Chương 74
Chương 74: Cự Giác Diệp Giáp
Đăng ngày 27/09/2026
19
Y phục, dù với con người hay muôn loài động vật khác, đều là thứ không thể thiếu. Thế nhưng đại đa số động vật chẳng cần bận tâm đến chuyện áo quần, bởi lông da của chúng vốn là thứ trời sinh. Cũng vì thế, muôn thú chẳng có kỹ năng điểm xuyết thêm đồ trang sức lên lớp áo ngoài. Ốc sên chẳng bao giờ lo mình có vỏ cứng hay không; cua chẳng phiền lòng chuyện bản thân có sở hữu một tấm áo bó sát dài đến đầu gối; chim chóc chẳng âu sầu vì thân mình có lông vũ che phủ hay chăng; loài bò sát trên cạn cũng không cần bận tâm mình có vảy giáp phòng thân hay không. Lớp lông tơ, xà cừ, lông bờm hay vảy sừng trên thân thể muôn loài, tất thảy đều tự nhiên mà lớn.
Muôn thú chẳng lo bị giá rét quật ngã, bởi tấm áo trên mình đã đủ để chống lạnh. Trong số những tấm áo cản rét của thế giới động vật, cao quý nhất phải kể đến loài có lông thú. Những bộ lông này thậm chí còn mềm mại hơn cả thứ nỉ dạ nhân tạo thượng hạng nhất.
Lớp vảy giáp của loài bò sát lại hiếm khi có tác dụng giữ ấm, chúng chỉ dùng để ngăn chặn thương tổn từ bên ngoài, tương tự như giáp trụ. Dẫu vậy, thế cũng đã là quá đủ.
Loài chim do phải bay lượn trên bầu trời xanh nên đòi hỏi thể lực rất cao, đồng thời cũng vô cùng sợ rét. Lớp lông vũ mọc chỉnh tề phủ kín thân thể đã góp công lớn cho việc này, mang lại khả năng giữ nhiệt mà muôn loài khác chẳng thể bì kịp. Từng tầng lông vũ xếp chồng lên nhau, sát da lại có thêm một lớp lông tơ, vừa vặn làm đệm khí nâng đỡ cơ thể. Ở phần phao câu của loài chim có một cơ quan khá đặc biệt, nom như cục bướu mỡ, như chiếc bình cổ hẹp dùng để tẩy rửa, hay đúng hơn là một hũ sáp vuốt tóc. Muốn cho lông vũ bóng bẩy mượt mà, chim chóc bèn lấy chất béo từ cơ quan này rỉa lên lông, nhờ đó ngăn được hơi ẩm ngấm vào.
Còn như loài cá bơi lội dưới làn nước, chúng cũng chẳng cần nhiều biện pháp chống rét. Bởi lẽ nước là vật chất ổn định hơn không khí, cá bơi trong nước cũng không hao tổn quá nhiều thể lực. Sống trong môi trường ấy, loài cá căn bản chẳng thể hiểu nổi cái nóng nực giữa không trung hay sương muối trên mặt đất rốt cuộc là thứ gì. Việc duy nhất chúng cần làm chỉ là giữ thăng bằng cho thân thể trong làn nước.
Động vật thân mềm nơi biển cả cũng chẳng cần áo ngoài để sưởi ấm, bởi lớp vỏ của chúng cũng cốt để ngăn ngừa thương tổn. Điểm này hệt như giáp trụ của loài giáp xác.
Trong số các loài động vật kể trên, dù mang lông vũ hay khoác mai cứng, thứ che phủ thân thể chúng đều không cần tự tay chế tạo, hoàn toàn sinh ra đã có. Nếu muốn tìm ngoại lệ, ta buộc phải tìm đến giới côn trùng. Song trước khi bàn về côn trùng, hãy nhìn lại chính con người chúng ta. Con người khác với động vật, ai nấy đều trần truồng giáng sinh xuống cõi đời này. Cũng chính vì không có lớp áo trời sinh, con người mới phải tự tìm cách may mặc giữa tiết trời giá rét, từ đó hình thành nên kỹ nghệ dệt may thuần thục. Xét ở góc độ này, kỹ nghệ may mặc sinh ra từ trong gian khổ, mà nỗi gian khổ ấy lại bắt nguồn từ thời tiết.
