Chương 82
Chương 82: Người bạn cũ ruồi xanh
Đăng ngày 27/09/2026
19
Chưa bao giờ tôi lại thích một mình ngẫm nghĩ về cuộc đời như lúc này. Tôi say mê mơ tưởng về một mảnh trời riêng, một cõi biệt lập và rộng rãi, nơi có thể giúp tôi lánh xa chút bụi bặm thế trần. Nơi ấy mọc đầy cỏ bấc đèn, ở giữa là một hồ nước nhỏ bập bềnh cánh bèo tây. Những khi rảnh rỗi, tôi có thể ngồi dưới bóng liễu rủ thướt tha, đón làn gió nhẹ mơn man đôi cánh tay, ngắm nhìn cuộc sống của muôn loài dưới nước — một cuộc sống thuần khiết của tự nhiên, ngập tràn nét hoang dã ấm áp nhưng chẳng hề mất đi vẻ mộc mạc nguyên sơ.
Tôi quan sát nơi cư trú của loài thân mềm, say sưa ngắm bọ xoay tung tăng đùa giỡn, bọ nước lướt mình trên sóng, bọ niềng niễng lao mình lặn ngụp, và lũ bọ bơi ngửa rẽ gió lướt đi. Nhất là bọ bơi ngửa, nó uể oải khua đôi mái chèo, co cặp chân trước chuyên vồ mồi trước ngực, kiên nhẫn ôm cây đợi thỏ. Thực ra, ngắm ốc đĩa đẻ trứng cũng là một điều vô cùng thú vị. Người ta sẽ nhận ra mầm sống vốn được ấp ủ trong lớp chất nhờn mờ ảo khó phân này. Chúng lấp lánh như những đốm lửa tàn; chính sự vận động đã mang lại điều kiện tiếp nối sự sống. Nó xoay tròn không ngừng, dần dần để lại dấu vết, và sự tiếp nối của dấu vết ấy chính là lớp vỏ ốc mai sau. Những ai hiểu đôi chút về hình học hẳn sẽ nhận ra, các vệt hằn ấy lại vẽ nên quỹ đạo chuyển động của các thiên thể.
Thường xuyên quanh quẩn bên bờ ao khiến tôi nảy sinh nhiều suy tư sâu sắc. Nhưng tạo hóa khéo trêu ngươi, việc đời mấy khi được như ý, những dự định ấp ủ trong lòng rốt cuộc cũng chỉ như trăng đáy nước, hoa trong gương. Tôi đành nhờ vào những vật dụng của nền văn minh công nghiệp để thỏa mãn ước mong tươi đẹp của mình. Hồ nước nhân tạo chẳng thể thực sự tạo ra một cơ chế tương tự như quá trình trao đổi chất của tự nhiên, và không gian do con người dựng nên rốt cuộc cũng không vượt qua nổi quy luật của trời đất. Dẫu vậy, chúng vẫn tự nhiên tạo nên những chiếc tổ phù hợp cho sự sinh tồn, và sự sống lại bắt đầu sinh sôi từ đó.
Tiết xuân ấm áp, những chùm hoa sơn tra Anh quốc màu tím nở rộ, khi bóng đêm buông xuống và tiếng họa mi cùng dế mèn bắt đầu râm ran cất tiếng, nguyện vọng thứ hai cứ thấp thoáng hiện về trong tâm trí tôi. Tình cờ trên đường đi, tôi bắt gặp một thảm kịch khiến lòng khó nguôi ngoai: một con chuột chũi chết và một con rắn nước bị đánh chết tươi, nguyên nhân cái chết của chúng chẳng nói cũng rõ. Ta hoàn toàn có thể hình dung ra cảnh tượng: một con chuột chũi đang đi tìm thức ăn — mà thức ăn chính của chúng lại là sâu bọ hại mùa — chẳng may bị người nông dân đang làm việc ngoài đồng bắt gặp. Thói quen cố hữu khiến họ vừa thấy chuột chũi liền vung chiếc xẻng rỉ sét bổ xuống không thương tiếc, rồi tiện tay ném xác bên lề đường. Số phận của con rắn nước cũng chẳng khác là bao. Nắng ấm khiến chúng thức giấc từ rất sớm, bắt đầu một vòng tuần hoàn mới của sự sống; chúng trút bỏ lớp da cũ, khoác lên bộ áo mới, tiếc thay lại bị kẻ qua đường ngu muội bắt gặp. Họ mượn cớ trừ hại để đánh chết con vật có ích đang giúp nhà nông diệt sâu bọ, nỗi oan ức ấy lớn biết chừng nào.
