Chương 7
Chương 7: Hồi ức tuổi thơ
Đăng ngày 27/09/2026
19
Thuở nhỏ, tôi sống vô tư lự, gần như không thể tách rời khỏi thế giới côn trùng. Tôi cũng mê tổ chim, trứng chim và những con chim non há chiếc mỏ vàng đòi ăn chẳng kém gì lũ chim. Tôi thích lấy cây táo gai làm chỗ nằm, đặt lên đó một chiếc hộp giấy đục lỗ để nuôi bọ cánh cứng lá phiến và bọ cánh cứng ăn hoa. Từ rất sớm, những sắc màu rực rỡ của nấm đã mê hoặc tôi. Khi cậu bé non nớt ấy lần đầu mặc quần có dây đeo vai và bị cuốn hút bởi những cuốn sách khó đọc, tôi cũng háo hức như lúc tìm thấy tổ chim đầu tiên, hái được cây nấm đầu tiên. Về già, người ta thường thích nhớ lại chuyện xưa. Giờ hãy để tôi kể về những chuyện hệ trọng ấy.
Giữa trưa, một đàn chim cút non đang nằm yên dưới nắng thì một người qua đường làm chúng giật mình, vội tản ra tứ phía. Tựa những cục bông xinh xắn, chúng chen nhau chạy trốn, thoắt cái đã biến mất trong bụi gai. Đợi xung quanh yên ắng trở lại, vừa nghe tiếng mẹ gọi đầu tiên, cả đàn liền chạy về, tranh nhau chui dưới cánh mẹ. Cảnh ấy đánh thức ký ức tuổi thơ ngủ quên trong tôi, khơi dậy trí tò mò từ miền ý thức còn mơ hồ. Lần theo hồi ức xa xăm, tôi trở về những năm tháng đẹp đẽ ấy. Đó là quãng thời gian hạnh phúc biết bao! Chuyện cũ giống một đàn chim non, băng qua bụi gai của cuộc đời mà rụng mất lông. Có con thoát khỏi bụi rậm với cái đầu đau điếng, loạng choạng đến nỗi đi không vững; có con mất hút, có lẽ đã ngạt thở ở một góc nào đó giữa đám gai; cũng có con vẫn khỏe khoắn. Vậy mà những ký ức sống động nhất lại là những chuyện xảy ra sớm nhất. Dấu vết chúng để lại trên lớp sáp mềm của trí nhớ trẻ thơ nay đã thành những ký ức bền chắc như đồng, không thể xóa nhòa.
Hôm ấy tôi gặp may: có một quả táo để ăn giữa buổi, lại được tự do đi chơi. Tôi định lên đỉnh ngọn đồi gần nhà, nơi tôi vẫn tưởng là rìa thế giới. Trên đó có một hàng cây đứng khuất gió, dáng nghiêng ngả như sắp bật rễ bay đi. Chúng không ngừng đung đưa, cúi rạp xuống như đang cúi chào. Những tấm lưng mềm dẻo ấy khiến tôi thích thú vô cùng. Hôm nay chúng đứng lặng dưới trời xanh, ngày mai mây kéo qua lại bắt đầu lay động. Tôi yêu vẻ điềm nhiên của chúng, nhưng cũng buồn khi thấy chúng hoảng hốt, bất an. Chúng là bạn tôi, những người bạn tôi thường gặp. Qua ô cửa sổ nhỏ nhà mình, biết bao lần tôi nhìn thấy chúng cúi đầu, lắc lư liên hồi giữa giông bão; thấy gió bấc quét qua sườn đồi, cuốn lên những trận bão tuyết mịt mù, còn chúng thì tuyệt vọng chao đảo trên mặt đất rung chuyển. Những cái cây chịu bao dập vùi ấy làm gì trên đỉnh đồi? Mỗi sớm, mặt trời vươn lên sau màn trời nhàn nhạt, tỏa ánh sáng chói lòa. Mặt trời từ đâu đến? Có lẽ lên cao tôi sẽ tìm được câu trả lời.