Giữa ngày đông giá rét, con người run rẩy dần nhận ra da lông muông thú có thể giúp mình chống rét, bởi vậy kẻ đầu tiên lột da xẻ lông muông thú khoác lên mình chính là người phát minh ra y phục. Nhưng vào độ xuân hè ấm áp, lông thú chẳng còn đất dụng võ. Để che đậy chỗ kín, người thông minh bèn nghĩ ra lá cây. Lá cây có thể coi là nguồn cội của đồ trang sức, những thứ tương tự đến tận hôm nay vẫn có người sử dụng: chiếc lông vũ đỏ cài tóc, đoạn xương cá đeo lủng lẳng trước ngực, sợi dây thừng buộc ngang hông cùng thứ mỡ hôi xua đuổi muỗi mòng, vân vân. Hơn nữa, thứ mỡ hôi vàng óng còn gợi mở cho chúng ta một phát minh mới hơn, ấy là thứ thuốc mỡ bôi ngoài da học từ cách giun dế chống chọi ký sinh trùng. Về sau, cùng với bước tiến không ngừng của văn minh nhân loại, kỹ nghệ may mặc cũng phát triển vượt bậc, phát minh ra vải vóc chính là một trong số đó.
Dẫu con người đã nắm giữ kỹ nghệ may mặc cao siêu, song hễ đem so với lông thú tự nhiên, nhiều người vẫn chẳng thấy hài lòng. Lòng say mê của nhân loại đối với lông thú chưa từng suy giảm. Từ thuở con người còn lấy hang đá làm nhà, da lông đã là thứ trân quý nhất để chống rét, vậy mà mãi tới hôm nay, người ta vẫn lấy làm kiêu hãnh khi khoác lên mình tấm áo lông thú. Giáo sư đại học muốn có túm đuôi thỏ trắng trang điểm bờ vai, quốc vương cùng quan tư pháp cũng muốn sở hữu da chồn ec-min. Để thỏa mãn mục đích ấy, biết bao sinh linh đã phải bỏ mạng dưới lòng tham không đáy của con người. Trong thứ nỉ dạ con người làm ra cũng chứa thành phần lông thú, người ta coi đó là nguyên liệu dệt nỉ tốt nhất. Cũng vì thế, các loài mang lông trên mình đều gặp tai ương. Nhưng quả thật, da lông thú là thứ y phục vừa mộc mạc lại vừa hợp thời. Thật khó tin làm sao, loài người chúng ta lại tự hào vì sở hữu tấm áo làm từ lông cừu, thậm chí còn ngây ngô vui sướng chỉ vì manh áo bắt nguồn từ bãi nước bọt của loài sâu bướm!
Vừa rồi ta có nhắc đến chuyện trong giới động vật cũng có giống loài tự biết dệt áo cho mình, giờ hãy quay lại chủ đề đó. Trong thế giới côn trùng, kẻ đầu tiên phát minh ra y phục phải kể đến Diệp Giáp, trang phục của chúng được làm từ phân. Ta đều biết người Eskimo làm áo bằng cách cạo màng ruột hải cẩu. Tổ tiên của chúng ta — những người tiền sử ăn lông ở lỗ — lấy áo từ da gấu. Thế nhưng kỹ năng làm áo của Diệp Giáp tuyệt đối cao minh hơn người Inuit, thậm chí còn vượt xa tổ tiên chúng ta. Bởi lẽ khi con người còn mừng rỡ vì có lá cây che thân, Diệp Giáp đã biết tự gom góp nguyên liệu may áo. Y phục của chúng, ngoài việc thu lượm từ bên ngoài, bản thân chúng cũng tự cung cấp một phần. Quả đúng vậy, kỹ xảo chế tạo loại nỉ molleton của Diệp Giáp đã đạt đến độ thuần thục.
