Chương 1125
Chương 1125: Điểm thi đại học có rồi!
Đăng ngày 01/10/2026
19
Trong văn phòng, Chu Dương gác máy xong liền rơi vào trầm tư.
Với hắn, rót vốn vào địa bàn của đám "lạc đà" Trung Đông chưa bao giờ chỉ đơn thuần là để kiếm tiền. Suy cho cùng, nơi kiếm ra tiền trên thế giới này nhiều vô kể, chẳng việc gì phải vì dăm ba đồng bạc cắc mà đâm đầu vào chốn sa mạc bom đạn ngập trời chịu khổ.
Sở dĩ hắn kiên quyết muốn đầu tư vào Trung Đông như vậy, thậm chí còn tiếp tục tăng thêm hạn mức đầu tư giữa tình thế ngặt nghèo này, chủ yếu là muốn vươn vòi sang đó, dọn đường cho kế hoạch tiếp theo của mình.
Kế hoạch kế tiếp của Chu Dương chủ yếu nhắm vào ngành công nghiệp quân sự cả nước vốn sắp rơi vào bước đường cùng. Dù hắn đã dốc sức thúc đẩy kế hoạch "chuyển từ quân sự sang dân sự", giành giật cơ hội sống sót cho hàng vạn doanh nghiệp quốc phòng,
nhưng đối tượng lần này suy cho cùng vẫn là các đơn vị quân giới, không phải bên nào cũng thích hợp chuyển sang làm hàng dân dụng. Chẳng hạn như đơn vị chuyên đúc đại bác, thứ này có cải tiến đằng trời cũng đâu thể bán cho dân thường dùng được!
Cho nên, muốn tháo gỡ thế bế tắc cho các xí nghiệp quân công trong nước, ngoài việc đẩy mạnh chuyển đổi sang dân sự, còn phải tìm cho họ một lối thoát khác: xuất khẩu vũ khí!
Nói trắng ra là bán các sản phẩm quân sự của nước mình ra nước ngoài, vừa thu về ngoại tệ, vừa tạo đơn hàng nuôi sống các xí nghiệp quốc phòng trong nước.
Thế nhưng buôn bán vũ khí chưa bao giờ là chuyện dễ dàng. Trước hết anh phải có khách hàng, hơn nữa còn phải giành được sự tin tưởng từ họ.
Mà lúc này ai là kẻ khát vũ khí nhất trên thế giới?
Chẳng còn nghi ngờ gì nữa, chính là đám "lạc đà" ngày nào cũng đem "pháo hoa" ra đốt kia. Vì thế, kế hoạch tiếp theo của Chu Dương chính là tuồn vũ khí cho đám lạc đà đó.
Sở dĩ Chu Dương dám làm, lại còn tự tin sẽ làm tốt, phần lớn là nhờ hắn biết kiếp trước quốc gia cũng từng đi nước cờ này.
Dù có rành giai đoạn lịch sử này hay không, hẳn nhiều người cũng từng nghe qua một câu: "Thỏ là kẻ thắng đậm nhất trong chiến tranh Iran - Iraq."
Câu này nghe chừng hơi quá, nhưng ngẫm kỹ thì chẳng sai chút nào!
Bắt đầu từ năm 1981, bên lạc đà Saddam đã lần lượt mua của nước ta gần 3.100 chiếc xe tăng các loại, chủ yếu là dòng Type 69-II được phát triển từ Type 69. Ngoài xe tăng chiến đấu chủ lực, bên Saddam còn thông qua nhiều con đường để nhập về hàng loạt vũ khí hạng nặng lẫn hạng nhẹ, bao gồm pháo nòng dài 130mm Type 59-1, súng máy Type 67-2, súng trường bán tự động Type 56...
Do giai đoạn đầu chiến tranh Iran - Iraq diễn ra vô cùng ác liệt, số lượng vũ khí lạc đà Saddam gom về cực kỳ khủng khiếp, lại có thêm nguồn tài chính dồi dào từ các nước anh em trong khối đồng minh hậu thuẫn nên thanh toán tiền nong rất sòng phẳng. Nhìn chung, hai bên hợp tác vô cùng vui vẻ.
Thế nhưng khi số vũ khí này được đem ra thực chiến, bên lạc đà Iran lập tức nhận ra đối thủ đã có nguồn tiếp tế trang bị mới. Qua thu thập chiến lợi phẩm và trinh sát trận địa, họ phát hiện nguồn gốc số vũ khí này chính là từ Thỏ.
