Chương 626
Chương 626: Mục tiêu——371
Đăng ngày 01/10/2026
19
Ăn cơm xong, Chu Dương về văn phòng, chính thức bắt tay nghiên cứu việc lập dự án radar ngắm bắn pháo.
Dù loại radar này trong mắt Nhiếp lão chỉ là "món đồ chơi nhỏ", chẳng khơi nổi chút hứng thú nào.
Bởi theo ông cụ, chỉ có radar cảnh báo tầm siêu xa như 7010 hay radar xung Doppler đỉnh cao mới xứng là "hàng khủng", mới thật sự là vũ khí trọng yếu của quốc gia.
Thế nhưng trong mắt Chu Dương, tầm quan trọng của radar ngắm bắn pháo chẳng hề kém cạnh radar điều khiển hỏa lực trên máy bay, thậm chí còn hơn thế nhiều!
Lý do cũng đơn giản: gấp gáp lắm rồi!
Cần biết rằng, dù là radar hay bất kỳ vũ khí trang bị nào khác, ý nghĩa tồn tại của nó chính là phục vụ chiến tranh.
Nếu không có gì bất ngờ, ba năm nữa sẽ nổ ra một cuộc chiến tranh biên giới, chính là cuộc phản công tự vệ nhắm vào lũ khỉ phương Nam.
Tuy đối thủ yếu hơn quân Liên Hợp Quốc hơn hai mươi năm trước tới mười vạn tám nghìn dặm, thậm chí từ lúc mở màn đến khi kết thúc, địch chưa từng chọc thủng nổi phòng tuyến biên giới của quân ta, trái lại còn bị đánh tới mức phải tuyên bố dời đô.
Thế nhưng trận này đánh vẫn vô cùng gian nan, thương vong cũng vượt xa dự tính của quân ta.
Trong suốt cuộc chiến, số lần ta thực sự xuất kích máy bay tiêm kích giao chiến trên không với đối phương rất ít, phần lớn thời gian đều là đánh du kích trong rừng rậm và giằng co công thủ công sự.
Cho nên, so với radar xung Doppler trên máy bay, tần suất sử dụng radar ngắm bắn pháo cao hơn nhiều, phát huy tác dụng trong chiến tranh cũng lớn hơn hẳn!
Tất nhiên, sở dĩ bảo gấp gáp, chủ yếu vẫn là vì radar ngắm bắn pháo trong nước quá mức lạc hậu.
Mà sở dĩ lạc hậu, một phần là do trình độ kỹ thuật, nhưng cũng có phần vì chưa đủ coi trọng.
Bởi lẽ món "công nghệ đen" như radar ngắm bắn pháo ra đời, hoàn toàn là do phương Tây do Âu-Mỹ cầm đầu nghiên cứu để đối phó quân ta, hệ thống radar này ngay từ đầu đã lấy pháo binh của ta làm hệ quy chiếu.
Nhắc tới chuyện này thì phải kể về cuộc chiến tranh trên bán đảo Triều Tiên hồi đầu lập quốc. Ấn tượng đầu tiên của mọi người về quân tình nguyện thường là "bột xào cõng súng trường", dùng trang bị thô sơ đối đầu với quân Liên Hợp Quốc vũ trang tận răng.
Nhưng thực tế, quân tình nguyện cũng cực kỳ coi trọng pháo binh, chỉ là những "bảo bối" như lựu pháo hay pháo phản lực quả thực không đủ dùng.
Thế nhưng những thứ như pháo không giật, súng cối — các loại pháo gọn nhẹ yểm trợ hành quân mà hồi đó ta có thể tự sản xuất và bảo đảm đạn dược — thì lính ngoài tiền tuyến cứ việc "xả láng".
Có một con số e rằng nhiều người không ngờ tới: trong giai đoạn đánh công sự, biên chế pháo hạng nhẹ cấp trung đoàn, tiểu đoàn của quân tình nguyện thậm chí còn nhiều hơn cả "quân Liên Hợp Quốc".
Đến phong trào "bắn tỉa tỉa pháo", "quân Liên Hợp Quốc" hoàn toàn chịu không thấu, bởi trình độ súng cối của quân tình nguyện phải gọi là đạt tới độ xuất quỷ nhập thần.
