Chương 680
Chương 680: Còn lớn hơn cả Đường Dược!
Đăng ngày 30/09/2026
19
Đêm hôm đó, Lâm Tri Lễ tức đến phát khóc, một mình đứng trên nóc nhà khoa tay múa chân với không khí, vừa chửi rủa vừa đấm đá loạn xạ, đem toàn bộ những câu thô tục học được trong cả đời này trút hết lên người gã tráng hán.
Hôm sau.
"Rộp."
"Phì."
"Rộp."
"Phì."
Tiểu Ngọc Nhi ngoan ngoãn ngồi trước bàn học, vừa gặm dưa hấu vừa nhổ hạt, chăm chú lắng nghe Vô Cấu trước mặt kể chuyện ngắn. Soái Soái Áp cũng ở bên cạnh, một Phật một Nho thay nhau dạy học cho cô bé.
Lúc này, Vô Cấu ôn tồn giảng giải:
"Năm xưa, khi Lục Tổ Thiền tông Huệ Năng đại sư mới bước chân vào cửa Phật tu hành, sư phụ của ngài là Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn đại sư đã ra một đề bài, bảo các đệ tử hãy viết một bài kệ để trình bày sở ngộ của mình đối với Phật pháp. Khi ấy, đại sư huynh của Huệ Năng đại sư là Thần Tú đã viết:
'Thân thị bồ đề thụ,
Tâm như minh kính đài,
Thời thời cần phất thức,
Vật sử nhạ trần ai.'
Bài kệ này vừa ra đã nhận được sự kính phục của toàn thể tăng chúng, ngay cả Hoằng Nhẫn đại sư cũng khen không dứt lời.
Thế nhưng khi ấy, Huệ Năng vừa nhập môn, thậm chí còn chưa biết chữ, lại đưa ra một nhận thức hoàn toàn khác biệt so với đại sư huynh Thần Tú. Ngài nói: 'Bồ đề bản vô thụ, minh kính diệc phi đài, bản lai vô nhất vật, hà xứ nhạ trần ai'."
Trước bàn học, Tiểu Ngọc Nhi ngậm đầy dưa hấu trong miệng, ú ớ hỏi: "Anh Vô Cấu ơi, hai bài kệ này nghĩa là sao ạ?"
Vô Cấu mỉm cười, đưa mắt nhìn sang Soái Soái Áp đang nằm vắt chân chữ ngũ trên trường kỷ, vừa phơi bụng vừa lật xem sách tranh mát mẻ.
Con vịt đang mải mê xem "xuân hương họa bổn" bỗng cảm nhận được ánh mắt của Vô Cấu, lập tức thấy khoái chí. Tên hòa thượng nhãi ranh này muốn thử tài mình đây mà. Được thôi, để bổn vịt cho chú mày mở mang tầm mắt.
Nó vắt chéo hai chân, đôi bàn chân dẹp màu cam lắc la lắc lư, chủ động giải thích cho Tiểu Ngọc Nhi:
"Ngọc tỷ, để anh Vịt giải thích cho muội nghe nhé. Trước tiên là Thần Tú, sư huynh của Huệ Năng. Gã này bảo là: 'Thân như cây bồ đề, lòng như đài gương sáng, sớm tối siêng lau chùi, chớ để dính bụi trần'.
Bài kệ này thực ra khá phù hợp với nhận thức của đại chúng, nói trắng ra thì cũng chẳng có gì sai. Muội có thể hiểu là, nội tâm của mỗi người luôn có sự nhơ bẩn; cuộc đời, giang hồ, hồng trần đều là những chiếc thùng nhuộm lớn. Chúng ta sống trong những thùng nhuộm đó, bất cứ lúc nào cũng có thể bị tà niệm vấy bẩn. Thế nên làm người làm việc thì phải tự xét lại mình nhiều hơn, chăm chỉ dọn dẹp nội tâm cho thật sạch sẽ, đừng để lòng mình vướng phải chuyện xấu xa."
Nghe đến đây, Tiểu Ngọc Nhi bừng tỉnh hiểu ra, gật đầu lia lịa:
"Ồ... Thế thì bài kệ này chí lý quá rồi, vậy bài thứ hai có ý nghĩa gì ạ?" Cô bé tò mò hỏi tiếp.