Bọ lá hoa loa kèn biết tự làm áo cho mình, dẫu tấm áo của nó trông chẳng mấy nhã nhặn. Bảo không đẹp là bởi nguyên liệu làm áo của nó chính là phân của bản thân, thế nhưng thứ phân này chống ký sinh trùng xâm hại lại cực kỳ hiệu nghiệm. Chẳng những thế, nó còn che chắn ánh nắng mặt trời rất tốt. Về khoản lấy phân làm áo, chẳng loài động vật nào có thể bắt chước được giống côn trùng dệt nỉ Elbeuf này.
Cua ẩn sĩ cũng đo đạc thân mình mà may áo vừa vặn. Nguyên liệu áo của nó lấy từ vỏ ngoài của động vật thân mềm, hơn nữa lớp vỏ này phải bị nước biển bào mòn đến mức có kẽ hở. Kế đó cua ẩn sĩ sẽ chọn một chiếc vỏ vừa với vóc dáng rồi chui vào, song chỉ có phần bụng rúc vào trong mà thôi. Hai chiếc càng to bè cọc cạch của nó vẫn lộ ra ngoài vỏ, nhằm mục đích sẵn sàng phát huy tác dụng khi tấn công lẫn phòng thủ. Hành vi này của cua ẩn sĩ vô cùng độc đáo, bởi hiếm có loài động vật nào hành xử như vậy.
Diệp Giáp thuộc bộ Cánh cứng, vóc dáng của chúng thanh nhã, sắc màu cũng tươi sáng bóng bẩy. Diệp Giáp đã trau chuốt tỉ mỉ phương pháp làm áo vốn dĩ thô sơ hạ đẳng, nhờ đó thành phẩm trông rất vừa vặn với giống Cự Giác Diệp Giáp và Ẩn Đầu Trùng. Ấu trùng Diệp Giáp khi mới nở toàn thân trần trụi, chẳng có chỗ nào được che chắn, song chẳng bao lâu sau chúng sẽ tự đan dệt nơi ở cho mình. Nơi ở này tựa như vỏ ốc sên, là một chiếc hũ dài, vừa làm y phục lại vừa làm nhà. Ấu trùng sau khi dựng xong hũ sẽ tự giấu mình vào trong, không dễ gì chịu chui ra. Gặp phải chuyện kinh sợ, chúng liền thụt phắt người lại, giấu cả thân mình vào trong hũ, rồi dùng cái đầu dẹt của mình làm nắp bịt miệng hũ. Đợi tới khi mối nguy hiểm trong mắt chúng qua đi, nó mới thò đầu cùng ba đốt thân mang móng vuốt ra ngoài. Do phần thân chính của ấu trùng tương đối mềm yếu nên tuyệt đối không để lộ ra ngoài, chỉ chịu nép sát đáy hũ mà thôi.
Kỳ lạ hơn nữa, ấu trùng Diệp Giáp sở hữu ngón nghề cao siêu, chúng phỏng theo kiểu dáng của chiếc vò hai quai đáy nhọn, khiến chiếc hũ trông vô cùng đẹp mắt. Chẳng những bề ngoài sáng sủa, độ bền của chiếc hũ cũng rất đáng gờm, ngón tay ta ấn vào cũng chẳng hề hấn gì. Hũ được chế tác tinh xảo, mang những đường gân đối xứng, lại hơi nghiêng nghiêng, đó đều là dấu vết của quá trình bồi đắp liên tục. Mặt trong hũ nhẵn bóng chẳng kém gì da lông thượng hạng, mặt ngoài lại mang màu xám tro của đất. Đáy hũ tròn trịa dần, ấy là do phần sau thân mình ấu trùng hơi phình ra. Ngoài ra, phần đáy còn có những đường hoa văn trang trí nhỏ, lồi lên thành hai lớp. Nhìn tổng thể, chiếc hũ nơi ấu trùng cư ngụ hoàn toàn là một tạo vật cân xứng hai bên, bởi nó đối xứng đến mức hoàn hảo. Mà lối đối xứng ấy chính là nhân tố đầu tiên kiến tạo nên cái đẹp. Tựa như bị vát chéo một nhát, đoạn trước thân mình Cự Giác Diệp Giáp thon nhỏ lại. Nhờ vậy chiếc hũ mới có thể nâng cao lên, nằm gọn trên lưng ấu trùng. Miệng hũ tròn trịa, trông như thành giếng đá đã sứt mẻ.
