Đã đâu vào đấy cả rồi!"
"Trở về đi, đợi nương nương ban thưởng!"