Mấy trò bắn chay không giá pháo, một khẩu bắn loạt trúng cùng lúc chỉ là "thao tác cơ bản", còn bắn cự ly siêu gần tới giới hạn, phóng bộc phá các kiểu... đều được nâng tầm thành "nghệ thuật biểu diễn".
Quân tình nguyện thậm chí còn từng dùng súng cối như súng bắn tỉa, một người một khẩu pháo tương đương cả một đội quân, một trận diệt cả trăm tên địch, phim cũng chẳng dám diễn như thế, đủ thấy thực lực pháo binh của quân tình nguyện khủng khiếp thế nào. (Đồng chí nào tò mò có thể tìm kiếm về cụ Đường Hồng Chương)
Hồi ấy, việc định vị trận địa pháo đối phương chủ yếu dựa vào quan sát bằng mắt thường từ tiền duyên và giao hội đo âm thanh, phương tiện cực kỳ lạc hậu.
Quan trọng nhất là khói lửa đầu nòng súng cối không rõ ràng, tiếng nổ cũng chẳng lớn, "quân Liên Hợp Quốc" bị đập tơi bời muốn trả đũa cũng chẳng biết nhắm vào đâu.
Cơ bản là sáng vừa ăn bom đạn, quân Liên Hợp Quốc gọi pháo tầm xa với không quân yểm trợ dập loạn xạ một hồi, đến chiều lại tiếp tục ăn đòn.
Thế là các nước phương Tây nếm đủ đắng cay liền hạ quyết tâm phát huy ưu thế kỹ nghệ, làm ra một món "công nghệ đen" để khỏi bị dạy cho bài học nhớ đời nữa.
Đầu tiên là Công ty General Electric bên Mỹ mày mò chế ra radar định vị trinh sát súng cối tầm gần AN/MPQ-4 vào năm 1957, tiếp đó Công ty Điện tử Thorn của Anh lại tung ra radar "Green Archer" vào năm 1962.
Tuy ta cũng làm ra radar trinh sát pháo binh 370 và 372, nhưng phản ứng quá chậm chạp, đợi tới lúc xác định xong vị trí thì người ta đã chuồn mất hút, khả năng thực chiến quá kém.
Bởi vậy, lần này Chu Dương muốn nghiên cứu một mẫu siêu radar trinh sát pháo binh có thể đè bẹp pháo binh của lũ khỉ phương Nam!
Trong đầu Chu Dương hiện ra vài loại radar trinh sát pháo binh, cả hàng nội địa lẫn hàng nhập khẩu.
Hàng ngoại loại cũ hơn thì có radar trinh sát súng cối tầm gần "Cymbeline" do Anh - Đức liên doanh nghiên cứu, hay như radar AN/TPQ-37, radar pháo binh kiểu AN/TPQ-48/49 của Mỹ.
Còn đồ trong nước thì càng nhiều hơn, ví dụ như bản cải tiến trong nước của Cymbeline là 371, các hệ thống radar trinh sát pháo binh dòng SLC-2, BL-904 và YLC-48, bao quát trọn vẹn cả tầm xa, tầm trung lẫn tầm gần.
Những loại radar này ở kiếp trước Chu Dương hoặc từng nghiên cứu chuyên sâu, hoặc từng chỉ đạo sao chép chế tạo, phần lớn đều nắm rất rõ, kỹ thuật then chốt cũng biết tỏng.
Nếu thực sự muốn làm, cơ bản đều làm ra được hết.
Nhưng rốt cuộc nên nghiên cứu mẫu nào, bắt buộc phải tính toán cho kỹ.
Radar cái thứ này không phải tính năng càng tân tiến là càng tốt, còn phải cân nhắc tới tình hình đất nước.
Lúc này, Chu Dương cúi người bên bàn làm việc, suy ngẫm kỹ càng về tình hình trang bị của bộ đội trong nước cũng như năng lực sản xuất của ngành công nghiệp quốc phòng.
Đồng thời cũng phải tính đến chất lượng tân binh, ngân sách quốc gia các kiểu.
Không những thế, còn phải phân tích tình hình của đối thủ là nước khỉ phương Nam, rốt cuộc hắn nghiên cứu loại radar này là để trừng trị lũ khỉ nhảy nhót lung tung kia, phải bốc đúng thuốc mới trị được bệnh.