Tôi bắt đầu leo dốc. Cừu đã gặm cỏ dưới chân đến thưa thớt. May mà không có bụi gai, nếu không quần áo tôi có khi rách tươm, về nhà còn phải chịu người lớn tra hỏi. Ở đây cũng chẳng có vách đá lớn, chỉ lác đác vài phiến đá dẹt, nên leo trèo không mấy nguy hiểm. Đường khá bằng phẳng, cứ đi thẳng là được. Nhưng bãi cỏ dốc như mái nhà, tôi phải liên tục ngước nhìn lên. Dốc lại dài, trong khi chân tôi quá ngắn. Những người bạn trên đỉnh đồi trông mãi vẫn chẳng gần hơn chút nào. Can đảm lên nào, cậu bé! Gắng leo tiếp đi. Ồ, thứ gì vừa vụt qua chân tôi thế? Một con chim xinh đẹp bay ra từ dưới phiến đá lớn, nơi nó ẩn mình. Ở đó có một cái tổ đan bằng lông tơ và cỏ nhỏ. Tổ chim đầu tiên tôi tìm thấy! Thật may mắn biết bao! Trong tổ có sáu quả trứng nằm sát nhau, đẹp vô cùng. Vỏ trứng xanh biếc như vừa được nhúng vào màu xanh da trời. Đó là niềm vui đầu tiên loài chim đem đến cho tôi. Ngập trong sung sướng, tôi nằm sấp xuống cỏ để ngắm cho kỹ.
Đúng lúc ấy, chim mẹ hoảng hốt bay từ tảng đá này sang tảng đá khác gần đó, cổ họng không ngừng phát ra tiếng "tắc, tắc". Ở tuổi ấy, tôi chưa biết thương xót là gì, thậm chí chẳng hiểu được nỗi lo của một người mẹ. Quả là một đứa ngốc hết chỗ nói. Trong đầu tôi khi ấy chỉ tính chuyện bắt những con vật nhỏ. Tôi định hai tuần nữa quay lại, vét tổ trước khi chim non đủ lớn để bay đi. Còn bây giờ, tôi sẽ lấy một quả trứng thôi, đúng một quả, làm bằng chứng cho phát hiện vĩ đại này.
Sợ làm vỡ quả trứng mong manh, tôi lót ít rêu dưới nó rồi đặt vào lòng bàn tay. Ai chưa từng trải qua niềm vui đến phát cuồng khi lần đầu tìm được tổ chim thuở nhỏ, nếu muốn trách tôi thì cứ trách đi. Tôi thôi không leo nữa. Hàng cây trên núi và nơi mặt trời mọc, lần sau tôi sẽ đến xem. Tôi xuống dốc, nắm quả trứng thật cẩn thận, sợ lỡ bước lại bóp nát nó. Đến chân đồi, tôi gặp cha xứ đang vừa đi dạo vừa đọc kinh nhật tụng. Thấy tôi bước đi nghiêm trang, căng thẳng như người đang rước thánh vật, ông để ý ngay. Chẳng bao lâu, ông phát hiện thứ tôi giấu trong tay.
Ông hỏi: "Con cầm gì trong tay thế?"
Tôi hơi thấp thỏm xòe bàn tay. Quả trứng màu xanh nằm trên lớp rêu hiện ra.
"À! Trứng chim Thạch Sinh. Con lấy ở đâu vậy?" cha xứ hỏi.
"Trên núi ạ, dưới một tảng đá."
Không chống đỡ nổi những câu hỏi dồn dập của ông, tôi nhanh chóng thú nhận hết lỗi lầm nhỏ của mình. Tôi không cố ý đi tìm tổ để lấy trứng, chỉ tình cờ phát hiện ra nó. Trong tổ có sáu quả, tôi lấy một quả, chính là quả này. Tôi định đợi những quả còn lại nở, đợi lông cánh chim non mọc thành những ống lông cứng rồi mới đến bắt chúng.