Thế là sau khi thăm dò tiếp cận, lạc đà Iran cũng thông qua bên thứ ba trung chuyển để đặt mua hàng loạt khí tài từ nước ta, bao gồm xe bọc thép Type 63, pháo phản lực 107mm Type 63, pháo nòng dài 130mm Type 59-1.
Thậm chí đến năm 1988, họ còn đặt mua 30 chiếc tiêm kích J-7N. Chỉ vì lô tiêm kích này bàn giao sau khi chiến tranh Iran - Iraq kết thúc, nên mới không xảy ra cảnh tượng J-7 của hai bên quần thảo nhau trên bầu trời vịnh Ba Tư.
Cứ như vậy, trong suốt 8 năm diễn ra cuộc chiến này, kim ngạch xuất khẩu vũ khí hàng năm của nước ta chưa bao giờ dưới 1,2 tỷ USD. Vào những năm đỉnh cao như 1986 và 1987, con số này thậm chí còn chạm mốc kỷ lục 2,2 tỷ và 2,4 tỷ USD.
Tính sơ sơ trong 8 năm đó, tổng kim ngạch xuất khẩu quân sự sang đám lạc đà rơi vào khoảng 13 tỷ USD.
Tất nhiên, đó mới chỉ là một phần. Ví dụ như năm 1983, trong nước còn xuất khẩu 2 tàu hộ vệ Type 053HE, rồi năm 1987 và 1988 xuất sang Ba Thiết tổng cộng 60 chiếc tiêm kích J-7, năm 1988 bán cho xứ Chùa Vàng 50 chiếc xe tăng Type 69-II... Tất cả những khoản đó đều chưa tính vào.
Đấy là nguồn thu lên tới hơn chục tỷ đô chứ chẳng đùa! Trong bối cảnh kinh tế lúc bấy giờ, số tiền này đối với ngành công nghiệp quân sự nước nhà tuyệt đối là chiếc phao cứu sinh đúng lúc nhất.
Đương nhiên, cái lợi của việc xuất khẩu vũ khí không chỉ dừng lại ở tiền bạc. Đối với cả nền công nghiệp quốc phòng, lợi ích thu về là vô số kể: ngoài nguồn vốn khổng lồ để tự phát triển, họ còn tích lũy được những kinh nghiệm tác chiến quý giá mà quy trình sản xuất vũ khí khép kín trong nước trước đây không thể nào có được.
Kinh nghiệm này không đơn thuần chỉ là việc Tập đoàn Máy bay Thành Đô thông qua các cuộc trao đổi với các nước tham chiến để nắm bắt hướng phát triển dòng J-7. Nó còn giúp trong nước nắm rõ toàn bộ các vấn đề thường gặp và những cái bẫy tinh vi trong các thương vụ mua bán vũ khí quốc tế, tránh được những tổn thất nặng nề về sau.
Lấy ví dụ vào giữa thập niên 90, Đại Mao từng chào bán dòng tiêm kích Su-30 cho nước ta, còn khẳng định công nghệ Su-30 "cơ bản đã nghiên cứu xong, chỉ cần rót thêm chút vốn là hoàn thiện ngay".
Tuy nhiên, Tập đoàn Công nghiệp Hàng không Trung Quốc nhờ từng trải qua thương vụ "hồi sinh" dòng J-7IIA sắp thất bại thành tiêm kích J-7M để xuất khẩu, nên hiểu quá rõ những rủi ro ẩn sau lời đường mật của Đại Mao. Cuối cùng, họ đã khéo léo từ chối lời đề nghị hợp tác bẫy người này.
Có thể nói, chính chiến tranh Iran - Iraq đã cứu sống ngành công nghiệp quốc phòng nước nhà, đồng thời mang lại nguồn ngoại tệ vô giá cho giai đoạn đầu của công cuộc cải cách mở cửa.
Đáng tiếc là năm xưa vì đủ mọi mối lo ngại, những bước đi xuất khẩu quân giới của ta không dám vung tay quá trán, để lỡ mất không ít thị trường béo bở.
Bây giờ việc Chu Dương cần làm là đi trước một bước, dẹp bỏ hết những âu lo của cấp trên, sớm tìm ra một lối thoát sáng sủa cho ngành quân giới nước nhà.