Xưa có nhà triết học Địch Áo Giản Nội, đi tới đâu cũng mang theo chiếc thùng gốm lớn, bởi đó chính là chốn dung thân của ông. Ấu trùng Diệp Giáp cũng có nét tương đồng với vị triết nhân ấy. Ấu trùng cất bước vô cùng chậm chạp, lê từng bước ngắn, âu cũng do gánh nặng của chiếc hũ dài. Đã vậy trọng tâm của hũ lại rất cao, khiến ấu trùng khi bò rất dễ lật nhào. Thế nhưng dáng đi lảo đảo nghiêng ngả của ấu trùng trông lại khá tao nhã, hệt như người ta đội lệch chiếc mũ vậy. Lại có một loài động vật thân mềm tên gọi ốc đầu bò, khi bò cũng lảo đảo như Diệp Giáp, chuyện ngã lộn nhào là điều khó tránh.
Chẳng biết người đầu tiên phát hiện ra chiếc hũ của ấu trùng Diệp Giáp trong đống đá vụn dưới gốc sồi sẽ nghĩ ngợi những gì? Liệu người ấy có ngỡ đây là hột quả bị chuột đồng khoét rỗng ruột bỏ lại? Hay là lớp vỏ hạt rụng xuống từ một loài cây lạ nào đó? Bởi lẽ chiếc hũ quả thực trông khá giống một lớp vỏ quả xinh xắn. Song có một điều tôi dám chắc: người ấy hẳn sẽ vô cùng kinh ngạc và hoang mang.
Ngay cả khi người đó thật sự biết được đây là chiếc bình của ấu trùng Cự Giác Diệp Giáp, mối hoài nghi cũng chẳng vì thế mà tiêu tan. Dưới sự bào mòn của mưa gió, chiếc bình không hề mềm nhũn, lại càng không vỡ vụn. Tương tự, khi bị lửa cháy nung thiêu, nó cũng chẳng dễ biến dạng, họa chăng chỉ phai đi màu sắc ban đầu mà hóa thành màu đen. Thực ra sự tình buộc phải như vậy, nếu không, chỉ một cơn mưa rào hay một đốm lửa bùng lên đã đủ dễ dàng hủy hoại chiếc bình, và ấu trùng Cự Giác Diệp Giáp sẽ chẳng còn áo để mặc. Kẻ hiếu kỳ ắt sẽ phỏng đoán chất liệu xi măng của chiếc bình này rốt cuộc có đặc tính gì mà lại đao thương bất nhập, thủy hỏa bất xâm như thế? Rõ ràng phần cốt của chiếc bình mang tính khoáng vật, song bí ẩn về chất kết dính thì vẫn chưa có lời giải.
Để thấu tỏ những khúc mắc ấy, ta cần phải kiên nhẫn quan sát ấu trùng trong thời gian dài. Loài này vốn rất nhát gan, hễ bên ngoài có chút động tĩnh là lập tức thụt lùi vào sâu trong bình, rồi nằm im bất động suốt một khoảng thời gian dài. Ta tin sự kiên trì không biết mệt mỏi của mình ắt sẽ gặt hái thành quả, và thực tế đã đền đáp xứng đáng. Có một lần, trong lúc đang đợi ấu trùng ló đầu ra khỏi miệng bình, ta chợt thấy nó bắt đầu làm việc. Thoạt tiên, nó rụt người vào trong bình trong nháy mắt, lát sau lại chui ra, mang theo một búi sợi màu nâu. Ấu trùng lấy một ít đất bùn tìm được bên ngoài bình trộn lẫn với búi sợi ấy rồi nhào nặn liên tục cho đến khi thật dẻo quánh. Tiếp đó, nó vô cùng thuần thục trát búi sợi lên thành miệng bình, miết phẳng ra thành một lớp màng mỏng dính.