Cha xứ bảo: "Con không được làm thế, con ạ. Con không nên cướp con của một người mẹ. Gia đình ấy chẳng làm gì sai; con phải để yên cho chúng, để những con chim của Chúa lớn lên rồi tự bay khỏi tổ. Chúng giúp chúng ta diệt sâu hại mùa màng, là bạn của ruộng đồng. Nếu muốn làm một đứa trẻ ngoan, con đừng động vào cái tổ ấy nữa!"
Tôi vâng lời. Cha xứ tiếp tục đi dạo, còn tôi trở về nhà. Hôm ấy, hai hạt giống tốt đã được gieo vào tâm trí hãy còn gần như trống trơn của tôi. Những lời nghiêm khắc của cha xứ giúp tôi hiểu rằng phá tổ chim là một việc xấu. Dù chưa biết chim giúp chúng ta diệt côn trùng, diệt những loài sâu phá hoại mùa màng bằng cách nào, trong thâm tâm tôi đã thấy làm một người mẹ đau lòng là không đúng. Khi nhìn thấy thứ tôi tìm được, cha xứ đã nói hai tiếng "Thạch Sinh". Lạ thật! Tôi nghĩ. Hóa ra động vật cũng có tên như con người. "Thạch Sinh" nghĩa là gì? Ai đặt tên cho chúng? Những thứ khác tôi biết trên đồng cỏ, trong rừng cây được gọi là gì?
Mãi nhiều năm sau, tôi mới biết cái tên bắt nguồn từ tiếng La-tinh ấy có nghĩa là "sống giữa đá". Năm xưa, khi tôi mải mê nhìn đám trứng, con chim quả thực đã bay từ tảng đá này sang tảng đá khác. Cái tổ nằm dưới phiến đá nhô ra như mái nhà chính là nơi ở của nó. Đọc sách, tôi còn biết loài ấy cũng được gọi là chim đất cục. Nó thích những ngọn đồi nhiều đá; đến mùa cày cấy, nó chuyền từ cục đất này sang cục đất khác, tìm những con sâu bị lưỡi cày xới lên từ luống đất. Về sau, tôi lại biết trong tiếng Phổ La Vượng Tư, nó có tên là chim đuôi trắng. Cái tên sống động ấy khiến người ta lập tức hình dung chiếc đuôi xòe ra như con bướm trắng khi nó bất chợt cất cánh, nhào lượn trên thửa ruộng bỏ hoang. Một từ cha xứ thuận miệng nói ra đã mở trước mắt tôi cả một thế giới, nơi cỏ cây và muông thú đều có tên gọi riêng. Rồi sẽ có ngày tôi gọi tên từng diễn viên trong số hàng nghìn diễn viên trên sân khấu đồng quê, chào từng bông hoa nhỏ trong số hàng vạn bông ven đường. Nhưng kho từ ngữ mênh mông ấy hãy để sau này khám phá. Hôm nay, tôi chỉ nhớ lại cái tên "Thạch Sinh" trước thôi.
Trên sườn đồi phía tây làng tôi, những bức tường đá thấp phình ra ôm lấy từng tầng ruộng bậc thang, mặt tường phủ kín địa y và rêu. Những vườn cây ăn quả xếp tầng ở đó. Đến mùa, mận và táo chín trông như một thác trái cây tươi. Một con suối chảy dọc sườn dốc, đứng chỗ nào cũng có thể bước một bước sang bờ bên kia. Nơi lòng suối rộng, vài phiến đá phẳng nhô nửa mình khỏi mặt nước, cho người ta đặt chân đi qua. Chỗ sâu nhất cũng không quá đầu gối, nên khi không thấy con đâu, các bà mẹ chẳng phải lo chúng ngã xuống xoáy nước sâu. Dòng suối đáng yêu ấy trong veo, êm đềm và yên ả biết bao. Về sau tôi đã thấy những dòng sông cuồn cuộn, những biển cả mênh mông, nhưng trong ký ức, không gì sánh được với dòng nước nhỏ róc rách ấy. Ngươi là khúc đầu tiên của bài thơ thiêng liêng để lại dấu ấn trong lòng tôi, vì thế mới có được vị trí ấy. Vậy mà một người chủ cối xay lại nảy ý định với con suối vui tươi chảy qua đồng cỏ.
