Chương 11
Chương 11: Kiến đỏ thông thái
Đăng ngày 27/09/2026
19
Có một nhà quan sát thông thái, tuy không mấy quen thuộc với các mẫu vật động vật nằm trong tủ kính, nhưng lại là chuyên gia nghiên cứu động vật ngoài tự nhiên. Trong cuốn chuyên khảo mang tên "Trí lực của động vật", ông từng viết:
Loài chim này ở nước Pháp nhờ kinh nghiệm mà biết phương bắc giá lạnh, phương nam bỏng rát, phương đông khô ráo, phương tây ẩm ướt. Chúng có thể dựa vào hiểu biết phong phú về khí tượng để định vị phương hướng, hỗ trợ cho việc bay lượn. Nếu nhốt bồ câu vào giỏ, phủ kín khăn rồi đưa từ Bruxelles về Toulouse, mắt chúng dẫu chẳng thể ghi nhớ lộ trình, nhưng không gì ngăn được bồ câu cảm nhận nhiệt độ để biết mình đang hướng về phương nam, từ đó cứ thế bay ngược về phương bắc. Một khi thấy nhiệt độ bầu trời tương đương với quê nhà, chúng sẽ dừng lại. Dù chưa tìm thấy tổ cũ ngay, chúng vẫn có thể bay sang đông hoặc tây chừng vài giờ để tìm kiếm, nhằm chỉnh lại đường bay lệch lạc.
Thế nhưng lối giải thích này chỉ đúng với những chuyến dịch chuyển theo trục bắc - nam. Nếu di chuyển theo hướng đông - tây dọc đường đẳng nhiệt thì sao? Khi ấy lại phải bàn theo cách khác. Hơn nữa, cách giải thích này không thể áp dụng rộng rãi cho mọi loài vật. Bồ câu bay hàng trăm dặm về lại chuồng cũ, chim én vượt đại dương từ chốn trú đông xa xôi tít tắp ở châu Phi trở về tổ xưa; trong những hành trình dài đằng đẵng và gian nan nhường ấy, liệu chúng có dựa vào thị giác để định hướng? Một con mèo chạy từ đầu này sang đầu kia thành phố để về nhà, băng qua mạng lưới phố xá ngõ hẻm như mê cung, ắt không chỉ dựa vào thị giác, và càng không thể do biến đổi khí hậu tác động. Tương tự, lũ Thạch Phong của tôi cũng chẳng dựa vào thị giác để nhận biết phương hướng. Chẳng hạn khi thả vài con Thạch Phong giữa rừng rậm, chúng đâu có bay cao, chỉ cách mặt đất chừng hai ba thước; đã không thể phóng tầm mắt bao quát toàn cảnh địa hình để vẽ nên tấm bản đồ, thì cần gì phải tìm hiểu địa hình? Chúng chỉ mù quáng lượn vài vòng sau lưng người làm thí nghiệm, ngập ngừng một lát rồi bay thẳng về phương bắc. Nơi đó có những ngọn đồi nhấp nhô chắn lối, có bóng cây rậm rạp che khuất tầm nhìn, vậy mà chúng vẫn men theo triền dốc thoai thoải bay lên cao, vượt qua mọi chướng ngại. Thị giác quả thực giúp chúng né tránh vật cản, nhưng không thể chỉ cho chúng biết phải bay về phương nào. Nhiệt độ hiển nhiên cũng chẳng giúp ích gì, bởi khoảng cách chỉ vỏn vẹn vài cây số thì khí hậu nào có đổi thay. Lũ Thạch Phong của tôi chẳng học được điều gì từ kinh nghiệm về nóng, lạnh, khô, ẩm, huống hồ việc ấy còn đòi hỏi hàng tuần lễ. Cho dù chúng có quen thuộc phương vị đi nữa, nhưng khí hậu ở tổ và nơi thả đều như nhau, làm sao chúng có thể tự quyết định nên bay về hướng nào?
Liệu có thể giả định rằng muôn loài sở hữu một thứ cảm quan đặc biệt mà con người không có? Đứng trước những hiện tượng ấy, tôi không khỏi nghĩ tới một yếu tố bí ẩn để lý giải. Chẳng ai muốn phủ nhận uy quyền của Darwin, và chính ông cũng rút ra kết luận tương tự. Động vật có khả năng cảm nhận từ tính hay không? Khi gắn một cây kim từ sát vào cơ thể, cảm giác của chúng sẽ phản ứng ra sao? Chúng cảm ứng thế nào với dòng điện trong lòng đất? Liệu con người có sở hữu năng lực cảm ứng ấy không? Hiển nhiên, tôi đang nói tới từ lực trong vật lý học, chứ không phải thứ từ lực thần bí của những kẻ như Mesmer hay Cagliostro. Nếu người thủy thủ tự thân đã là một chiếc la bàn, cớ sao phải mang theo la bàn trên mỗi chuyến đi? Vậy nên con người chắc chắn không có năng lực ấy.
Vẫn theo quan điểm của bậc thầy ấy, bồ câu, chim én, mèo, Thạch Phong cùng muôn loài nơi đất khách quê người tìm được lối về đều nhờ vào một năng lực cảm quan đặc biệt. Năng lực ấy con người không có, thậm chí chẳng thể hình dung nổi. Tôi không dám chắc đó có phải là cảm giác về từ lực hay không, nhưng bản thân đã tận lực nghiên cứu khả năng này và cảm thấy hài lòng với kết quả. So với con người, loài vật mới vĩ đại và tiến bộ làm sao! Bên cạnh những cảm quan chúng ta sẵn có, loài vật lại sở hữu thêm một giác quan nữa. Tại sao con người lại không thể có được năng lực ấy? Giữa hoàn cảnh "vật cạnh thiên trạch, thích giả sinh tồn", năng lực đó chính là thứ vũ khí hữu dụng biết bao. Nếu đúng như các nhà nghiên cứu đã chỉ ra, rằng muôn loài kể cả con người đều khởi nguồn từ một tế bào nguyên thủy duy nhất, rồi thuận theo quy luật tự nhiên mà tiến hóa trong dòng lịch sử, phát triển những thiên phú tốt nhất và đào thải những thiên phú tồi tệ nhất, thì cớ sao loài vật bậc thấp lại có được năng lực kỳ diệu này, còn con người - kẻ đứng đầu vạn vật - lại chẳng thể học được lấy một phần? Năng lực ấy đáng để lưu giữ hơn nhiều so với một sợi râu mép hay một đốt xương cụt. Cớ sao tổ tiên chúng ta lại để mặc cho một năng lực tuyệt vời đến thế mai một dần trong quá trình tiến hóa?
