Chương 1327
Chương 1327: Các dự án đua nhau triển khai!
Đăng ngày 01/10/2026
19
Chu Dương từ Băng Thành trở về, kéo theo một lượng lớn cán bộ nghiên cứu đổ về, công việc của Viện nghiên cứu 18 nhanh chóng vào guồng với tốc độ chóng mặt.
Về mặt xây dựng cơ sở hạ tầng, nhờ có hơn năm nghìn chiến sĩ của gần ba trung đoàn công binh ngày đêm thi công căng thẳng, cộng thêm nguồn vốn dồi dào, các công trình lớn trực thuộc viện nghiên cứu lần lượt mọc lên.
Cứ mỗi một viện nghiên cứu trực thuộc xây xong, lại có một đợt cán bộ công nhân viên chuyển từ trụ sở chính ra ngoài.
Tương ứng với đó, diện tích của thôn Bát Bảo Lương lại nở rộng thêm một khoảng.
Cùng lúc, số cán bộ công nhân viên cùng gia quyến do cấp trên điều động tới Viện nghiên cứu 18 lục tục kéo đến, cộng với những người đi công tác biệt phái của Viện nghiên cứu Bát Bảo Lương trước kia lần lượt quay về, quân số của đơn vị tăng vọt, dân số thường trú trong thôn cũng tăng mạnh từng ngày.
Cơ mà có bọn Lương Thạch, Lưu Viễn, Khương Thành Tài đỡ đần, mấy việc này chẳng mấy khi Chu Dương phải bận tâm. Giờ hắn chỉ cần lo cho chu toàn mảng nghiên cứu khoa học là đủ.
Khi bước phát triển của viện đi vào quỹ đạo, các viện trực thuộc cũng rục rịch khởi động, hàng loạt dự án thi nhau lên bệ phóng.
Bên cạnh việc Lâm Nghị dắt nhóm nghiên cứu cắm chốt ở nhà máy máy kéo thành phố Ninh để bắt tay làm ô tô, thì dưới sự chủ trì trực tiếp của Chu Dương, hai dự án lớn của viện thiết kế máy bay là trực thăng vũ trang và tiêm kích thế hệ ba cũng chính thức bắt đầu.
Sau một hồi bàn bạc tính toán, Chu Dương chính thức bổ nhiệm Hoàng Chinh của Xưởng chế tạo máy bay Thường Châu làm tổng công trình sư dự án trực thăng vũ trang. Bọn Cao Đình Diệp, Tăng An Ninh, Lý Ái Bình, Hồ Học Binh, Hầu Văn Siêu bên Viện nghiên cứu 18 đều được hắn xếp vào ban dự án này.
Đồng thời, phi đội trực thăng mới thành lập của Viện nghiên cứu 18 cũng điều bốn chiếc máy bay Sơn Ưng sang cho ban dự án.
Theo chỉ tiêu Chu Dương giao, tính từ ngày thành lập, trong vòng nửa năm phải xong phương án hoán cải trực thăng vũ trang, nếu hệ thống vũ khí không vướng mắc gì thì trong vòng một năm phải hoàn tất việc cải tạo thực tế.
Để phối hợp với dự án này, Chu Dương còn liên hệ bên Nhà máy Cơ khí 2, lập trước ban nghiên cứu phát triển tên lửa không đối không.
Dự án này do Kiều Nhất Sơn, Phó tổng chỉ huy bộ phận nghiên cứu tên lửa chiến thuật của Nhà máy Cơ khí 2 làm trưởng ban, Vương Học Dân - Viện trưởng Viện tên lửa thuộc Viện nghiên cứu 18 làm cấp phó. Nhiệm vụ của họ ngoài việc nghiên cứu thiết kế tên lửa không đối không phù hợp với trực thăng vũ trang, còn phải cải tiến tên lửa chống tăng để lắp lên các phương tiện cơ giới.
Tất nhiên, dự án quan trọng nhất và giữ cấp độ bảo mật cao nhất của Viện nghiên cứu 18 vẫn là tiêm kích thế hệ ba. Đây là thứ vũ khí tối thượng để bảo vệ bầu trời, làm chủ không gian chiến lược mai sau, chuẩn chỉnh là trọng khí của quốc gia.
Vì quá đỗi then chốt và độ khó ngút trời, Chu Dương đích thân ngồi ghế tổng công trình sư, Cổ Chấn Hoa và Dương Hoài Đức làm phó tổng.
Ngoài ra, những người như Kỳ Đồng Quang, Dương Vệ Đông, Quách Tố Bình cũng được phân vào ban dự án này.
Để bắt nhịp với đề án, Chu Dương lệnh cho Viện nghiên cứu radar lập tức triển khai nghiên cứu mẫu radar mới lắp trên máy bay.