Lão chủ cối xay đào một con mương men theo sườn đồi, dẫn bớt nước suối vào hồ chứa để quay cối. Hồ được bao quanh bằng một bức tường bẩn thỉu, rêu mọc tua tủa như râu. Nó nằm sát con đường nhỏ đông người qua lại. Một hôm, tôi ngồi trên vai một người bạn, từ trên cao nhìn vào. Trước mắt tôi là mặt nước tù sâu hun hút, phủ đầy những sợi tảo xanh nhớp nháp. Giữa tấm thảm trơn nhẫy ấy lộ ra vài khoảng trống, nơi một con vật đen vàng lười nhác bơi qua. Hồi đó, tôi tưởng nó là con lai giữa rắn hổ mang và rồng, thứ quái vật trong những câu chuyện rùng rợn chúng tôi kể nhau nghe vào những đêm không ngủ. Giờ thì tôi biết nó là kỳ giông. Trời ơi, nhìn thế đủ rồi, xuống thôi!
Đi xuống thêm một đoạn, nước lại tụ thành dòng suối. Hai bên bờ, những cây trăn và cây tần bì cúi xuống, cành lá đan nhau thành một mái vòm xanh; rễ lớn chằng chịt tạo nên một tiền sảnh, dẫn vào hành lang tối om phía trong, nơi trú ẩn của các loài sống dưới nước. Ngay cửa vào chốn kín đáo ấy, ánh nắng lọt qua kẽ lá, rắc xuống những đốm sáng hình bầu dục không ngừng lay động. Chúng tôi rón rén tiến tới, nằm sấp xuống quan sát. Trong hốc có một đàn cá mè cổ đỏ. Những con cá nhỏ với chiếc họng đỏ tươi đẹp làm sao! Mang chúng phập phồng, miệng không ngừng đớp nước. Cả đàn sóng vai bơi ngược dòng; muốn đứng yên giữa dòng chảy, chúng chỉ khẽ ve vẩy đuôi. Một chiếc lá rơi xuống nước. Vụt! Đàn cá biến mất không còn tăm tích. Bên kia suối là một khoảnh rừng dẻ gai, thân cây nhẵn bóng, thẳng tắp như những hàng cột. Quạ mỏ nhỏ kêu quang quác giữa những tán lá rậm rạp, dùng mỏ rỉa khỏi cánh vài chiếc lông cũ vừa được lông mới thay thế. Mặt đất phủ rêu. Tôi mới bước vài bước trên tấm thảm mềm ẩm ấy đã thấy một cây nấm chưa xòe mũ, trông như quả trứng bị một con gà mái thích đẻ đâu thì đẻ bỏ quên. Đó là cây nấm đầu tiên tôi hái được. Tò mò nổi lên, tôi cầm nó trong tay, ngắm đi ngắm lại để tìm hiểu cấu tạo của nó.
Chẳng bao lâu sau, tôi lần lượt tìm thấy nhiều cây nấm khác. Chúng đủ hình dạng, kích cỡ, màu sắc: có cây như chiếc chuông, có cây như chụp đèn, có cây như chiếc cốc đáy bằng; cây thì dài như con thoi, cây lõm xuống như cái phễu, cây lại tròn như nửa quả cầu. Với kẻ vừa bước chân vào thế giới ấy như tôi, quả là một phen mở rộng tầm mắt. Tôi thấy có cây nấm thoắt cái chuyển sang màu xanh, có những cây nấm lớn mục ruỗng, sâu bọ bò lúc nhúc bên trên. Kỳ lạ nhất là một loài nấm trông như quả lê. Nó khô khốc, trên đỉnh có một lỗ tròn như ống khói. Mỗi khi tôi lấy đầu ngón tay gõ vào bụng nó, một làn khói lại phụt ra. Đến lúc khói trong bụng bay hết, bên trong chỉ còn một búi xơ như bùi nhùi. Tôi nhét vài cây vào túi để khi rảnh lại mang ra chơi trò phun khói.
