Chương 3
Chương 3: Đồng nhân về Tân Đạo Giáo của Trương Ứng Thần
Đăng ngày 13/10/2026
19
Mấy thiên dưới đây đều do Đạo Tuyền Tử (vai quần chúng trong truyện: Trương Ứng Thần) viết trên diễn đàn Long Không. Người sáng lập ý niệm Tân Đạo Giáo Lâm Cao:
Trích nhật ký Trương Ứng Thần:
Đại hội sắp sửa khai mạc, mấy ngày liền tôi đều đi viếng các đền miếu tại vùng Lâm Cao. Rõ ràng, hoạt động tôn giáo ở Lâm Cao vẫn chưa đi vào quỹ đạo, giáo phẩm Đạo giáo lẫn Phật giáo tại địa phương có địa vị cực thấp, bản thân những giáo chức này cũng chẳng thể coi là có phẩm chất của một chức sắc tôn giáo đủ tư cách. Ngoài việc tụng đọc bảo quyển ra, họ căn bản thiếu hẳn tố chất tôn giáo chính quy, bất kể là khoa nghi phóng diệm khẩu hay bái sám đều không tinh thông, phần lớn trong số đó thậm chí còn mù chữ.
Phẩm chất thấp kém của hàng ngũ tăng đạo đã mở ra mảnh đất hoạt động vô cùng rộng lớn cho tôn giáo dân gian tại Lâm Cao, đồng thời cũng mang lại tiền đồ phát triển cực kỳ to lớn cho Dòng Tên.
Sau khi yết kiến tu hội Lâm Cao cùng Ngô viện trưởng nọ, tôi tin chắc rằng, nếu giáo hội Lâm Cao cứ tiếp tục phát triển mà không gặp bất kỳ sự kiềm chế nào, rốt cuộc sẽ giành được địa vị quốc giáo dưới chính quyền của người xuyên việt.
Thế nhưng, phần lớn người xuyên việt chúng ta dường như chưa nhận thức được sự tồn tại của một quốc giáo mang ý nghĩa gì. Đúng vậy, hiện tại tập đoàn xuyên việt chúng ta là một nhóm tinh anh chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa vô thần, giáo hội Lâm Cao chịu sự chế ước của Văn phòng Tôn giáo nên trên bất kỳ phương diện nào cũng không thể chống lại tập đoàn xuyên việt. Song, ở thế kỷ mười bảy chưa phổ cập giáo dục bắt buộc và tư tưởng duy vật này, giáo hội chắc chắn sẽ có sức ảnh hưởng sâu rộng hơn nền giáo dục của chúng ta.
Tập đoàn xuyên việt chúng ta có thể không chịu mê hoặc bởi những lời quỷ biện đó, thế nhưng hậu nhân của chúng ta, thần dân của chúng ta thì sao? Rõ ràng chúng ta không thể dùng chủ nghĩa duy vật Mác - Lênin hay bất kỳ lý luận xã hội công nghiệp nào để gây ảnh hưởng lên đại đa số bọn họ. Trên thực tế, nhìn vào biểu hiện của đám người chiếm tuyệt đại đa số thuộc Đảng Nước Tương trong Cách mạng Nữ hầu, họ cũng chẳng mảy may bận tâm đến vấn đề này.
Có thể thấy trước, vài thập niên sau, giáo hội Lâm Cao sẽ trở thành một thế lực nắm giữ vị trí then chốt tác động đến xã hội, và sau khi thế hệ xuyên việt già đi, tầm ảnh hưởng của nó sẽ còn tiếp tục bành trướng, thậm chí quay ngoắt lại cắn trả chính quyền người xuyên việt.
Tôi nghĩ, chúng ta cần một đối trọng với giáo hội Lâm Cao để cân bằng lại cục diện độc tôn của con quái vật do chính tay chúng ta tạo ra. Có lẽ, đây chính là sứ mệnh mà ông trời đã giao phó cho tôi.