Nếu chức năng cảm quan này thực sự không được di truyền lại, chứng cứ vẫn còn quá đỗi mơ hồ. Bởi vậy, tôi đã thỉnh giáo các học giả theo thuyết tiến hóa, hy vọng nhận được câu trả lời khác từ nguyên sinh chất và nhân tế bào.
Chúng ta vẫn thường ngỡ rằng có một thứ cảm quan chưa biết nào đó ẩn náu tại một bộ phận trên cơ thể côn trùng cánh màng, được thụ cảm qua một cơ quan đặc biệt. Điều đầu tiên người ta nghĩ tới hẳn là đôi râu. Chúng ta có thói quen quy mọi hành vi khó hiểu của côn trùng về đôi râu, cứ mặc nhiên cho rằng trên râu ắt có cấu tạo đặc biệt nào đó để làm đề tài tranh luận, song tôi hoàn toàn có đủ lý do để hoài nghi khả năng định hướng của râu. Khi Mao Thứ Sa Nê Phong tìm kiếm ấu trùng con mồi, nó quả thực không ngừng dùng đôi râu nhỏ như ngón tay vỗ liên hồi xuống mặt đất. Những sợi râu dò xét ấy dường như đang dẫn đường cho côn trùng đi săn, nhưng liệu chúng có đồng thời chỉ dẫn phương hướng trong hành trình bay lượn hay không? Mối nghi ngờ ấy đến nay đã được tôi làm sáng tỏ.
Tôi cắt sát tận gốc đôi râu của vài con Cao tường thạch ong, sau đó mang chúng đến nơi khác rồi thả ra. Nhưng cũng như những con Thạch Phong khác, chúng dễ dàng tìm được đường về tổ. Tôi dùng cách tương tự để thí nghiệm với loài Tiết Phúc Nê Phong lớn nhất vùng chúng tôi là Lịch Cức Tiết Phúc Nê Phong, giống ong vốn chuyên săn mọt vòi voi này cũng bay thẳng về hang đất của nó. Do đó, chúng ta có thể hoàn toàn gạt bỏ giả thuyết râu có khả năng định hướng. Nếu năng lực ấy không nằm ở đôi râu, nó còn có thể ở đâu được nữa? Tôi cũng chẳng rõ. Tuy nhiên, những con Thạch Phong mất râu khi về đến tổ không lập tức tiếp tục công việc, mà lượn lờ trước vách tổ đang xây dở, đậu nghỉ trên những viên sỏi hay bám vào gờ miệng tổ bằng đá. Chúng chăm chú nhìn công trình dang dở hồi lâu, trông như đang trầm ngâm buồn bã. Chúng bay qua lượn lại, đuổi hết những kẻ không mời mà đến, song chẳng buồn tha về chút mật hay bụi than nào. Đến ngày hôm sau, chúng biến mất tăm. Một khi mất đi công cụ, người thợ cũng chẳng còn hứng thú làm việc. Đôi râu chính là dụng cụ đo đạc chuẩn xác của Thạch Phong, quan trọng tựa như compa, thước vuông, thước thủy và dây dọi của thợ xây. Khi đắp tổ, nó cần dùng râu liên tục gõ nhẹ, dò xét, đo đạc; chỉ có đôi râu mới giúp nó hoàn thành công việc một cách chuẩn xác.
Cho tới nay, tôi mới chỉ làm thí nghiệm trên Thạch Phong cái. Dựa vào bản năng làm mẹ, chúng luôn gắn bó với tổ hơn hẳn lũ ong đực. Nếu đối tượng thí nghiệm là ong đực, kết quả sẽ ra sao? Tôi vốn chẳng mấy tin tưởng lũ ong thích la cà hoa cỏ này; có những ngày, chúng tụ tập thành bầy trước tổ đợi ong cái chui ra, rồi ghen tuông tranh giành bạn tình. Thế rồi, mặc cho công trình xây cất diễn ra rầm rộ đến đâu, chúng đều biến mất không dấu vết. Tôi không hiểu nổi, đối với chúng, việc quay về căn tổ nơi mình sinh ra hay tìm chốn khác định cư thì có gì khác biệt? Miễn là có vợ là được. Nào ngờ tôi lại lầm, chúng cũng tìm đường về tổ. Vì chúng khá yếu ớt, tôi không bắt chúng bay quá xa, chỉ chừng một cây số. Thế nhưng đối với ong đực, đó cũng là một chuyến viễn chinh giữa chốn lạ nước lạ cái. Ai bảo tôi chưa từng thấy chúng bay đường trường bao giờ? Ban ngày chúng chỉ mải ngắm hoa hoặc lượn quanh tổ ong, đêm đến lại chui vào khe đá hay hang cũ trong Hoang Thạch Viên để trốn.
Ong vò vẽ ba chạc và ong vò vẽ Latreille thường xây tổ trong những chiếc hang mà Thạch Phong bỏ lại, trong đó ong vò vẽ ba chạc chiếm số lượng nhiều hơn. Tôi muốn nhân cơ hội này tìm hiểu xem khả năng định hướng phổ biến đến mức nào ở các loài côn trùng cánh màng — đây quả là một dịp hiếm có. Ong vò vẽ ba chạc bất kể đực cái đều tìm được đường về tổ. Tôi nhanh chóng hoàn thành một số thí nghiệm cự ly ngắn, kết quả hoàn toàn trùng khớp với các thí nghiệm trước, khiến tôi phải tin phục. Dù thế nào, những thử nghiệm này đều chứng minh rằng cả bốn loài ong thợ đá mái hiên, Cao tường thạch ong, ong vò vẽ ba chạc và Tiết Phúc Nê Phong đều có thể quay về tổ cũ. Những ví dụ ấy liệu có chứng minh được rằng mọi loài côn trùng đều sở hữu khả năng đặc biệt giúp tìm về tổ từ nơi xa lạ hay không? Tôi không muốn vội vã kết luận, bởi theo tôi biết, vẫn có một trường hợp ngoại lệ nói lên rất nhiều điều.