Khoảnh rừng nhỏ vui tươi ấy đem đến cho tôi niềm thích thú vô tận. Từ sau lần đầu phát hiện ra nấm, tôi còn quay lại nhiều lần. Chính ở đó, giữa tiếng quạ mỏ nhỏ, tôi học được những điều cơ bản về nấm. Dần dần, tôi hái được rất nhiều, nhưng chiến lợi phẩm ấy chẳng được người nhà hoan nghênh. Loài nấm gọi là "Boudarelle" mang tiếng xấu trong gia đình tôi: mọi người bảo ăn vào sẽ trúng độc, nên mẹ gạt hết chúng khỏi bàn ăn. Tại sao một loài nấm có vẻ ngoài đáng yêu đến thế lại nguy hiểm nhường ấy? Tôi không hiểu. Nhưng cuối cùng tôi vẫn tin vào kinh nghiệm của cha mẹ. Vì vậy, dù đã liều lĩnh tiếp xúc với thứ nấm độc ấy, tôi chưa từng gặp chuyện gì.
Tôi tiếp tục đến rừng dẻ gai. Tôi cần tìm ra một quy luật để dễ ghi nhớ, thế là tự nghĩ ra cách phân loại. Cuối cùng, tôi xếp những cây nấm đã tìm thấy vào ba nhóm. Nhóm thứ nhất đông nhất, mặt dưới mũ có những phiến xếp vòng quanh; nhóm thứ hai có mặt dưới dày như một lớp đệm, chi chít những lỗ nhỏ khó nhận ra; nhóm thứ ba mang những gai nhọn li ti như gai trên lưỡi mèo. Rất lâu sau, tôi kiếm được vài cuốn sách mỏng và biết rằng ba nhóm ấy đã được người ta nhận ra từ trước, lại còn có tên bằng tiếng Latinh. Điều đó chẳng làm tôi bớt hào hứng. Những tên gọi Latinh cho tôi bài tập dịch qua lại giữa tiếng Pháp và tiếng Latinh đầu tiên, khiến nấm trở nên cao quý hơn. Thứ ngôn ngữ mà cha xứ dùng khi dâng lễ phủ lên chúng một vầng hào quang, nâng cao vị trí của chúng trong lòng tôi. Hẳn chúng phải quan trọng lắm mới xứng đáng có tên như thế. Sách còn viết rằng loài nấm từng khiến tôi tò mò vì chiếc ống khói phun khói mang tên "rắm sói". Cái tên thô quá, tôi không thích. Bên cạnh còn có một tên Latinh nghe đứng đắn hơn: "Lycoperdon". Nhưng đó chỉ là vẻ bề ngoài. Một hôm, lần theo gốc từ Latinh, tôi mới vỡ lẽ "Lycoperdon" cũng có nghĩa là "rắm sói". Sách thực vật vẫn lưu giữ không ít tên gọi chẳng phải lúc nào cũng tiện dịch ra. Những gì người xưa để lại không câu nệ như ngày nay; ngành thực vật học thường chẳng màng đến khuôn phép, cứ giữ nguyên lối gọi thẳng thừng, thô mộc ấy.