Chẳng mấy chốc, tờ giấy nháp trước mặt đã viết kín các yếu tố then chốt.
Sau khi phân tích, Chu Dương nhận định thứ trong nước đang cấp bách cần lúc này là một mẫu radar trinh sát pháo binh tầm gần có tính năng vượt trội, chủ yếu dùng để đối phó với súng cối và lựu pháo, chứ không phải tên lửa đạn đạo.
Hơn nữa mẫu radar này còn phải đáp ứng tiêu chí dễ thao tác, giá thành rẻ, tiện sản xuất và trang bị vào biên chế nhanh chóng.
Phải biết từ giờ tới khi chiến tranh nổ ra, tính đi tính lại cũng chỉ còn tròn ba năm.
Trong khoảng thời gian ngắn ngủi ấy, không những phải hoàn thành nghiên cứu trang bị, mà còn phải qua nghiệm thu của quân đội rồi trang bị cho các đơn vị, quan trọng hơn là phải để bộ đội tiền tuyến thao tác thuần thục, điều này chẳng hề dễ dàng chút nào.
Phức tạp quá cũng không xong, chẳng ai dùng nổi.
Dù sao thì lính tráng trong quân ngũ lúc này chẳng có mấy ai là sinh viên đại học, thậm chí có bằng cấp ba người ta cũng chẳng đi nghĩa vụ, vác một hệ thống phức tạp ra chẳng phải làm khó người ta sao.
Tổng hợp các yêu cầu ấy, Chu Dương nghĩ ngay tới radar AN/TPQ-37 của Mỹ và bản cải tiến nội địa của nó là radar định vị quỹ đạo kiểu 373.
Hai mẫu radar này là loại sau sao chép loại trước, nhìn bề ngoài cứ như bản chính hãng với hàng nhái, nhưng thực tế tính năng lại thuộc dạng trò giỏi hơn thầy.
Xét về tính năng, cả hai loại đều đáp ứng thừa thãi nhu cầu chiến trường, hoàn toàn có thể nghiền nát đám pháo cà tàng của nước khỉ phương Nam.
Thế nhưng... cả hai mẫu này đều dùng cấu trúc mảng pha quét chủ động thể rắn, vào thời điểm hiện tại tuyệt đối là kỹ nghệ đỉnh cao nhất.
Nếu thực sự lập dự án nghiên cứu hai mẫu radar này thì không còn là công trình nhỏ nữa, trước hết phải dẫn dắt đội ngũ công phá kỹ thuật mảng pha quét chủ động thể rắn.
Cái này thì không khó, cái khó là với trình độ khoa học kỹ thuật trong nước bây giờ, dù hắn có thiết kế ra được thì chưa chắc đã sản xuất nổi.
Bởi lẽ nước ta thực sự sản xuất được radar mảng pha quét chủ động thể rắn là vào tận giữa thập niên 90, cách hiện tại hơn hai mươi năm trời.
Đắn đo mãi, Chu Dương quyết định trước mắt cứ làm ra radar 371 nội địa đã.
Sở dĩ chọn 371, chủ yếu vì loại radar này về mặt kỹ thuật khá đơn giản, vẫn dùng bộ quét kiểu cũ Foster, thuận tiện cho việc nghiên cứu lẫn chế tạo.
Quan trọng nhất là món này thao tác tương đối đơn giản, hơn nữa đã qua kiểm nghiệm thực chiến trong cuộc phản công nhắm vào lũ khỉ phương Nam.
Đương nhiên, kẻ thực sự chịu thử lửa không phải 371, mà là bậc tiền bối bản gốc của nó: radar Cymbeline.
Năm đó, mẫu radar trinh sát pháo binh mà ta phải bỏ ra chín mươi sáu vạn đô la mua về này đã đánh tan tành sự tự tin của pháo binh nước khỉ phương Nam, để lại hàng loạt giai thoại nơi chiến trường.
Giờ nếu làm ra bản cải tiến 371 của nó, đến lúc chiến tranh nổ ra thật, chẳng phải sẽ đánh cho lũ khỉ phương Nam rụng hết răng sao!
Nghĩ tới đây, Chu Dương chính thức chốt hạ: Mục tiêu——371!
PS: Chương hai đã lên sóng!