Trong số các đối tượng thí nghiệm đa dạng ở Hoang Thạch Viên, lựa chọn hàng đầu của tôi là loài kiến đỏ trứ danh. Loài kiến đỏ này chẳng khác nào những chiến binh Amazon chuyên đi bắt nô lệ, nhưng chúng lại không thạo việc nuôi nấng con non, ngay cả khi thức ăn ở sát bên cạnh cũng chẳng biết tìm ở đâu. Chúng buộc phải tìm kiếm nô bộc để hầu hạ việc ăn uống và quán xuyến sinh hoạt gia đình, vì thế lũ kiến đỏ thường đi cướp nhộng của các loài kiến láng giềng khác giống. Những chiếc nhộng ấy sau khi tha về tổ chẳng bao lâu sẽ lột xác rồi vũ hóa, và những kẻ ngoại tộc này đành phải gánh vác mọi công việc nặng nhọc trong gia tộc kiến đỏ.
Những buổi chiều hè oi ả, tôi thường thấy bầy kiến này rủ nhau viễn chinh. Hàng ngũ của chúng có thể dài tới năm sáu thước. Miễn là dọc đường không có gì đáng chú ý, chúng sẽ không dừng bước mà cứ duy trì đội hình tiến mãi. Nhưng hễ phát hiện ra manh mối về một tổ kiến, con dẫn đầu sẽ khựng lại, lớp kiến đi trước lập tức tản ra nhốn nháo, song cũng chẳng dám đi xa mà chỉ quanh quẩn tại chỗ. Lớp sau sải bước đuổi kịp, tụ lại mỗi lúc một đông. Đến khi những con trinh sát đi thám thính trở về báo rằng tin tức sai lệch, chúng lại xếp thành hàng ngũ tiếp tục tiến lên. Đám thảo khấu này băng qua những lối mòn trong Hoang Thạch Viên, biến mất vào bụi cỏ, chốc lát sau lại hiện ra ở một nơi xa hơn, rồi chui rúc vào đống lá khô rồi nghênh ngang bò ra, trông như đang mò mẫm vô định.
Cuối cùng mục tiêu cũng lộ diện: tổ của lũ kiến đen. Bầy kiến đỏ hăm hở xông thẳng vào nơi cất giữ nhộng của kiến đen, chẳng mấy chốc đã tha chiến lợi phẩm trồi lên. Thế nhưng ngay trước cửa ngõ thành trì dưới lòng đất, kiến đen cũng liều mạng bảo vệ tài sản của mình, còn kiến đỏ thì xông xáo đâm chém như loài giặc cướp hung hãn. Trận chiến diễn ra kinh tâm động phách, song do tương quan lực lượng quá chênh lệch, chiến quả ngọt ngào dĩ nhiên thuộc về bầy kiến đỏ. Từng con một tha theo của cướp, dùng đôi hàm trên cắp chặt lấy những chiếc nhộng vẫn còn say ngủ trong nôi, vội vã quay về. Nếu người đọc chưa từng biết đến tập tính bắt nô lệ của chúng, hẳn sẽ thấy câu chuyện này vô cùng thú vị. Đáng tiếc, tấn trò đời của những chiến binh Amazon này đã đi quá xa khỏi chủ đề côn trùng tìm đường về tổ, tôi xin phép không bàn thêm nữa.
Quãng đường đám giặc này lặn lội tới đây dài hay ngắn hoàn toàn phụ thuộc vào việc gần đó có kiến đen hay không. Nếu chỉ đi mươi bước hoặc năm mươi bước đã gặp tổ kiến đen, chúng sẽ dừng lại. Nhưng nếu không gặp, chúng có thể đi tới trăm bước, thậm chí xa hơn. Có bận tôi từng thấy lũ kiến đỏ trèo qua bức tường cao bốn mét của Hoang Thạch Viên, viễn chinh tới tận cánh đồng lúa mì xa tít bên ngoài. Đi đường nào chẳng hề quan trọng đối với đội quân bách chiến bách thắng ấy. Bụi cỏ, cành khô, đống đá vụn, đất đai cằn cỗi hay tường đá hoa cương, chúng đều có thể vượt qua. Chúng không hề kén chọn bất kỳ loại địa hình nào.
Đường đi thì bất định, nhưng đường về lại chắc chắn không đổi, buộc phải lần theo lối cũ. Bất kể nẻo đường lúc đi gập ghềnh trắc trở ra sao, phải vượt qua bao nhiêu chướng ngại, dù hiểm trở gian nan đến đâu đi nữa, chúng cũng phải quay đầu đối mặt lại từ đầu. Sự tình cờ trong lúc săn lùng thường khiến bầy kiến đỏ phải dấn thân vào những lộ trình vô cùng phức tạp. Giờ đây mang theo chiến lợi phẩm trở về, chúng đi lối nào thì về lối nấy. Dẫu có vất vả hay nguy hiểm đến đâu, lộ trình ấy tuyệt đối không bao giờ thay đổi.
Giả sử chúng phải băng qua một đống lá khô dày cộm, thì con đường đó đối với chúng sẽ là một chướng ngại đầy vực sâu chực chờ sẩy chân; chỉ cần rơi xuống đáy, chúng lại phải bò ngược lên, trèo qua chiếc cầu cành khô rung rinh lắc lư, rồi cuối cùng mới thoát ra khỏi mê cung chằng chịt, khiến phần lớn lũ kiến đỏ mệt bã cả người. Nhưng thế thì đã sao? Gian nan vẫn phải vượt qua. Dù gánh nặng tăng thêm, chúng vẫn cắn răng xuyên qua mê cung ấy. Giả như chúng phát hiện ra một con đường êm ả ngay bên cạnh — vô cùng bằng phẳng, chỉ cách lối cũ chưa đầy một bước chân — thì hẳn đã bớt nhọc nhằn đi biết mấy. Thế nhưng chúng chẳng hề nhận ra con đường chỉ hơi chệch đi đôi chút kia.