Thuở thơ ấu tươi đẹp, những năm tháng tôi đặc biệt tò mò về nấm, giờ đã xa tôi biết bao! Horace từng than rằng thời gian bay nhanh quá! Quả đúng vậy, năm tháng trôi vun vút, nhất là khi sắp đến hồi kết. Xưa kia, thời gian như dòng suối vui tươi thong thả chảy qua rừng liễu, xuôi theo con dốc thoai thoải khó nhận ra; giờ nó thành dòng thác cuộn sóng, cuốn theo vô vàn mảnh vỡ lao về vực thẳm. Thời gian thoắt đến thoắt đi, phải biết quý trọng và tận dụng nó. Khi chiều tối buông xuống, người tiều phu vội bó nốt mấy bó củi cuối cùng. Cũng vậy, tôi giờ đã già, một tiều phu bình thường trong khu rừng tri thức, chỉ mong xếp xong những bó củi còn dang dở. Trong công việc nghiên cứu bản năng côn trùng, tôi còn phải làm gì nữa? Có lẽ chẳng còn việc gì lớn, nhiều lắm chỉ là vài ô cửa đã mở ra. Thế giới phía sau những ô cửa ấy đáng để chúng ta chú tâm; nó vẫn đang chờ được khám phá.
Số phận những cây nấm mà tôi yêu thích từ thuở nhỏ có lẽ còn kém may mắn hơn. Đến nay tôi vẫn giữ mối duyên với chúng, chưa từng đoạn tuyệt. Những chiều thu trời trong, tôi lê bước nặng nhọc đến thăm chúng. Những cây nấm gan bò mũ to nhô lên từ tấm thảm thạch nam đỏ, những cây nấm mũ hình trụ và từng cụm nấm san hô đỏ, tôi ngắm mãi không chán. Hàn Lý Ngang — Sérignan-du-Comtat là chặng dừng chân cuối cùng của tôi; nấm ở đó muôn hình muôn vẻ, nhìn không xuể. Trên những ngọn đồi quanh vùng, giữa sồi xanh, cây dâu tây rừng và hương thảo mọc um tùm, đâu đâu cũng có nấm. Suốt những năm ấy, chúng khiến tôi nảy ra một ý nghĩ: vẽ lại để lưu giữ những loài không thể bảo quản nguyên dạng trong bộ mẫu vật. Tôi bắt đầu vẽ nấm trên các sườn đồi gần nhà theo đúng kích thước thật. Tôi không biết kỹ thuật vẽ màu nước, nhưng có hề gì? Chưa học thì cứ lần mò mà làm. Ban đầu có thể vụng về, rồi dần dần sẽ quen tay. So với công việc nhọc trí ngồi viết văn mỗi ngày, vẽ hẳn sẽ nhẹ nhàng, vui thú hơn.
Cuối cùng, tôi hoàn thành mấy trăm bức tranh nấm. Nấm trong tranh, từ kích thước đến màu sắc, đều không khác ngoài tự nhiên là mấy. Có thể bộ sưu tập của tôi còn thiếu sót về nghệ thuật, nhưng ít nhất nó trung thực, nên cũng có giá trị nhất định. Khách nghe tiếng tìm đến xem; cứ Chủ nhật lại có người ghé, toàn bà con quanh vùng. Họ ngắm tranh với vẻ thán phục, không tin rằng chẳng cần khuôn hay com-pa, chỉ dùng tay cũng vẽ được những bức đẹp đến vậy. Thoạt nhìn, họ đã nhận ra loài nấm tôi vẽ, còn gọi được tên dân gian của chúng. Vậy là tranh của tôi cũng đủ giống thật.
Nhưng cả chồng tranh màu nước đã ngốn bao công sức ấy rồi sẽ ra sao? Có lẽ lúc đầu gia đình tôi sẽ cẩn thận giữ gìn kỷ vật này. Song sớm muộn gì nó cũng thành gánh nặng, bị chuyển từ tủ này sang tủ khác, từ gác xép này sang gác xép khác. Chuột sẽ mò tới, những vết bẩn dần bám lên tranh. Cuối cùng, nó rơi vào tay một đứa cháu ngoại đời xa. Đứa trẻ ấy sẽ cắt tranh thành những mảnh giấy vuông rồi gấp thành gà giấy. Chuyện ấy khó tránh khỏi. Những thứ ta từng nâng niu bằng tất cả tình yêu và hy vọng, rốt cuộc rất có thể bị thực tại giày xéo không thương tiếc.