Song hiện tại, trong nước vẫn chưa có nguyên tắc rõ ràng về việc xuất khẩu vũ khí trang bị ra bên ngoài, chủ yếu vẫn áp dụng phương châm viện trợ quân sự, ràng buộc còn rất nhiều.
Bởi vậy Chu Dương mới không nói toạc ra với Lục Chính Quân. Đợi khi hắn bố trí xong xuôi mọi chuyện bên đó rồi trực tiếp báo cáo với Khương lão, chuyện này khéo lại xuôi chèo mát mái!
Đang lúc Chu Dương chìm trong suy nghĩ, chiếc loa phát thanh trong thôn bỗng vang lên, tiếp theo là giọng nói quen thuộc của Vương Bình: "Bà con xã viên và các đồng chí thanh niên trí thức tham gia thi đại học chú ý... Các xã viên và thanh niên trí thức tham gia thi đại học chú ý! Những đồng chí có tên sau đây mau chóng tới văn phòng đại đội để nhận giấy báo khám sức khỏe: Hồ Tuấn, Dương Khả Hân, Trương Minh Kiệt, Dương Lộ Lộ, Lưu Ngữ Hi, Khang Duyệt, Vương Na, Vương Bình..."
Nghe thấy tiếng loa réo rắt, Chu Dương biết ngay là đã có điểm thi đại học rồi.
Tuy chưa rõ điểm số cụ thể của các sĩ tử trong thôn năm nay ra sao, nhưng nghe điểm danh một tràng dài thế này, xem chừng kết quả khá khả quan.
Dù sao thì chỉ cần cầm được giấy báo khám sức khỏe trên tay là đã qua được ải thi văn hóa, còn lại chỉ phụ thuộc vào khâu khám sức khỏe và thẩm tra chính trị nữa thôi.
Nếu hai khâu này cũng trót lọt thì coi như chắc suất vào đại học rồi.
Nghĩ đến đây, Chu Dương lập tức gọi Trần Bắc Huyền, hai người vội vã chạy sang văn phòng đại đội.
Đến nơi, bên trong đã đông nghịt người, bà con đang xúm quanh người đưa thư Lương Tiểu Bình rôm rả trò chuyện.
Có điều lúc này trong văn phòng đại đội hầu hết đều là cán bộ thôn, gồm Lý Kiến Quốc, Trương Căn Vượng, Lương Phong, thậm chí Chu Dương còn thấy cả bố vợ Lý Phong Niên. Nhìn dáng vẻ này, tám phần mười là họ vừa mới họp xong.
Còn đám xã viên thường với thanh niên trí thức thì Chu Dương chưa thấy bóng dáng ai, rõ ràng là họ vẫn chưa kịp chạy tới.
Dù sao hai cẳng chân người chạy thế nào lại được bốn bánh xe!
Ở phòng phát thanh kế bên, tiếng Vương Bình vẫn sang sảng đọc loa thông báo cho những ai đỗ đại học đến nhận giấy báo.
Nhìn thấy Chu Dương, Lý Phong Niên liền vẫy tay gọi!
Chu Dương bước nhanh tới hỏi: "Bố, năm nay làng mình thi cử thế nào ạ?"
Lý Phong Niên toe toét cười: "Khá lắm con ạ! Đợt đầu tiên đã có 112 đứa nhận được giấy báo khám sức khỏe, đỗ hệ đại học chính quy hơn 70 đứa. Cứ đà này thì chí ít cũng phải đỗ được một nửa!"
Nghe vậy, Chu Dương cũng thở phào nhẹ nhõm.
Hắn vốn không đặt kỳ vọng quá cao vào lứa thí sinh này, đỗ được một nửa đã là thành tích ngoài mong đợi rồi.
Nên nhớ tỷ lệ trúng tuyển trung bình cả nước chỉ tầm 7%, thôn bọn họ đạt tỷ lệ tới 50% thì đúng là kỳ tích thi cử chứ còn gì nữa.
Cứ theo đà này, khéo giáo dục lại trở thành một ngành mũi nhọn mới của thôn Bát Bảo Lương, chẳng khác nào cái nôi luyện thi Hành Thủy ở mạn nam Hà Bắc hay Mao Thản Xưởng giữa đất An Huy sau này.
Nghĩ đến đó, ánh mắt Chu Dương bất giác sâu thẳm lại...
........