Có hôm tôi thay đám động vật lưỡng cư trong ao bằng cá vàng. Hôm sau bầy kiến đỏ đi cướp bóc, tình cờ lại nối đuôi nhau thành một hàng dài men theo mé trong rào chắn quanh ao. Chẳng ngờ một cơn gió bấc thổi mạnh tạt ngang hàng ngũ, hất tung mấy hàng kiến lính xuống nước. Đàn cá vàng vội bơi tới, há ngoác cái miệng tham lam nuốt trọn những kẻ không may. Một con đường gian khổ chừng ấy, khi hiểm trở còn chưa vượt qua thì đã tổn thất không ít tính mạng. Tôi cứ ngỡ lúc trở về chúng sẽ đổi sang lối khác. Ngờ đâu chẳng phải vậy, đoàn quân ngậm nhộng vẫn bước lên gờ đá tử thần kia, bầy cá vàng như được đón lấy món mồi nhân đôi từ trên trời rơi xuống: vừa có kiến, lại vừa có chiến lợi phẩm trong miệng chúng. Lũ kiến thà bị tiêu diệt hàng loạt chứ nhất quyết không chịu chọn một con đường mới.
Bầy kiến đỏ viễn chinh một mạch, rẽ ngang ngoặt dọc, chẳng bao giờ có hai lần đi cùng một lối, hẳn là vì việc tìm về tổ quá đỗi khó khăn, thế nên lúc đi đường nào thì lúc về vẫn phải chọn đúng đường đó. Miễn là không muốn lạc, chúng không thể tùy tiện chọn đại một lối, mà buộc phải theo lối cũ mới về được tổ ấm. Những con sâu bướm khi bò ra khỏi tổ, leo sang cành cây khác tìm thứ lá cây hợp khẩu vị hơn, thường nhả tơ dọc đường đi; chúng dựa vào sợi tơ ấy để lần về tổ. Sợi tơ là manh mối dẫn lối về nhà, là phương pháp nguyên thủy nhất của những loài côn trùng có nguy cơ lạc đường khi đi xa. Chúng ta hiểu biết về cách tìm đường nguyên thủy của sâu bướm nhiều hơn hẳn so với những loài định vị bằng giác quan đặc biệt như Thạch Phong.
Thế nhưng lũ kiến đỏ vốn cùng thuộc bộ Cánh màng lại có phương thức về nhà rất hạn hẹp, ta thấy chúng chỉ có thể quay về theo lối cũ. Chẳng lẽ chúng cũng đang bắt chước lũ sâu bướm sao? Cơ thể chúng không có công cụ nhả tơ, nên dọc đường chẳng thể để lại tơ dẫn lối. Vậy thì chúng phát tán một mùi hương nào đó, chẳng hạn như mùi axit fomic, rồi nhờ khứu giác để tự dẫn đường chăng? Đa số mọi người đều tán đồng cách giải thích này.
Nếu bảo kiến nhận đường bằng khứu giác, và khứu giác ấy nằm trên đôi râu cử động không ngừng, thì tôi không đồng tình lắm. Trước hết, tôi không tin trên râu có khứu giác, lý do thì tôi đã từng giải thích rồi. Ngoài ra, tôi cũng muốn nhờ vào thí nghiệm để chứng minh rằng kiến đỏ không hề dựa vào khứu giác để định hướng.
Tôi mất mấy buổi chiều liền để canh chừng lũ kiến đỏ ra khỏi tổ, nhưng thường chỉ hoài công. Đối với tôi, chuyện đó quá mất thời gian. Tôi bèn tìm một người phụ tá rảnh rỗi hơn: cô cháu gái Lucie. Con bé rất hào hứng với chuyện loài kiến, từng chứng kiến kiến đỏ đại chiến kiến đen, lúc nào cũng trầm ngâm nghĩ về cảnh kiến đi cướp những đứa trẻ còn nằm trong nôi. Đầu óc Lucie tràn ngập cảm giác sứ mệnh cao cả, vô cùng hãnh diện vì bản thân còn nhỏ tuổi đã có thể phục vụ cho quý bà Khoa Học. Gặp hôm trời đẹp, Lucie có thể chạy khắp Hoang Thạch Viên để rình rập bầy kiến đỏ, cẩn thận nhận diện con đường chúng dẫn tới cái tổ bị cướp bóc. Tôi vô cùng tin tưởng vào lòng nhiệt tình của con bé. Một hôm, tôi đang cặm cụi ghi chép nhật ký như thường lệ thì Lucie đập cửa phòng thí nghiệm thình thình: "Cháu đây, ông mau ra xem, kiến đỏ vào tổ kiến đen rồi, nhanh lên ông!" "Cháu nhìn rõ đường chúng đi chưa?" "Dạ rồi, cháu còn đánh dấu nữa cơ." "Cháu đánh dấu thế nào?" "Như ngón tay út ấy ạ, cháu rải sỏi trắng dọc đường."
Tôi chạy tới nơi thì thấy, quả đúng như lời cộng sự sáu tuổi này nói, con bé đã chuẩn bị sẵn sỏi vụn từ trước, vừa thấy đàn kiến từ doanh trại kéo ra là bám sát từng bước phía sau. Cứ hễ kiến đi được một đoạn, con bé lại rắc một ít sỏi. Trông thấy đợt cướp bóc của bầy kiến đỏ đã kết thúc, chúng đang men theo lối cũ trở về. Lúc chúng còn cách tổ chừng trăm mét, tôi đã chuẩn bị xong xuôi mọi thứ với niềm tin chắc chắn.
Tôi dùng một cây chổi lớn quét sạch bách dấu vết trên đường đi của lũ kiến, tạo thành một khoảng trống rộng chừng một mét, rồi thay sạch lớp bụi đất trên đường bằng thứ vật liệu khác. Nếu lớp đất cũ có vương lại mùi gì thì giờ đây cũng đã bị tẩy sạch hoàn toàn, tôi cá là lũ kiến sẽ mất phương hướng cho mà xem; hơn nữa, tôi còn chia lối ra của con đường thành bốn đoạn cách nhau vài bước chân.