Tiêm kích thế hệ ba sở dĩ vượt trội, ngoài độ cơ động và linh hoạt cực cao, điều cốt tử là phải có năng lực đánh ngoài tầm nhìn, mà cái này lại đòi hỏi công nghệ radar và hệ thống điện tử hàng không phải cực kỳ tân tiến.
Phần lớn radar trong nước lúc này tính năng đều quá đỗi lạc hậu. Nhìn quanh quẩn chỉ có mẫu radar xung Doppler mà Viện nghiên cứu Bát Bảo Lương làm thành công cách đây hai năm là tạm dùng được.
Thế nhưng trong mắt Chu Dương, tính năng của radar gắn trên máy bay kiểu 888 cũng chỉ ngang ngửa với mẫu radar kiểu 1473 trên nguyên mẫu tiêm kích J-10 đời trước, lắp vào bay tạm thì được.
Nhưng thực tế chứng minh, loại radar xung Doppler này chỉ đạt mức thường thường bậc trung. Lúc kẹt nước thì chắp vá dùng đỡ, chứ muốn kết hợp với tiêm kích thế hệ ba để dẫn đầu đối thủ thì gần như là chuyện viển vông.
Điểm này thì nguyên mẫu J-10 ở kiếp trước đã chứng minh rành rành.
Thành ra đến năm 2009, nước mình mới thay radar trên J-10B sang loại mảng pha quét điện tử thụ động, tức radar mảng pha quét điện tử chủ động kiểu JKL-24.
Biết rõ những chuyện đó nên Chu Dương chẳng muốn chắp vá, cũng không muốn đi đường vòng, ý định của hắn là quất thẳng lên radar mảng pha thụ động.
Dẫu vậy hắn cũng thừa hiểu, với trình độ khoa học kỹ thuật hiện giờ trong nước, muốn đụng vào radar mảng pha chủ động thì khó khăn trăm bề, nói thẳng ra là bất khả thi.
Thực tế khâu thiết kế radar mảng pha chủ động không quá phức tạp, chỉ cần cho Chu Dương thời gian, hắn tự tin với dàn nhân sự hiện tại có thể hoàn thành bản vẽ, thậm chí là bản vẽ của loại radar mảng pha chủ động hiện đại bậc nhất thế giới ở kiếp trước.
Nhưng cái khó nhất của dòng radar này không nằm ở thiết kế, mà nằm ở khâu sản xuất cực kỳ trầy trật cùng giá thành chế tạo đắt đỏ.
Sau mỗi ăng-ten nhỏ của radar mảng pha chủ động đều tương ứng với một cụm mô-đun T/R độc lập, mà một bộ radar gắn trên máy bay chiến đấu cần tới hàng trăm, thậm chí hàng nghìn cụm T/R như thế. Rào cản lớn nhất khi chế tạo chính là làm sao sản xuất hàng loạt các cụm T/R này ở quy mô công nghiệp.
Cụ thể hơn là làm thế nào để kiểm soát chất lượng hiệu quả khi đúc hàng loạt các cụm T/R, làm sao hạ giá thành từng cụm để kéo giá thành chung của bộ radar xuống, giúp nó được đưa vào sử dụng rộng rãi.
Mấy bài toán này dẫu có lùi lại ba bốn mươi năm sau vẫn là ngõ cụt với đại đa số quốc gia. Thành thử trước lúc Chu Dương trọng sinh, trên toàn cầu chỉ có vài ba nước như nước mình, Mỹ hay Pháp là tự lực cánh sinh nghiên cứu chế tạo nổi radar mảng pha chủ động, còn hầu hết các nước khác hễ động tay vào là dính ngay cái bẫy tỷ lệ phế phẩm quá cao của cụm T/R.
Bởi vậy sau một hồi cân nhắc, cuối cùng Chu Dương quyết định tạm thời gác radar mảng pha chủ động sang một bên, làm radar mảng pha thụ động trước.
Dù tính năng của radar mảng pha thụ động có kém hơn bản chủ động một bậc, nhưng độ khó nghiên cứu phát triển lại dễ thở hơn nhiều.
Đương nhiên, so với mặt bằng kỹ thuật trong nước lúc này thì nó vẫn thuộc hàng độ khó địa ngục, nhưng ít ra không phải là chuyện không tưởng.
Quan trọng hơn cả là kiếp trước Chu Dương từng dắt nhóm nghiên cứu tham gia chế tạo một mẫu radar mảng pha thụ động gắn trên máy bay, thậm chí đã thành công và đưa vào trang bị cho mẫu J-10 cải tiến.