**************************************************
Kể từ thời cận đại, các tông phái Toàn Chân, Chính Nhất mà chúng ta thấy đều là mô hình tiêu chuẩn của Đạo giáo thần tiên. Nhưng nếu chúng ta truy ngược về Thiên Sư Đạo và Thái Bình Đạo cổ xưa nhất, lưu ý một chút đến "Thái Bình Kinh" và "Tưởng Nhĩ Chú", sẽ phát hiện Đạo giáo nguyên thủy vốn chẳng mấy mặn mà với các loại phương thuật mưu cầu thành tiên.
Chẳng hạn "Tưởng Nhĩ" đánh giá các thuật thổ nạp đạo dẫn, tồn thần quan tưởng của phương sĩ đương thời là "ngụy thuật", gọi các đạo phái cúng tế quỷ thần là "ngụy đạo", mà điều "Tưởng Nhĩ Chú" đề xướng lại là giữ giới để tiến gần với Đạo. Thế nhưng Thiên Sư Đạo đã nhanh chóng hợp lưu cùng quỷ đạo xứ Ba Thục, dung nạp một lượng lớn những thứ phù chú pháp thuật vốn dĩ từng bị nó phản đối. Sự biến chuyển tôn giáo theo kiểu "vác cờ đỏ để chống cờ đỏ" này đều xuất hiện tương tự ở khắp các giáo phái thời Trung cổ.
Ví như, Cơ Đốc giáo chịu ảnh hưởng từ tín ngưỡng dị giáo La Mã, bắt đầu tiếp thu thần linh của các dân tộc châu Âu làm thánh đồ; Hồi giáo ở Nam Á và Trung Á vẫn bảo lưu sự sùng bái tinh linh của Shaman giáo; Phật giáo Ấn Độ truyền vào Trung Nguyên sau khi kết hợp với tư tưởng Đạo gia đã khai sinh ra Thiền tông với phong khí quở Phật mắng Tổ.
Ngay cả linh mục Bạch cùng Ngô viện trưởng của Văn phòng Tôn giáo chúng ta, khi truyền bá Cơ Đốc giáo cũng không thể không nhân nhượng theo tập tục của Đại Minh.
Giáo lý bị nền văn minh dị chất làm cho tha hóa, đây là vấn đề tất yếu phát sinh trong công tác truyền giáo. Dẫu cho Xuyên Việt Chúng Lâm Cao chúng ta nắm giữ tri thức và kinh nghiệm lịch sử vượt xa thời đại này, đáng tiếc vấn đề đó vẫn không tài nào tránh khỏi. Song, tư tưởng Lâm Cao định sẵn phải thay thế tư tưởng cũ, tôn giáo Lâm Cao định sẵn phải thay thế tôn giáo cũ. Bất kể là Công giáo La Mã, Chính thống giáo hay Phật giáo và Đạo giáo truyền thống, đều tất yếu bị tôn giáo Lâm Cao thay thế. Đây là một cuộc chiến ý thức hệ vĩ đại, không thể có chỗ cho sự ủy mị nhu hòa hay khiêm nhường nhượng bộ.
Nhìn khắp lịch sử, thủ đoạn hành chính thông thường không thể tiêu diệt tôn giáo cũ, chỉ khi một dân tộc hoàn toàn quy y tôn giáo mới, họ mới triệt để đoạn tuyệt với tôn giáo cũ. Nói cách khác, chỉ có tôn giáo mới tiêu diệt được tôn giáo.
Nhiệm vụ của Hội đồng Đạo giáo chúng ta không phải là tiêu diệt triệt để các giáo phái cũ, mà là thông qua việc đi sâu vào tín chúng, đoàn kết tín chúng, phát động tín chúng, từ đó cô lập hoàn toàn toàn bộ quán chủ, tự chủ, đạo quan, tăng quan của cựu giáo phái, đập tan triệt để mô hình tôn giáo và chế độ tôn giáo cũ, kiến lập một tân giáo phái quy phục Xuyên Việt Chúng chúng ta...
Trích từ "Tóm lược bài phát biểu tại hội thảo đón năm mới của Văn phòng Tôn giáo" của Chủ tịch Hội đồng Trương Ứng Thần.