Chỉ dùng mỗi cặp râu và đôi hàm lớn để làm việc, ấu trùng đã kết hợp hoàn hảo công năng của cả bay thợ nề, máy nhào bột, bàn lăn miết lẫn thùng xô đựng vữa. Đôi chân của chúng hoàn toàn chẳng cần dùng tới. Sau khi hoàn thành lượt làm việc thứ nhất, ấu trùng lại lùi sâu vào trong rồi bắt đầu đợt thao tác thứ hai. Quá trình lặp đi lặp lại chừng năm sáu lần, mép miệng bình liền hiện ra một đường viền gờ uốn cong. Đường viền này được nhào nặn từ hai chất liệu, chính là đất bùn và búi sợi đã nhắc tới ban nãy. Nguồn gốc của đất bùn rất rõ ràng, vốn do nó tùy tiện thu nhặt quanh miệng bình, khả năng cao là đất sét. Nhưng búi sợi kia rốt cuộc là thứ gì? Ta thấy ấu trùng tha búi sợi từ tận đáy bình lên, bởi mỗi lần từ trạng thái co rụt lại nhô đầu ra, trên răng nó đều cắp theo một búi sợi màu nâu như thế. Dù không thể tận mắt nhìn thấu bên trong, ta vẫn không ngừng phỏng đoán, bởi ta vô cùng hứng thú với kho dự trữ nằm tít phía sau kia.
Ta có thể khẳng định phần đáy của chiếc bình được bịt rất kín kẽ, không lọt lấy một ngọn gió. Như vậy, phân do ấu trùng bài tiết ra tuyệt đối chẳng thể thoát ra ngoài, bởi ấu trùng ở trong bình căn bản không bao giờ rời khỏi tổ. Hóa ra toàn bộ chất thải đều đọng lại nơi đáy bình, và búi sợi mà ấu trùng mỗi lần tha lên chẳng phải thứ gì khác ngoài chính phân của nó. Ấu trùng đem phân trát vào mặt trong của chiếc bình để gia cố cho thêm phần vững chắc, sau đó phủ lên vách trong một lớp biểu bì nhẵn thín. Khi thân mình lớn dần lên, nó sẽ nới rộng chiếc áo ngoài cho vừa vặn với kích thước cơ thể. Phải làm thế nào đây? Khi ấy nó sẽ cần đến một loại chất kết dính, thứ này thậm chí còn tốt hơn cả búi phân sợi. Ấu trùng sẽ quét dọn sạch sẽ bên trong bình, xoay ngược thân mình lại, dùng đầu chót của hàm lớn gom góp từng búi sợi một rồi trộn thêm chút đất bùn; thế là một loại đất sét gốm tuyệt hảo đã được tạo thành.
Hình dáng chiếc bình do ấu trùng tạo ra rất giống một con quay, phần trước thon nhỏ, phần giữa nở rộng hơn phía trước, còn phần đuôi lại tròn và nhô cong. Khoảng không gian rộng rãi ở khúc giữa mang lại cho ấu trùng không ít sự thuận tiện, giúp nó có thể xoay trở hoặc cuộn mình trong lúc dùng phân để gia cố lớp thành trong. Kích thước của chiếc bình không thể quá lớn cũng chẳng thể quá nhỏ, dĩ nhiên càng không được quá chật chội. Cùng với việc tăng chiều dài của áo theo sự phát triển của cơ thể, nó cũng phải chú ý đến bề rộng, bởi bề ngang vừa vặn mới giúp ấu trùng Cự Giác Diệp Giáp có thể tự do cựa quậy bên trong.
Giống như những loài thân mềm mang lớp vỏ hình con quay, ốc sên trong quá trình trưởng thành cũng thay đổi kích thước vỏ theo sự biến đổi thể tích cơ thể. Chúng tăng đường kính của các vòng xoắn để giúp nơi trú ngụ đáp ứng được nhu cầu phát triển. Song những vòng xoắn chật hẹp trước kia không còn vừa vặn với cơ thể cũng chẳng vì thế mà bị vứt bỏ, bởi khoảng không gian ấy có thể tái sử dụng, biến thành những khoang chứa đồ. Phần thân chính của ốc sên sẽ ngụ trong khoảng không gian mới rộng rãi hơn, còn những khoang chứa chật hẹp kia được dùng để đặt các cơ quan thứ yếu, phần lớn là các bộ phận phụ trợ.