Chỉ tiếc là vào thời điểm đó, mẫu radar này không còn đáp ứng nổi yêu cầu tác chiến của quân đội, thực tế thử nghiệm phía không quân không ưng bụng. Thành ra mẫu J-10 cải tiến chỉ sản xuất vỏn vẹn năm mươi chiếc là bị tuýt còi dừng khẩn cấp để tiếp tục nâng cấp.
Về sau, bản J-10C nâng cấp mới được thay thế toàn bộ bằng loại radar mảng pha chủ động JKL-24 tối tân hơn.
Cơ mà lúc này mới là năm 1979, chế tạo ra được radar mảng pha thụ động ở thời điểm này thì đúng là đòn quyết định bẻ gãy mọi đối thủ.
Về dự án radar mảng pha thụ động, Chu Dương dự tính giao cho Quách Á Dân chủ trì. Dù thầy mình tuổi tác đã cao, nhưng chỉ cần ông già không đụng vào món thịt đầu heo thì sức khỏe vẫn cứ là ngon lành.
Điều mấu chốt là trong cả viện nghiên cứu, chỉ có ông thầy là hiểu hắn nhất, hai thầy trò phối hợp ăn ý nhất trần đời.
Rất nhiều phương án thiết kế người khác nhìn vào chỉ thấy toàn khó khăn, còn Quách lão xem xong việc đầu tiên là nghĩ cách làm sao để hiện thực hóa nó, khoảng cách đẳng cấp nằm ở chỗ ấy.
Tiếc là giờ ông đang cắm chốt ở Viện 6 Không quân, nên Chu Dương quyết định để Trần Sơn Hà tạm thời cáng đáng giai đoạn đầu, đợi dự án máy bay cảnh báo sớm xong xuôi thì Quách Á Dân sẽ về tiếp quản phần nghiên cứu tiếp theo.
Bên cạnh đó, Viện nghiên cứu radar còn một dự án nữa cần triển khai ngay, đó là phát triển radar cảnh giới đối không cho tàu khu trục 051.
Với dự án này Chu Dương cũng vô cùng coi trọng. Nếu tiêm kích thế hệ ba là tương lai của không quân, thì chiến hạm 051 lại là chấp niệm cả đời của hải quân.
Nói một cách khách quan thì theo góc nhìn của Chu Dương, con tàu 051 hiện tại dù có gắn thêm radar và thiết bị điện tử hiện đại thì tổng thể vẫn chẳng thể gọi là tiên tiến.
Suy cho cùng phần khung của dòng chiến hạm này vốn dĩ đã không ngon nghẻ, nó rập khuôn theo thiết kế thân tàu có tỷ lệ chiều dài trên chiều rộng lớn của lớp khu trục Kotlin thời Liên Xô, khiến thân tàu vừa dài ngoẵng vừa hẹp, không gian bên trong thiếu thốn trầm trọng.
Nó không những bó hẹp việc bố trí hệ thống vũ khí, mà điều kiện ăn ở sinh hoạt của thủy thủ đoàn cũng cực kỳ tồi tàn. Đã vậy thời gian nghiên cứu kéo dài lê thê, thành ra vừa vào biên chế đã lỗi thời, đóng được nhóm bảy chiếc đầu tiên là dừng luôn không làm tiếp nữa.
Song không ai có thể phủ nhận, đó đã là giới hạn tốt nhất mà nước mình có thể làm được ở giai đoạn bấy giờ.
Đồng thời, để hoàn thành việc phát triển các thiết bị điện tử, hơn chục viện nghiên cứu và nhà máy trên khắp cả nước đã lần mò từng bước một, đi trọn vẹn cả chặng đường trong điều kiện dự trữ kỹ thuật vô cùng nghèo nàn, tích lũy được những kinh nghiệm xương máu quý báu.
Cũng chính từ dòng 051, nước mình mới dần xây dựng được hệ thống nghiên cứu và sản xuất tàu chiến hoàn chỉnh. Được góp một mắt xích quan trọng trong công trình quốc gia này, Chu Dương cảm thấy vô cùng vinh hạnh.
Bởi vậy, hắn cắt cử Ngưu Vĩ Đồng làm tổng phụ trách mảng radar cảnh giới đối không, Diêm Hải Sinh làm trợ lý nghiên cứu.
Song song đó, để tạo bãi thử nghiệm phù hợp cho mẫu radar này, Chu Dương còn điều hẳn một đại đội công binh đến hồ Sát Nhĩ ở mạn đông nam huyện Vân Sơn, dựng thao trường thử nghiệm và đóng một chiếc thuyền vỏ gỗ cỡ lớn để mô phỏng chiến hạm của hải quân!
Dưới sự chung tay của khắp các ban bệ phòng ban, cỗ máy khổng lồ Viện nghiên cứu 18 rốt cuộc đã bắt đầu guồng quay hết tốc lực...
.........