Xác chết rữa nát bắt đầu bốc mùi thối rữa, các sinh vật sống đi ngang qua chẳng buồn để mắt đến hai cái xác. Một người nghiên cứu đi qua nơi này, nhìn thấy trên hai sinh mệnh vừa mất ngọ nguậy một đàn côn trùng. Lũ sinh vật nhỏ bé ấy đang bận rộn xử lý hai cái xác một cách trật tự, có lẽ tốt nhất chúng ta đừng nên quấy rầy những người lao động lo việc ma chay này.
Quá trình phân hủy xác chết vẫn diễn ra theo lệ thường. Đội ngũ dọn dẹp bận rộn đang từng bước biến đổi những vật chất phân rã thành một dạng tồn tại khác. Và việc quan sát trọn vẹn cảnh tượng này chính là một ước mong tôi hằng ấp ủ bấy lâu mà chưa thực hiện được. Tôi phải đi thôi, dẫu không nỡ cất bước, nhưng tôi không thể đứng đây mãi để nhìn con chuột chũi chết thảm cùng lũ sâu bọ phân hủy nó. Nơi đây chẳng thích hợp để tôi luận bàn đạo lý lớn lao; tôi phải rời khỏi bãi tha ma bốc mùi này, nếu không đi ngay, khách qua đường sẽ nhìn hành vi của tôi bằng ánh mắt thế nào đây?
Nếu tri thức trong sách vở hiện hữu ngay tại hiện trường, chúng ta sẽ đặt sự chú ý vào đâu? Liệu ta có một lập trường kiên định và rõ ràng? Nên thương hại kẻ gặp nạn hay khinh bỉ lũ rỉa xác đang gặm nhấm cái thây kia? Thực ra, chúng ta không cần phải suy nghĩ theo góc độ đó. Điều ta nên bận tâm nhất chính là quá trình ngắn ngủi từ lúc sinh ra đến khi tàn lụi của sự sống. Sự sống được vi sinh vật tích tụ dần mà thành, song số mệnh đã an bài. Chẳng ai trong chúng ta thoát khỏi số phận bị một dạng vật chất khác phân hủy. Đến đây, câu hỏi của tôi đã có lời đáp. Lũ ốc đĩa dưới ao đã trả lời rành rẽ thắc mắc đầu tiên của tôi, còn con chuột chũi đáng thương cũng giải thích thỏa đáng cho mối nghi hoặc thứ hai. Tóm lại, tất cả chỉ là một quá trình tan rã, lụi tàn cũng chính là khởi đầu, chúng ta chẳng cần phải giả nhân giả nghĩa làm gì! Cứ để những kẻ không hiểu sự sống sớm rời khỏi không gian chẳng thuộc về họ đi thôi.
Nguyện vọng thứ hai của tôi đã hé mở manh mối. Dường như tôi đã tìm được một nơi thích hợp để ẩn cư; nơi đây rất yên tĩnh, không một ai quấy rầy, một khoảng sân riêng biệt khép kín quả là quá đỗi lý tưởng cho một người nghiên cứu như tôi.
Thế nhưng lũ phá phách như họ nhà mèo vẫn khiến tôi vô cùng lo lắng. Chúng suốt ngày lêu lổng, nếu để lũ này phát hiện ra khu vực nghiên cứu của tôi thì hậu quả thật khó lường. Khả năng mọi thứ bị phá hoại là rất cao, tôi đã lường trước điều đó nên bắt tay vào dựng một "lầu gác giữa không trung", nơi chỉ có những kẻ chuyên xử lý xác thối mới có thể bay tới.
Quá trình làm cụ thể thực ra rất đơn giản: tôi buộc ba cành lau sậy lại với nhau tạo thành chiếc giá ba chân rồi đặt ở các góc khác nhau trong sân. Giá cao chừng một đầu người, bên trên treo một chiếc hũ đựng đầy cát; để nước thừa thoát ra khi trời mưa, tôi đục một lỗ nhỏ dưới đáy hũ. Tôi đặt xác các loài sinh vật thu nhặt được vào trong hũ. Tất nhiên nếu điều kiện cho phép, lựa chọn ưu tiên của tôi là rắn nước, thằn lằn, cóc tía, bởi chúng đều có chung một đặc điểm: da trần không lông, nhờ thế dễ quan sát lũ khách không mời xâm nhập vào xác chết hơn. Đồ tôi gom góp được chủ yếu nhờ vào công sức siêng năng của lũ trẻ nhà hàng xóm; chúng sẽ dùng tiền công tôi trả để mua những món đồ mình thích. Hễ vào hè, nguồn hàng của tôi càng dồi dào hơn: thường có rắn treo đầu gậy mang đến, có thằn lằn bọc trong lá cải, chuột cống sập bẫy chuột, gà con chết khát, chuột chũi bị đánh chết, mèo con bị xe cộ cán phải, lại có cả thỏ ăn phải cỏ độc mà chết. Chuyện mua bán của tôi rất sòng phẳng, già trẻ không lừa; một mối giao dịch mới lạ đến mức có thể gọi là xưa nay chưa từng thấy. Lâu dần, đồ chứa trong hũ cứ đầy thêm. Sở dĩ tôi phải dày công treo hũ lên cao như vậy là để ngăn lũ quấy nhiễu mò tới xưởng của mình, thế nhưng kẻ trêu ngươi vẫn xuất hiện: một con kiến men theo thân sậy bò lên, thật là một gã tham lam! Con vật này vừa mới chết, chưa hề bốc mùi cho thấy nó đã mất mạng. Vậy mà kẻ săn mồi đã đánh hơi ra; nếu thấy hợp khẩu vị, chúng sẽ định cư quanh đây cho tới khi xơi tái hết nguồn thức ăn mới thôi.