***********************************************
Linh mục Matteo Ricci trước sau vẫn kiên trì nhận định mảnh đất cổ xưa này có lưu lại dấu tích ân cứu rỗi của Thiên Chúa chúng ta. Đáng tiếc là, vào thời khắc trọng đại khi linh mục Álvaro Semedo tham gia khai quật và phiên dịch tấm bia khắc giáo hội thiêng liêng do hoàng đế đế quốc Đường ngàn năm trước dựng lên cho Chúa Jesus chúng ta (tức Bia đá Đại Tần Cảnh giáo lưu hành Trung Quốc), linh mục Matteo Ricci đã không kịp sẻ chia thánh tích mà Chúa Jesus thông qua bàn tay những người anh em ly khai lưu lại trên đế quốc này.
Thế nhưng, tôi tin rằng Thiên Chúa toàn năng từ lâu đã dùng phương thức của Người để ban khải thị cho các bậc hiền triết Trung Hoa cổ đại. Chỉ là những kẻ môn đồ của Pythagoras tại vùng Ấn Độ (Dòng Tên từng có thời kỳ cho rằng Phật giáo và Ấn Độ giáo là chi lưu của mật giáo Pythagoras Hy Lạp), bằng những lý luận sai lầm và kiến giải tà giáo mang độc tính, đã làm vấy bẩn phúc âm của Chúa.
Điều này khiến các triết gia Nho giáo dần đánh mất lý tưởng cao cả của bậc tiền bối, mà tác hại từ kiến giải của Pythagoras đối với phái triết gia khác từng thụ nhận khải thị thì gần như không thể cứu vãn. Nó khiến những học giả vốn dĩ nên an cư trong vườn hồng chí phúc này đọa lạc thành những thuật sĩ giả kim và những kẻ sùng bái ngẫu tượng chẳng khác nào tà giáo Gnostic.
Các nguyên lão uyên bác của Lâm Cao khi đề cập đến hiện trạng đế quốc cũ, thường cho rằng người Tatar phương Bắc là kẻ thù lớn nhất của văn minh và đức tin. Họ nhắc đến vua Hung Nô Attila, nhắc đến vương triều Tatar mà người Venezia Marco Polo từng phụng sự, cùng nỗi đau xót trước việc nền văn minh đế quốc cổ xưa vĩ đại bị các dân tộc du mục tàn phá.
Với tư cách là hậu duệ quý tộc tiền triều lưu vong nơi hải ngoại, vương triều mang tên "Nguyên" này là không thể tha thứ. Nhưng trong mắt tôi, một giáo sĩ ngoại bang, tội ác không thể dung thứ nhất của người Tatar là họ đã đem tư tưởng độc hại từ các môn đồ Pythagoras tại Ấn Độ đầu độc hai con đường cứu rỗi vốn thuộc về người Trung Hoa. Điều đó khiến các trước tác kinh điển thông tuệ được thụ ơn triệu và khải thị của Nho gia cùng Đạo gia rốt cuộc biến thành quy tắc xơ cứng của tập đoàn quan lại triết gia "Mandarin" ngày nay, và biến thành thứ đồ chơi trong tay đám đạo sĩ chỉ biết đến thuật giả kim cùng phù chú gây hại cho linh hồn.
Thế nhưng, ân cứu rỗi của Chúa Kitô chúng ta đã khiến những thủ lĩnh kiệt xuất nhất của họ, vào thời điểm những kẻ dị giáo man rợ suýt nữa hủy diệt phương diện rực rỡ quang vinh nhất của đất nước này, giống như vị tiên tri trong Sách Xuất Hành năm xưa, dẫn dắt những con người ưu tú nhất tìm thấy một Jerusalem mới. Tại nơi đây, họ bảo tồn được ân cứu rỗi của Chúa chúng ta, cùng với đạo đức, truyền thống, tri thức và tôn nghiêm vẻ vang nhất của mình.
Họ cũng bảo tồn tôn giáo của chính họ, một tôn giáo chưa từng bị học thuyết độc hại của Ấn Độ làm cho vấy bẩn. Trong đó hàm chứa vô số yếu tố hợp lý chứng minh rằng nó từng bao hàm con đường cứu rỗi của Chúa Jesus, và cũng là mảnh đất màu mỡ thích hợp nhất để hạt giống của Chúa Kitô sinh sôi nảy nở, đơm hoa kết trái.