Soái Soái Áp cười khà khà, một tay lật tiếp cuốn sách khiêu dâm, miệng liến thoắng tràng giang đại hải:
"Bài kệ thứ hai này mới gọi là ghê gớm. So với Thần Tú, Huệ Năng tuy nhập môn muộn nhưng tuệ căn quả thực vượt xa gã kia quá nhiều. Không thể phủ nhận Thần Tú nói có lý, nhưng Huệ Năng vừa nhìn là biết ngay gã này chưa hề minh tâm kiến tính.
Thế nên ngài mới nói: 'Bồ đề vốn không cây, gương sáng cũng chẳng đài. Xưa nay không một vật, nơi nào dính bụi trần!'
Nghĩa là sao? Tức là trong lòng Thần Tú vẫn còn vọng tưởng chấp trước, vẫn còn phân biệt khôn khéo. Phật pháp ở ngay thế gian, chẳng rời khỏi thế gian giác ngộ; cuộc sống chính là tu hành và đạo tràng. Nhưng trên thực tế vốn dĩ chẳng hề tồn tại cái gọi là tu hành hay đạo tràng nào cả, vạn vật bên ngoài cũng chẳng phải thùng nhuộm gì hết. Chính tâm của muội tự cho rằng giang hồ, hồng trần, cõi đời là thùng nhuộm, nên mới sinh ra phân biệt sạch sẽ với nhơ bẩn, mới có chuyện cao thấp, ngươi ta, tốt xấu.
Cho nên xuất phát điểm của Thần Tú tuy tốt, nhưng xét về tầng lý luận sâu xa thì lại không ổn, bởi gã đang đứng trên lập trường cá nhân để soi xét cả thế gian.
Muội bảo thế giới là thùng nhuộm, là vì trong lòng muội vẫn còn chấp trước vào một cảnh giới thanh tịnh, tâm muội vẫn còn đối lập nhị nguyên, vẫn dùng cái lối nhận thức đối lập nhị nguyên ấy để nhìn ngắm thế giới này.
Thế nên ý của Huệ Năng chính là: Cái thùng nhuộm mà muội tưởng kia thực ra không phải là thùng nhuộm, mà chỉ là sự phân biệt từ trong tâm muội mà ra thôi. Thành thử gã Thần Tú này vẫn còn vướng vào phân biệt ta - người, vẫn còn kẹt vào cái tướng đen - trắng.
Tất cả vấn đề đều nằm ở chỗ: Thần Tú vẫn đang đồng nhất chính mình với những ý niệm của bản thân.
Còn Huệ Năng thì đã chẳng còn coi ý niệm là ý niệm nữa, mà là 'chẳng sợ niệm khởi, chỉ sợ giác chậm'.
Bởi vậy Huệ Năng biết rất rõ ý niệm chỉ là ý niệm, còn tính giác và bản tâm của mình vốn dĩ đã thanh tịnh rồi. Ý niệm là việc của ý niệm, còn ta vốn đã sạch sẽ thì việc quái gì phải đi lau chùi nó? Ta đâu có nhận bừa nó là mình! Kệ xác nó tự tung tự tác! Bản thân thấy có cần lau chùi hay không cũng là chuyện của ý niệm, nó tuần hoàn qua lại, vật cực tất phản. Ta chỉ việc nhìn nhận nó đúng như nó là, chẳng cần tranh luận đôi co với nó làm gì.
Cho nên Ngọc tỷ có thể hiểu thế này: Khi một người tự nhận những ý niệm là chính mình, nghĩ rằng ý niệm của mình là đúng, cho rằng cái tâm phán xét phân biệt từng giây từng phút này là đúng, người đó sẽ rơi vào một niệm mê muội, lọt vào hố sâu, rồi sinh ra cây bồ đề, sinh ra đài gương sáng, sinh ra thùng nhuộm, sinh ra tốt và xấu.
Mà trên thực tế, ý niệm chỉ đơn thuần là ý niệm, là cái 'nghiệp' của mỗi chúng ta, có từ thuở loài người mới xuất hiện. Nó có lý do để tồn tại, chẳng hạn như để phân tích, suy nghĩ, sáng tạo trong cuộc sống đời thường.