Thế nhưng ốc đầu bò lại không làm như vậy. Thân hình loài ốc này to bè, để nhà cửa thêm phần tiện dụng, mỗi khi cơ thể lớn lên khiến chỗ ở trở nên chật chội, chúng liền dứt khoát vứt bỏ căn nhà cũ. Chúng sẽ xây một gian mới toanh ở phía trước, lấy một vách ngăn cứng cỏi chặn đứng gian nhà chật hẹp phía sau, rồi cuối cùng dùng sỏi đá gõ mạnh vào cho gian cũ rụng hẳn ra ngoài. Cách làm này khiến ngôi nhà trông như bị cụt mất một đoạn, chẳng lấy gì làm đẹp mắt, song bù lại nó giúp ốc đầu bò trút bỏ được không ít gánh nặng.
Cách làm của ốc đầu bò dường như có phần lãng phí, thế nên Cự Giác Diệp Giáp hết sức chê bai. Không chỉ vậy, lối may áo ấy của ốc đầu bò còn tiềm ẩn những mối nguy hiểm không đáng có, bởi nó đòi hỏi quá nhiều thời gian và hao tổn quá nhiều tâm sức. Ngay cả cách may vá của những cô thợ may loài người, Cự Giác Diệp Giáp cũng chẳng vừa mắt: cắt chiếc áo chật ra làm đôi, chắp thêm một mảnh vải mới vào giữa rồi khâu ba mảnh lại với nhau. Cự Giác Diệp Giáp nắm giữ tuyệt kỹ độc môn của riêng mình, chúng không cần phá dỡ ngôi nhà cũ mà vẫn biết cách cơi nới không gian. Bản lĩnh của Cự Giác Diệp Giáp vô cùng cao cường, chúng thậm chí có thể chuyển lớp lót bên trong áo ra ngoài mặt biểu bì. Cách làm cụ thể là: khi cơ thể lớn lên, ấu trùng cạo sạch lớp bên trong, dùng chất kết dính gắn những vật liệu vừa cạo được ra phía ngoài, tạo thành một lớp vách mới tinh. Cứ thế, không gian bên trong tự khắc rộng thêm một khoảng. Lại thêm phần lưng của ấu trùng Cự Giác Diệp Giáp rất mềm mại, nó có thể dễ dàng rướn thân tới tận đáy vỏ, nhờ đó ngay cả phần đuôi cũng được phết thêm một lớp mới. Quá trình mở rộng nơi ở này diễn ra từng bước một, nhịp nhàng và chuẩn xác, toàn bộ vật liệu đều được tái sử dụng trọn vẹn, không hề có chút lãng phí nào. Đống phế liệu cũ được dùng như những viên đá khóa vòm để đắp lên phần đỉnh của ngôi nhà mới. Hơn nữa, Cự Giác Diệp Giáp còn chừa sẵn chỗ cho đường viền trang trí uốn cong kia. Thật thông minh biết bao!
Có lẽ sẽ có người lo lắng: Cự Giác Diệp Giáp cứ liên tục cơi nới, trùng tu nơi ở bằng cách lấy vật liệu cũ đắp ra vách ngoài, vậy liệu có lúc nào vật liệu cũ không còn đủ dùng hay chăng? Nếu thế, lớp vách ngoài của ngôi nhà mới sẽ ngày càng mỏng manh, rồi sẽ có ngày đổ sụp. Ta nghĩ mối lo ấy là thừa thãi, bởi Cự Giác Diệp Giáp đã sớm tính đến chuyện này. Việc tái chế đồ cũ dĩ nhiên không sai, song ấu trùng còn thêm vào đó những vật liệu mới, chính là nắm đất bùn ngay trước cửa nhà, kết hợp với chất keo dán của chúng, độ dày của ngôi nhà có thể được duy trì bất cứ lúc nào. Chiếc bình vừa là nhà vừa là áo của ấu trùng Cự Giác Diệp Giáp luôn giữ được kích cỡ vừa vặn, không rộng không chật, lại vô cùng kiên cố.