Khi bầy kiến tới chỗ bị quét sạch đầu tiên, rõ ràng chúng rất ngập ngừng, con thì lùi lại, rồi tiến lên, rồi lại lùi bước; con thì chần chừ trước vết cắt; con lại tản sang hai bên, như muốn đi vòng qua vùng đất lạ lẫm này. Đội tiên phong ban đầu tụ lại một chỗ, sau đó kết thành một đám kiến rộng vài tấc, rồi tản ra đến ba bốn mét. Nhưng lực lượng phía sau cứ liên tục ùa tới khiến khung cảnh trở nên hỗn loạn vô cùng, lũ kiến dồn đống lên nhau, rối rít mất phương hướng. Cuối cùng, có vài con liều lĩnh bước lên con đường đã bị quét sạch, những con khác lập tức bám gót theo sau. Cũng có một số ít đi vòng qua một đoạn rồi mới nhập lại đường cũ. Ở những vết cắt khác, bầy kiến cũng do dự tương tự, nhưng rồi chúng vẫn tìm về đúng con đường ban đầu, chỉ là có con đi thẳng, có con đi vòng. Dù tôi đã giăng bẫy nhưng vẫn không lừa được lũ kiến, chúng đã về tới tổ của mình.
Thí nghiệm này dường như cho thấy khứu giác đóng vai trò rất lớn trong việc giúp kiến tìm về tổ. Hễ tới nơi con đường bị cắt ngang, bầy kiến đều tỏ ra do dự, một nỗi do dự y hệt nhau. Vẫn có một số con quay về bằng lối cũ, có lẽ do tôi quét chưa thật sạch, vài hạt bụi vương mùi vẫn còn sót lại tại chỗ. Vài con kiến đi vòng qua chỗ sạch sẽ, có lẽ vì nhận được dấu vết từ lớp đất vụn bị quét dạt sang một bên. Bởi vậy, dù muốn chứng minh khứu giác có tác dụng hay phản bác lại điều đó, ta đều cần phải tiến hành thí nghiệm trong những điều kiện hoàn thiện hơn, nhất định phải triệt tiêu hoàn toàn mọi dấu vết tỏa mùi.
Vài ngày sau, tôi lập lại kế hoạch, lần này cẩn trọng hơn lần trước đôi chút. Lucie quan sát không lâu thì vội chạy về báo cho tôi: kiến đã xuất tổ. Tôi vốn đã đoán trước được rồi. Đó là một buổi chiều tháng Sáu oi bức, cơn giông sắp sửa ập đến; vào những thời khắc như thế này, lũ kiến đỏ thường sẽ xuất trận viễn chinh. Trên đường kiến đi, rải đầy những viên sỏi nhỏ, đều là các vị trí tôi đã chọn sẵn, tôi nghĩ như vậy sẽ càng thuận lợi hơn cho việc thực hiện kế hoạch. Tôi nối một ống vải dùng để tưới cây trong Hoang Thạch Viên vào van lấy nước ở bờ ao. Vừa mở van, dòng nước cuồn cuộn lập tức cắt đứt đường về của đàn kiến. Dòng nước rộng chừng một sải chân, dài hun hút. Cứ thế, sau khi dùng lượng nước lớn xối rửa mặt đất suốt một tiếng đồng hồ, lũ kiến đỏ mang theo chiến lợi phẩm quay về. Khi chúng đến gần, tôi cố ý vặn nhỏ dòng chảy, làm chậm tốc độ và giảm bớt độ sâu của nước. Tôi cố tình tạo ra một chướng ngại buộc lũ kiến đỏ phải đối mặt trên đường về, dĩ nhiên việc vượt qua chướng ngại này cũng không quá tốn sức.
Lũ kiến quả thực do dự rất lâu, những lính kiến đi phía sau đều có đủ thời gian bò lên phía trước tụ lại cùng đội tiên phong. Thế là, chúng giẫm lên những hòn cuội nhô khỏi mặt nước để dấn bước vào dòng chảy. Nhưng một khi chân mất điểm tựa, dòng nước liền cuốn phăng những chiến binh ấy đi; dẫu vậy chúng vẫn không chịu buông chiến lợi phẩm, mà cứ phó mặc cho dòng nước cuốn trôi, tấp vào một cồn đất nhỏ giữa dòng, đợi khi dạt vào bờ, chúng lại tiếp tục tìm nơi có thể lội qua. Vài cọng rơm rạ bị nước cuốn dạt lại bỗng trở thành chiếc cầu bắc qua sông cho đàn kiến, dẫu rằng cây cầu ấy lắc la lắc lư. Một số lá ô liu khô rụng trên mặt nước lại biến thành bè mảng, chở những hành khách vác quá nhiều chiến lợi phẩm. Vài dũng sĩ nhờ nỗ lực lội nước và chút may mắn đã sang được bờ bên kia mà không cần bất kỳ phương tiện trợ giúp nào. Tôi thấy một vài con kiến bị dòng nước cuốn ra giữa dòng, cách bờ này hay bờ kia đều không xa, nhưng chúng lại hoảng loạn, chẳng biết xoay xở ra sao. Ngay cả trong cảnh hỗn loạn tan tác ấy, cũng không có con kiến nào vì gặp đại nạn mà vứt bỏ chiến lợi phẩm. Thậm chí chúng thà chết chung với chiến lợi phẩm chứ không buông tay. Kết quả thí nghiệm là đàn kiến đành tạm bợ vượt qua dòng nước xiết để tiếp tục men theo con đường cũ trở về.
Trong thí nghiệm này, tôi nghĩ vấn đề mùi hương trên mặt đường cơ bản đã có thể loại trừ. Khoảnh đất đó vừa bị dòng nước xiết xối qua không lâu, sau đó lại liên tục có nước chảy qua. Cho dù trên đường thực sự có mùi axit fomic, mũi người chúng ta tuy không ngửi thấy, nhưng ít nhất sau khi bị dòng nước xối rửa như thế cũng không thể còn mùi. Sau tình huống cực đoan này, tôi muốn thử một tình huống cực đoan khác: dùng một mùi hương nồng nặc khác để át đi mùi ban đầu, xem xem sẽ xảy ra chuyện gì.