...
———————————————————————————
Ba mươi năm sau khi bộ trước tác đồ sộ này xuất bản, giữa đế quốc và giáo hội Ý đã bùng nổ cuộc "Tranh cãi Lễ nghi" lừng danh. Đầu sỏ phong kiến ngu muội thủ cựu là ngụy Giáo hoàng Clement XI đã đi ngược lại trào lưu lịch sử, ngang nhiên tuyên bố "Đại Đế Quốc Ký" là sách cấm, liệt vào Danh mục Sách cấm vùng Europa. Phong trào Đông học Tây tiệm mang ý nghĩa lịch sử cũng vì một chuỗi các biện pháp phản động của ông ta mà rơi vào suy thoái, từ đó dẫn đến việc châu Âu dần tụt lại phía sau làn sóng phát triển của lịch sử.
Trích "Lời tựa thiên Đại Đế Quốc Ký thuộc Danh mục Sách cấm của Ngụy Giáo đình La Mã".
****************************************************
Thư Trương Ứng Thần gửi cho Hà Ảnh trước lúc lên đường.
Khi Hà Ảnh nhận được thư của Trương Ứng Thần, gã lang băm cao kều này đã bước lên con thuyền hướng về khu mỏ.
Cầm văn bản mà nói là thư riêng chẳng bằng gọi là bản kế hoạch công tác này, Hà Ảnh không khỏi khâm phục dũng khí cùng năng lực hành động của gã thầy cúng.
Hắn ngồi xuống, mở bức thư ra, chậm rãi đọc lời nhắn nhủ lúc chia tay của vị Tế tửu đầu tiên kiêm Chủ tịch Hội đồng Đạo giáo Lâm Cao.
"...Sự va chạm giữa các nền văn minh dị chất, kết quả thường là cái tiến bộ tiêu diệt cái lạc hậu, cái văn minh tiêu diệt cái dã man. Cho nên ở thời đại này, Dòng Tên dễ dàng tiêu diệt các tế ty Maya ở Nam Mỹ; lùi lại ba trăm năm trước, Hồi giáo và Phật giáo Tây Tạng dễ dàng khiến hai nhánh người Mông Cổ tiếp nhận quy y. Thế nhưng, va chạm tất yếu mang lại sự giao thoa, đối với tôn giáo mà nói, việc bị truyền thống cũ của các tín đồ mới tiêm nhiễm cũng là điều khó lòng tránh khỏi.
Đồng chí Ngô Mang Thạch dường như muốn tiến hành một cuộc thử nghiệm xã hội nhằm thay đổi phong tục tập quán tại Lâm Cao, hệt như những tu sĩ Dòng Tên ở Ma Cao đang cố gắng dựng nên những nhà thờ Đức Mẹ trông chẳng khác nào miếu Quan Âm Tống Tử. Những việc như thế này, các giáo trưởng Hồi giáo ở Trung Á và Đông Nam Á, các tu sĩ Dòng Tên, Dòng Đa Minh, Dòng Phanxicô ở Nam Mỹ đều từng thử qua. Thế nhưng, không một ngoại lệ, thảy đều thất bại một cách nhục nhã.
Mục dân Trung Á vẫn tin tưởng thầy cúng Shaman, tín đồ Hồi giáo Philippines vẫn sùng bái cây thiêng, các nữ thần của Maya và Inca tiếp tục chiếm giữ vị trí trung tâm trong các nhà thờ Nam Mỹ dưới hình hài Đức Mẹ Guadalupe. Có thể thấy trước, trong công tác sau này của Văn phòng Tôn giáo, việc chống lại sự ăn mòn của văn hóa cũ sẽ là một nhiệm vụ trường kỳ và gian khổ.
Bởi vậy, cải tông, đổi đức tin, dời đổi phong tục chỉ có thể là công tác bước đầu, đúng như lời Matteo Ricci từng nói: 'Đây chỉ là phạt bớt vài nhánh gai góc trên mảnh đất hoang rậm rạp mà thôi'.