Những thứ đó không hề sai, cái sai là muội đã đánh mất bản tâm của chính mình. Bản tâm của muội là sự hay biết, là ý thức, là cái giác, còn ý niệm chỉ là thứ sinh ra từ trong đó mà thôi.
Nhưng cái 'ý thức hay biết' là muội đây lại cứ ngỡ cái ý niệm sinh ra kia chính là bản thân mình, thế nên mới mê muội, mới sinh ra vọng tưởng chấp trước, và đó là lý do vì sao Phật bảo không thể chứng đắc."
Sau một tràng thao thao bất tuyệt, Tiểu Ngọc Nhi hoàn toàn đực mặt ra, còn Soái Soái Áp thì khoan khoái nằm rung đùi xem sách, buông lời đúc kết:
"Đạo pháp tự nhiên, không thể chứng đắc cũng là do vọng tâm chấp trước, không thể soi chiếu đúng như thật. Tâm bình thường chính là đạo, ăn ỉa đái dầm hay hoàng đế ăn mày thảy đều là vọng tâm trụ tướng. Nào là ta thấy mình cao sang đẳng cấp, nào là ta thấy mình tự ti thấp hèn... Trụ vào tướng thì phiền não nhiều không đếm xuể.
Phải ưng vô sở trụ thì mới sinh ra được cái bản tâm kia.
Thế nên cái tâm thanh tịnh này vốn dĩ đã luôn có sẵn, chỉ là nó trót nhận nhầm ý niệm là chính mình,
Để rồi trôi lăn vào Lục Đạo Luân Hồi, đời đời kiếp kiếp chịu khổ trong vòng luẩn quẩn."
Dứt lời, Soái Soái Áp "bốp" một tiếng khép sách lại, nhìn Vô Cấu với vẻ đắc ý tột cùng:
"Tiểu hòa thượng Vô Cấu, thấy anh đỉnh chưa?"
Nghe vậy, Vô Cấu chắp hai tay trước ngực, khẽ gật đầu tán thán:
"Trí tuệ của Áp thí chủ dẫu có đặt vào trong Phật học cũng đã đạt tới cảnh giới A Tu La rồi, tiểu tăng vô cùng bái phục."
Soái Soái Áp nghe thế thì sướng rơn, khẽ cong đầu cánh lại, nằm ngửa trên giường ôm quyền hướng về phía Vô Cấu: "Quá khen, quá khen!"
Trong thư phòng, Tiểu Ngọc Nhi ngơ ngác nhìn một người một vịt tâng bốc lẫn nhau, rồi đột nhiên ôm chặt lấy cái đầu nhỏ, váng vất kêu to:
"Chóng mặt quá đi mất, hai người đang nói cái gì thế hả!"
Thấy Tiểu Ngọc Nhi lú lẫn cả đầu óc, Vô Cấu khẽ mỉm cười, vừa định dùng lời lẽ bình dân để giải thích cho cô bé thì cả gian thư phòng bỗng rung chuyển dữ dội.
"Oành!"
Một tiếng nổ đinh tai nhức óc vang lên cắt ngang cơn choáng váng của Tiểu Ngọc Nhi, đồng thời cũng khiến Vô Cấu và Soái Soái Áp giật nảy mình.
"Thang Viên lại làm nổ lò đan nữa đấy à?" Soái Soái Áp ngơ ngác: "Chẳng phải đã cấm tiệt nó luyện đan ở Nga Mi rồi sao?"
"Không đúng, anh Thang Viên đi cùng sư phụ sang Tượng Thần Đại Lục rồi mà."
"Thế tiếng nổ to tướng này là cái quỷ gì? Dư Sở Sở ngỏm củ tỏi rồi à?"
Giữa lúc hai người một vịt trong thư phòng còn đang ngơ ngác, ngoài cửa bỗng có một thiếu nữ mồ hôi nhễ nhại hớt hải lao vào, chính là Lăng Vi, đồ đệ của Lâm Tiểu Lộc.
"Chưởng môn Ngọc Nhi ơi, ngoài sơn môn có một gã đàn ông trần như nhộng kìa, hắn to khủng khiếp luôn! Còn to hơn cả Đường Dược nữa!"