Tại ngã ba thứ ba mà đàn kiến sắp đi qua để trở về, tôi dùng lá bạc hà tươi chà xát lên mặt đất. Chỗ bạc hà này là tôi vừa hái trong bồn hoa ra. Đoạn đường xa hơn một chút, tôi phủ kín bằng lá bạc hà. Khi đàn kiến quay lại, chúng thản nhiên đi qua khu vực đã bị chà xát bạc hà; chỉ hơi ngập ngừng một chút ở đoạn đường phủ kín lá rồi vẫn băng qua. Qua thí nghiệm này, tôi nhận ra khứu giác không phải manh mối duy nhất dẫn đường cho kiến lần theo đường cũ về tổ, những thí nghiệm khác có lẽ sẽ giúp tôi hiểu rõ hơn.
Lần này, tôi không thay đổi tình trạng mặt đất nữa, mà chỉ dùng vài tờ báo lớn phủ lên giữa đường, rồi đè lên đó mấy hòn đá nhỏ. Thứ tựa như tấm thảm này đã hoàn toàn làm thay đổi diện mạo của con đường, nhưng lại chẳng hề làm thay đổi mùi vị của mặt đất. Ấy vậy mà lũ kiến lại do dự rất lâu trước thứ đồ này. So với những mánh khóe khác tôi từng bày ra, thậm chí so với cả dòng nước xiết, lần này đàn kiến có vẻ bất an, lo lắng hơn nhiều. Chúng thám thính khắp bốn phương tám hướng, thử tiến rồi lùi hết lần này đến lần khác, sau rất nhiều lượt thăm dò mới dám liều mình bước lên vùng đất chưa từng thấy này. Đợi đến khi chúng vượt qua được đoạn đường trải báo, hàng ngũ mới trở lại bình thường.
Cách mấy tờ báo ấy không xa, một cái bẫy khác đang chờ đón đàn kiến: tôi dùng một lớp cát vàng mỏng cắt ngang con đường, khoảnh đất vốn có màu xám nhạt nay chuyển thành màu vàng. Chỉ riêng sự thay đổi màu sắc thôi cũng khiến lũ kiến hoảng loạn mất một hồi lâu, nhưng cuối cùng chướng ngại này cũng bị vượt qua, và chẳng mất bao nhiêu thời gian.
Kiến do dự không quyết, dừng bước trước dải cát và dải báo, trong khi ngoài màu sắc ra, sự xuất hiện của báo và cát vàng không hề làm thay đổi bất kỳ điều gì khác của mặt đường. Điều này chứng minh rằng kiến tìm được đường về nhà hoàn toàn không dựa vào khứu giác, mà là thị giác. Bất kể tôi dùng cách nào để thay đổi diện mạo con đường, dùng lá bạc hà phủ lên mặt đất, dùng chổi quét đường, dùng giấy làm thảm che mặt đường, dùng nước xối đất, hay dùng cát khác màu cắt ngang lối đi, thì đội ngũ trên đường về tổ luôn dừng lại, do dự, không ngừng tìm tòi xem rốt cuộc đã xảy ra thay đổi gì. Đúng vậy, chính là thị giác, có điều kiến lại cực kỳ cận thị, chỉ cần dịch chuyển vài hòn sỏi cuội cũng đủ để thay đổi tầm nhìn của chúng. Do tầm nhìn hẹp, một lớp cát, một chiếc lá, một dải giấy, thậm chí chỉ một nhát chổi quét qua hay những biến đổi nhỏ hơn nữa cũng đủ khiến cảnh vật trong mắt kiến hoàn toàn đổi khác. Những con kiến đang nóng lòng mang chiến lợi phẩm về nhà sẽ dừng lại, lo âu chờ đợi. Sở dĩ chúng vượt qua được là nhờ trong quá trình liên tục thử nghiệm, vài con kiến có thị lực tốt đã nhận ra khu vực này, đây là nơi chúng quen thuộc, nơi chúng từng đi qua. Và những con kiến khác tin tưởng những đồng loại mắt sáng ấy, bèn dũng cảm đi theo.
Nếu chỉ có thị lực mà không có ký ức chuẩn xác về địa điểm, lũ kiến vẫn chẳng thể thuận lợi về nhà. Trí nhớ của một con kiến khác với trí nhớ của con người ở điểm nào? Rốt cuộc nó ra sao? Tôi không trả lời được. Nhưng tôi chỉ cần một câu là có thể nói rõ: chỉ cần từng đến một nơi nào đó một lần, côn trùng sẽ nhớ rất kỹ, và quan trọng hơn là nhớ rất chuẩn xác. Tôi từng nhiều lần chứng kiến cảnh tượng thế này: đàn kiến đen bị cướp phá đã cung cấp cho lũ người Amazon dã man này quá nhiều chiến lợi phẩm, nhiều đến mức chúng không thể mang hết. Thế là sang ngày hôm sau, hoặc hai ba ngày sau, đội quân viễn chinh này lại xuất phát lần nữa. Lần này không giống lần đầu phải vừa đi vừa tìm kiếm, chúng lao thẳng tới tổ kiến có chứa nhiều nhộng kia, hơn nữa lại đi đúng con đường của chuyến đi đầu tiên. Tôi từng dùng những hòn sỏi nhỏ làm mốc dọc theo con đường mà lũ người Amazon đã đi hai ngày trước. Điều khiến tôi kinh ngạc là, chúng đi cùng một con đường trong cả hai lần! Đi qua hòn sỏi này, rồi đến hòn sỏi khác. Trước khi chúng xuất phát, tôi đã đoán chúng sẽ men theo những mốc sỏi, đi từ chỗ này, băng qua chỗ nọ. Quả nhiên không ngoài dự đoán, chúng men theo những trụ đá tôi dựng lên, đi lối này, qua lối kia, không hề sai lệch một ly.
Đã qua nhiều ngày như thế, lẽ nào mùi hương vẫn có thể lưu lại nơi đó mãi sao? Chẳng ai có thể khẳng định chắc nịch như vậy, cho nên thứ dẫn đường cho lũ người Amazon hẳn phải là thị giác. Đương nhiên ngoài thị giác ra, còn phải kể đến trí nhớ về địa điểm của chúng. Thứ ký ức này có thể duy trì rất lâu, ít nhất có thể giữ đến ngày hôm sau, thậm chí lâu hơn nữa. Ký ức này chưa chắc đã kém đáng tin cậy hơn trí nhớ con người; hoàn toàn nhờ vào nó mà đàn kiến mới có thể vượt qua đủ mọi địa hình gồ ghề lồi lõm, đi đúng con đường đã đi qua vào ngày hôm trước.