Vào mùa đông lạnh giá, ấu trùng sẽ bít kín miệng bình, đất bùn và chất kết dính lại một lần nữa phát huy tác dụng. Đến khi cơ thể bắt đầu bước vào giai đoạn biến thái, nó sẽ đảo ngược phương hướng, quay cái đầu vốn hướng ra miệng bình về tận đáy, còn phần đuôi lại chĩa ngược ra ngoài cửa. Kể từ đó, miệng bình sẽ không bao giờ mở ra nữa. Mãi đến tháng Tư, tháng Năm khi ấu trùng đã vũ hóa thành trùng, nó mới phá vỡ đáy bình từ phía sau rồi chui ra ngoài. Tiết trời lúc này đúng vào độ cây sồi xanh đâm chồi nảy lộc, bọ trưởng thành có thể thảnh thơi trên tán lá mà đón nhận ánh nắng ấm áp vỗ về.
Sự tinh xảo trong việc chế tác chiếc bình của Cự Giác Diệp Giáp là điều không cần bàn cãi, song ta vẫn còn một mối hoài nghi: thuở ban đầu, khi chiếc bình chưa hề có chút manh nha hình hài nào, ấu trùng đã tạo khuôn bằng cách nào? Ta cho rằng đây là một vấn đề vô cùng trọng đại, và đối với ấu trùng cũng là một thử thách vô vàn khó khăn. Lẽ nào một con ấu trùng cự giáp bé nhỏ lại có thể tự mình đúc thành khuôn mẫu mà không cần bất kỳ sự chỉ dẫn nào? Dẫu cho nó sở hữu mâm quay định vị, công cụ định hình chiếc bình và cả bàn tiện cơ học. Rất có thể mẹ của ấu trùng đã di truyền kỹ nghệ đặc biệt này lại cho nó, thế nên việc quan sát hành vi của ấu trùng non vừa mới chào đời là điều hết sức cần thiết. Nhiều khả năng, bí mật của vấn đề ấy lại ẩn giấu ngay trong quả trứng.
Ta chuẩn bị một lồng chụp bằng lưới kim loại hình chuông, bên dưới rải đất cát, lại đặt thêm một chiếc lọ con chứa đầy nước. Trong lọ cắm vài cành sồi xanh non mơn mởn, thỉnh thoảng ta lại thay cành khô héo bằng những cành mới tươi xanh. Dưới chiếc lồng chụp hình chuông này, ta nuôi ba loài Cự Giác Diệp Giáp, gồm có: Cự Giác Diệp Giáp Taxicornis, Cự Giác Diệp Giáp Chân Dài và Cự Giác Diệp Giáp Bốn Đốm. Chúng rất thích cây sồi và thường xuyên nô đùa trên cành lá. Ngoài Cự Giác Diệp Giáp ra, ta còn nuôi thêm vài loài Ẩn Đầu Trùng có ngoại hình khá giống chúng, gồm có: Ẩn Đầu Trùng Ánh Vàng khoác trên mình lớp áo lộng lẫy, Ẩn Đầu Trùng Sồi Xanh và Ẩn Đầu Trùng Hai Đốm. Ta thả Ẩn Đầu Trùng Ánh Vàng vào các cụm hoa đầu của cây cúc ngô, chúng vô cùng thích thú với môi trường sống ấy; còn hai loài kia thì được nuôi trên những cành lá mảnh mai của cây sồi xanh.