Chỉ khi tái tạo được mảnh đất dung dưỡng xã hội cũ cùng văn hóa cũ, chúng ta mới có thể thực sự đạt được mục đích của mình.
Mục đích cuối cùng của việc cải tạo đức tin là cải tạo nền văn minh, tức là chuyển hóa nền văn minh nông canh thời Trung cổ sang nền văn minh công nghiệp hiện đại. Tôi hy vọng bản thân tôi cùng người kế nhiệm có thể khắc ghi điều này, chứ không phải ngu ngốc sa vào sự tự bế và thụt lùi mang tính sùng bái giáo điều nào đó.
Thứ thuốc phiện tôn giáo mang tính ngu dân của thời Trung cổ trong ngắn hạn quả thực có lợi cho chúng ta, nhưng xét về lâu dài, chúng ta bắt buộc phải thoát khỏi tác phong kiểu Công giáo, chuyển đổi cách đầu tư ngắn hạn theo kiểu lôi kéo từng người thành sự đầu tư lâu dài và liên tục.
Giáo hội cần phải gánh vác nghĩa vụ giảng dạy. Bên cạnh việc giáo dục ý thức hệ được truyền thụ qua hình thức tôn giáo, giáo dục cơ bản mới là trọng tâm hàng đầu trong công tác của chúng ta. Những cuộc tranh luận vô vị giữa tăng lữ, giáo sĩ và giới nho sĩ vào cuối thời Minh như 'tranh cãi về dịch danh Thiên Chúa', 'tranh cãi về địa ngục thiên đường', 'tranh cãi về sự tương đồng và dị biệt giữa Thái Nhất, Hỗn Độn, Thái Cực với Lý và Thiên Chúa', chẳng qua chỉ là một hệ thống triết học Trung cổ châu Âu và một hệ thống triết học Trung cổ châu Á đang tranh giành tính chính thống cùng quyền định đoạt tiếng nói mà thôi.
Công tác của chúng ta không phải là đưa vào một thứ thuốc phiện mới nhằm tiện cho việc cai trị, mà là đóng vai trò chất xúc tác chuyển hóa xã hội cũ thành xã hội mới. Chúng ta cũng không phải lập ra một thứ bình mới rượu cũ, dùng thần mới để thay thế thần cũ, mà là mượn bàn tay thần mới để từng bước gặm nhấm căn cơ tồn tại của thần quyền. Thế tục hóa và giản dị hóa tôn giáo là biểu hiện tiến bộ xã hội của thế kỷ mười bảy, chúng ta phải dẫn dắt trào lưu mới này, chứ không phải trên cơ sở lật đổ các nghi lễ cũ lại chồng thêm một mớ lễ nghi phiền toái mới, càng không phải biến việc sùng bái tự nhiên thành sự sùng bái máy móc vô vị và chẳng đâu vào đâu.
Sinh thời, e rằng tôi không thể không dung hòa đôi chút với đức tin của thế giới cũ. Trong tu viện Lâm Cao có lẽ sẽ nảy sinh đủ loại ** của thế kỷ mười bảy, trong Hội đồng Đạo giáo e rằng sẽ xuất hiện phái Chân Quân Hàng Lâm phục cổ kích động hoặc phiên bản Đạo giáo của Hội Hoàng Kim Bình Minh. Nhưng nhất thiết phải nắm thật chắc công tác giáo dục, chỉ có một thế giới văn minh thế tục hóa triệt để mới có thể từ gốc rễ chặt đứt bóng ma thời Trung cổ.
Giờ phút này chớ học theo vị Giang Châu tư mã, để vạt áo xanh đẫm lệ thì e quá đỗi khó coi, hãy để chúng ta noi theo vị thánh nhân xứ Vấn Xuyên nọ, cất cao một tiếng 'hãy rót cho ta một chén rượu tiễn hành', dấn bước vào chuyến mạo hiểm thuộc về tôi và chư vị.
Chúc tôi thuận buồm xuôi gió nhé, người bạn già."
(Hết chương)