Ngoài trí nhớ phi thường về mặt đường ra, kiến đỏ có khả năng định hướng trong phạm vi hẹp như Thạch Phong hay không? Nếu ở một nơi xa lạ, lũ kiến đỏ sẽ làm thế nào? Liệu chúng có thể quay về tổ hoặc hội ngộ cùng đồng loại hay không?
Đội quân cướp bóc này vẫn chưa xưng bá toàn bộ Hoang Thạch Viên, chúng thích phía bắc trù phú màu mỡ, nên lũ người Amazon này thường dẫn quân lên phía bắc cướp bóc. Còn ở phía nam Hoang Thạch Viên thì rất hiếm khi thấy bóng dáng chúng. Có thể nói, chúng không quen thuộc với phía nam như với phía bắc. Bây giờ tôi muốn thử xem ở một nơi xa lạ, kiến đỏ sẽ hành động ra sao.
Tôi đứng cạnh tổ kiến, khi đoàn quân săn bắt nô lệ trở về, tôi đặt một chiếc lá khô trước mặt một con kiến để nó tự bò lên. Tôi không chạm vào nó, chỉ đưa nó đến một nơi cách đoàn quân chừng hai ba bước chân, nhưng là ở phía nam. Đối với kiến đỏ, chừng ấy là đủ để tách nó ra khỏi môi trường quen thuộc, khiến nó hoàn toàn mất phương hướng. Tôi thấy con kiến đỏ lạc đàn kia ngậm chặt chiến lợi phẩm nơi đôi hàm lớn, lang thang vô định trên mặt đất. Nó cứ ngỡ mình đang đi hội ngộ với đồng đội, nhưng thực chất bản thân đã càng lúc càng đi xa. Nó thử đủ mọi hướng, sang bắc, về nam, quay lùi lại rồi lại đi xa hơn để thử vận may; sau khi thăm dò theo nhiều hướng, nó vẫn chẳng thể tìm ra lộ trình chuẩn xác. Tên "buôn nô lệ da đen" răng nanh sắc nhọn này đã lạc đường, mà lại lạc ở nơi chỉ cách đoàn quân có vài mét. Trong tâm trí tôi vẫn luôn in đậm hình ảnh mấy kẻ lạc lối như thế, chúng lủi thủi quay cuồng suốt nửa tiếng đồng hồ mà vẫn không tìm ra đại đội và đường về nhà, nhưng nơi miệng vẫn cắn chặt chiến lợi phẩm khó khăn lắm mới đoạt được. Chúng sẽ ra sao? Chúng giữ lại chiến lợi phẩm ấy để làm gì? Đối với lũ cướp này, mà lại là lũ cướp ngu ngốc, tôi chẳng có mấy kiên nhẫn.
Trước đó chúng ta đã thấy, lũ chiến binh Amazon này có trí nhớ rất tốt, không chỉ nhớ chắc mà còn nhớ lâu. Vậy trí nhớ ấy rốt cuộc tốt đến mức nào mà có thể khắc sâu ấn tượng trong lòng lâu đến thế? Lũ Amazon rốt cuộc đã đi qua con đường này nhiều lần, hay chỉ cần một lần là đủ để in hằn ký ức sâu sắc vào đầu óc? Tôi không có cách nào làm thí nghiệm về phương diện này, bởi tôi không thể xác định liệu tuyến đường đàn kiến đỏ đi lần này có phải là lần đầu tiên hay không, càng không thể quy định cả đội quân đó phải đi theo lối nào. Khi đàn kiến đỏ viễn chinh đi cướp bóc, chúng dường như cứ tùy ý tiến thẳng về phía trước, tôi chẳng thể can thiệp xem chúng sẽ rẽ về hướng nào. Vậy những loài côn trùng cánh màng sở hữu giác quan nhạy bén khác thì làm thế nào?
Có một điều chắc chắn: kiến đỏ không sở hữu cơ quan định hướng như các loài côn trùng cánh màng khác, chúng chỉ có trí nhớ tốt mà thôi. Chỉ cần chệch khỏi đường cũ vài bước chân là đủ khiến chúng lạc lối, vĩnh viễn không thể đoàn tụ với đồng loại; thế nhưng Thạch Phong lại có thể bay qua cả mấy cây số bầu trời xa lạ. Giác quan kỳ diệu có thể nhận biết phương hướng này chỉ có ở vài loài động vật, con người không có, điều đó khiến tôi vô cùng kinh ngạc. Dẫu sao sự chênh lệch giữa hai đối tượng so sánh quá lớn, khó tránh khỏi nảy sinh tranh cãi. Giờ thì mối tranh cãi ấy không còn nữa, bởi tôi đã so sánh hai loài động vật hết sức gần gũi: hai loài côn trùng cánh màng. Nếu chúng cùng đúc từ một khuôn ra, vậy tại sao một con lại có giác quan thần kỳ và đặc biệt ấy, còn con kia thì không? So với chút khác biệt nhỏ nhặt về cơ quan hình thể, việc có thêm một năng lực cảm giác quan trọng hơn nhiều. Tôi rất mong các học giả theo thuyết tiến hóa có thể cho tôi một lời giải thích đáng tin cậy.
Tôi đã chọn Chu phong, ở một chương khác, tôi sẽ giới thiệu tỉ mỉ về tập tính của nó. Sở dĩ gọi là “Chu phong” là vì chúng chuyên săn nhện, tóm lấy nhện rồi tiêm thuốc mê để làm thức ăn dự trữ cho ấu trùng tương lai, sau đó mới đi đào hang cho con non. Đối với Chu phong, con mồi tóm được là một gánh nặng cồng kềnh, không thể tha theo bên mình để đi tìm nơi làm tổ thích hợp, vì thế chúng có thói quen đặt con nhện lên bụi cỏ hoặc bụi cây, nhằm phòng ngừa những kẻ không làm mà hưởng như lũ kiến tới phá hoại — kẻ nào cũng có thể nhân lúc chủ nhân hợp pháp vắng mặt mà chiếm đoạt con mồi quý giá ấy. Sau khi cất con mồi trên cao, Chu phong liền đi tìm chỗ thích hợp để đào hang. Trong lúc đào bới, nó cũng không hề lơ là cảnh giác, chốc chốc lại bay lại xem con nhện của mình. Nó cắn cắn, vỗ vỗ vào con nhện, như thầm mừng vì săn được món mồi ngon lành, rồi mới quay lại tiếp tục công việc đào bới. Nếu vẫn cảm thấy bất an, nó sẽ tha con mồi dời đến một chỗ gần mình hơn — trên một bụi cỏ gần hơn. Quá trình diễn ra như thế. Tôi đã tìm được kẽ hở để can thiệp, nhằm tìm hiểu xem trí nhớ của Chu phong rốt cuộc tốt đến mức nào.