Tập tính sinh hoạt của sáu loài côn trùng nhỏ này vô cùng giống nhau. Buổi sáng chúng đều lặng lẽ khác thường, nhưng hễ sang chiều là bắt đầu rộn ràng náo nức. Ngoại trừ Ẩn Đầu Trùng sắc vàng lấy hoa xa cúc làm thức ăn, năm loài còn lại đều sống nhờ lá sồi. Dưới ánh nắng ban chiều, lũ bọ nhỏ bay từ bụi cây sang lưới kim loại, rồi lại từ lưới kim loại bay ngược về bụi cây, qua lại không biết mệt. Chúng sống vui vẻ tự tại, từng đôi từng cặp. Dẫu thường xuyên trêu ghẹo lẫn nhau, chúng lại chẳng hề có ý định giao phối; chỉ sau thoáng chốc vui vầy liền dứt khoát rời đi, chẳng chút lưu luyến, rồi ai nấy lại đi tìm đối tượng mới. Thế nhưng cũng có vài con đực không cam lòng dừng lại ở mức tán tỉnh, không chịu bỏ đi dễ dàng mà bò lên lưng con cái mình phải lòng để ngỏ lời. Dẫu vậy, con cái dường như chẳng hề bận tâm, lúc nào cũng cúi gằm đầu, nom chẳng có chút dục vọng nào. Dù vậy, con đực vẫn kiên trì không nản, không ngừng lắc lư đối phương cho đến khi khơi dậy được ham muốn của bạn tình, để hai con bọ nhỏ cuối cùng cũng thắp lên ngọn lửa ái ân.
Chúng ta đều biết cào cào và muỗm có cặp chân sau khá dài để hỗ trợ bật nhảy. Thế nhưng Cự Giác Diệp Giáp đực cũng có một đặc điểm tương tự, chỉ khác là chân sau của chúng không dài, mà là chi trước dài; vậy điều đó có tác dụng gì với chúng? Tôi quan sát thấy khi bò, đôi chi trước dài ngoằng này chẳng giúp ích được gì, trái lại còn vướng víu, vô cùng bất tiện. Chúng thậm chí còn phải co đôi chi trước dài này lại để tránh những phiền toái không đáng có.
Thế nhưng sau khi chứng kiến tư thế của một đôi Cự Giác Diệp Giáp, suy nghĩ của tôi đã thay đổi. Đôi Cự Giác Diệp Giáp này đang giao phối, cơ thể chúng tạo thành hình chữ T. Con đực đứng thẳng gần như vuông góc, sừng sững như một cành cây nhỏ; còn con cái thì như thanh ngang nâng đỡ bên dưới. Hai con bọ tạo thành một tư thế trái ngược hẳn với dáng vẻ thông thường. Lúc này, con đực sẽ vươn đôi chi trước dài thượt vốn tưởng như thừa thãi ra, quắp chặt lấy vai, ngực trước hoặc phần đầu của con cái. Đây rõ ràng là một điểm tựa vững vàng, giúp giữ thăng bằng rất tốt. Thì ra đôi chi trước kỳ dị của con đực lại giữ vai trò quan trọng đến thế.
Đôi chi trước dài của Cự Giác Diệp Giáp vốn đã được thể hiện ngay trong tên gọi của chúng, chẳng hạn như Cự Giác Diệp Giáp chân dài hay Cự Giác Diệp Giáp tay dài. Cự Giác Diệp Giáp Taxicone và Cự Giác Diệp Giáp sáu đốm tuy tên gọi không hàm chứa ý này, nhưng cách chúng giữ thăng bằng khi giao hợp cũng hoàn toàn tương tự. Khoảnh khắc quan trọng duy nhất trong đời Cự Giác Diệp Giáp cũng nhờ có đôi chi trước dài hỗ trợ mà diễn ra thuận lợi hơn.
Tuy nhiên, Cự Giác Diệp Giáp bốn đốm đực lại không như vậy, chi trước của chúng không hề dài. Thế nhưng chuyện giao phối của chúng cũng chẳng vì thế mà chịu chút ảnh hưởng nào; cơ thể chúng chỉ hơi nghiêng đi, và việc giao hoan vẫn thành công tốt đẹp. Bởi vậy, chúng ta không thể khẳng định chắc chắn rằng Cự Giác Diệp Giáp mọc ra đôi chi trước dài là vì tư thế giao phối khó khăn. Toàn bộ các chi của Ẩn Đầu Trùng đều rất ngắn ngủn, song chúng cũng chẳng hề gặp trắc trở gì khi kết đôi. Cho nên, mỗi loài côn trùng đều có một phương thức sinh tồn và sinh sản riêng biệt. Kỹ năng mà loài này sở hữu có thể là điều loài khác khó lòng với tới, nhưng mỗi một sinh vật đều có cách thích hợp nhất để tự giải quyết vấn đề của chính mình.