Khi con Chu phong đang cặm cụi đào hang cho ấu trùng, tôi trộm lấy con mồi của nó, đem đặt ở bãi đất trống cách chỗ cũ chừng nửa mét. Chẳng bao lâu sau, Chu phong bay lên đi thăm con mồi, nó bay thẳng về nơi cất giấu ban đầu. Trông nó đầy vẻ quả quyết, quá đỗi quen thuộc với nơi mình từng đi qua. Tôi cũng không rõ trước đó tình hình ra sao, vậy lần đầu này coi như chưa tính, thử thêm vài lần nữa sẽ có sức thuyết phục hơn. Lần này, nó cũng chẳng tốn chút sức lực nào đã tìm thấy chỗ để con mồi ban đầu, nó lượn qua lượn lại trên bụi cỏ, cẩn thận tìm tòi, nhiều lần quay lại đúng nơi giấu nhện. Cuối cùng, khi đã tin chắc con mồi không còn ở đó, nó lấy râu đập xuống đất, vẫn không bỏ cuộc mà chậm rãi dò tìm. Bất chợt, nó thoáng thấy con nhện đang nằm ở bãi đất trống cách đó không xa, bèn ngạc nhiên bước tới, rồi lại thình lình lùi lại, dường như đang tự nhủ: “Con này chết rồi sao? Hay vẫn còn sống? Đây có phải là con mồi ban nãy của mình không?” Cuối cùng tự đưa ra kết luận: “Không phải đâu!”
Nhưng nó không cho phép mình đắn đo quá lâu, kẻ đi săn ngoạm lấy con nhện, kéo lùi lại, một lần nữa đặt nó lên bụi cỏ chỉ cách nơi cũ hai ba bước chân, lại là một chỗ trên cao. Sau đó Chu phong quay trở lại công việc đào hang. Tôi thừa cơ hội này lại dời chỗ cất tạm thời của con mồi, đem nó đặt lên mặt đất trơ trụi xa hơn một chút. Trong tình huống này, việc kiểm tra trí nhớ của Chu phong trở nên rất dễ dàng. Đã có hai bụi cỏ từng là nơi cất tạm con mồi: vì từng ghé lại nhiều lần, Chu phong không chút ngần ngại quay về bụi cỏ đầu tiên. Thế nhưng bụi cỏ thứ hai, nó mới chỉ tới một lần, ấn tượng để lại chắc hẳn rất mờ nhạt. Nó chẳng đắn đo bao nhiêu đã chọn nơi đó, dẫu sao nó cũng chỉ vừa treo con nhện lên mà thôi. Nơi ấy hẳn là chỗ nó vừa liếc thấy lần đầu, lại chỉ vội vã lướt qua. Liệu một cái nhìn thoáng qua nhanh chóng như vậy có đủ giúp nó nhớ kỹ nơi chốn đó không? Chưa kể, Chu phong cũng rất dễ lẫn lộn giữa bụi cỏ thứ nhất và bụi cỏ thứ hai.
Lúc này nó đã rời khỏi hang đất, muốn kiểm tra lại con nhện. Nó đi thẳng về phía bụi cỏ thứ hai, tìm kiếm ở đó hồi lâu mà không thấy bóng dáng con nhện đâu. Nó biết rõ con nhện được đặt ở đây nên kiên trì lùng sục, hoàn toàn không có ý định quay lại bụi cỏ thứ nhất. Cuối cùng, nó tìm thấy con mồi trên bãi đất trơ trụi kia. Chu phong nhanh chóng tìm một đám cỏ thứ ba để cất con mồi. Tôi lại bắt đầu cuộc thử nghiệm lần thứ ba, lần này Chu phong cũng không chút do dự lao thẳng tới đám cỏ thứ ba. Trí nhớ của nó chuẩn xác đến nỗi hoàn toàn chẳng đoái hoài gì tới hai đám cỏ trước. Hai lần thử nghiệm kế tiếp, Chu phong đều quay lại đúng chỗ cất mồi cuối cùng. Tôi không khỏi trầm trồ trước trí nhớ của sinh vật nhỏ bé này. Trí nhớ của con người có thể tốt được như thế chăng? Tôi vô cùng hoài nghi liệu một người chỉ vội vã nhìn qua một địa điểm một lần thì lần thứ hai có thể nhớ lại rõ ràng được không, huống hồ Chu phong còn phải cặm cụi đào bới dưới lòng đất. Nếu có thể cho rằng kiến đỏ cũng có trí nhớ như vậy, thì việc chúng luôn men theo đúng con đường cũ để quay về chẳng có gì đáng kinh ngạc nữa.
Trong những thử nghiệm như vậy còn chứa đựng một vài phát hiện khác. Chu phong sau khi tin chắc con nhện không còn ở chỗ cũ thì liền tứ tán tìm kiếm, và rất dễ dàng tìm ra, nguyên nhân là do tôi đặt nó ở nơi trống trải. Hễ tăng độ khó lên một chút — dùng ngón tay ấn một cái hố trên mặt đất, đặt con nhện vào rồi phủ một chiếc lá lên, con Chu phong này liền chui qua bên dưới chiếc lá, đi tới đi lui mà chẳng hề phát hiện con nhện nằm ngay bên dưới. Có thể thấy, thứ dẫn đường cho Chu phong là thị giác chứ không phải khứu giác. Dù râu của nó liên tục đập xuống mặt đất, nhưng tôi không cho rằng cơ quan này có thể đảm đương chức năng ngửi. Tôi còn phải bổ sung thêm một điểm: thị lực của Chu phong quả thực rất tệ, ngay cả khi con nhện chỉ cách nó chừng hai tấc mà nó cũng chẳng tài nào phát hiện ra.