Lũ kiến bận rộn nhất vào mùa của mình, chúng luôn phát hiện xác chết sớm nhất, rồi chỉ thong thả rời đi khi cái xác chẳng còn chút gì có thể rỉa gặm được nữa. Con kiến sục sạo kiếm ăn này đã tìm thấy cái xác trên tầm cao mà mắt nó vốn không trông tới, dẫu nó chẳng phải chuyên gia rỉa xác thực thụ, âu cũng nhờ khứu giác vô cùng nhạy bén. Đợi khi cái xác thực sự bốc mùi xú uế, binh đoàn chuyên nghiệp mới ùa tới, gồm có: Bì Đố, Hủ Diêm Trùng, bọ xác phẳng, bọ táng xác, ruồi cùng bọ cộc. Chính chúng mới là kẻ tiêu hóa triệt để toàn bộ cái xác.
Trong số đó, không thể không nhắc tới loài ruồi — bậc thầy cao cấp hơn hẳn những kẻ dọn xác khác. Căn cứ vào tập tính hoạt động của chúng, ta có thể tiến hành quan sát và nghiên cứu, mà tiện nhất là dùng ruồi xanh và ruồi thịt.
Ruồi xanh là loài côn trùng hai cánh quen thuộc với mọi người. Màu sắc của nó rất đặc biệt, lại óng ánh rực rỡ, đẹp đẽ chẳng kém gì Kim Tượng Hoa kim quy hay Cát Đinh. Tôi vẫn thường cảm thán rằng tấm áo lộng lẫy nhường ấy lại khoác lên mình kẻ quét dọn xác chết thối rữa, thật chẳng tương xứng chút nào. Ba loài ruồi xanh thường xuyên ghé thăm xưởng của tôi gồm có ruồi xanh Xoa Diệp, ruồi xanh ăn xác và ruồi xanh Cư Bội. Ruồi xanh Xoa Diệp và ruồi xanh ăn xác mang sắc xanh ánh vàng kim, còn ruồi xanh Cư Bội lại có màu đồng đỏ. Nhưng chúng có điểm chung là đôi mắt đỏ rực viền một dải ánh bạc xung quanh. Chỉ tính riêng kích thước, ruồi xanh ăn xác là loài to lớn nhất trong họ ruồi xanh. Tôi tình cờ bắt gặp một con đang trong thời kỳ sinh nở; nó chọn một chỗ ấm áp rồi đẻ trứng lên đốt sống cừu. Tôi như trông thấy đôi mắt đỏ cùng khuôn mặt sáng ánh bạc của nó. Thu lượm số trứng này với tôi chẳng có gì khó khăn. Tổng cộng có chừng 157 chiếc nhộng, nhưng theo quy luật sinh sản của ruồi xanh thì đây mới chỉ là một phần số trứng mà nó đẻ ra. Làm sao biết được ruồi xanh đẻ trứng thành từng đợt? Cảnh tượng sau đây hẳn có thể dùng làm bằng chứng: Một con chuột chũi nằm ngửa nhiều ngày trên cát, phơi mình dưới nắng gắt, trên bụng nó phồng lên một chỗ. Chúng ta đều biết ruồi xanh cũng như các loài côn trùng hai cánh không bao giờ đẻ trứng trên bề mặt lộ thiên; chúng sẽ chọn những nơi râm mát để tránh ánh nắng thiêu đốt làm hỏng phôi thai. Vậy nên lớp da của xác động vật chính là nơi trú ngụ tuyệt vời, miễn sao chúng tìm được cách chui vào trong.
Quan sát kỹ lưỡng mới thấy, lối vào bên dưới lớp da chính là các nếp gấp dưới bụng. Chúng tiến hành "công cuộc sinh sản" tại đây. Lũ ruồi cực kỳ chuộng chốn này cũng bởi chất lượng nơi đây quá đỗi tuyệt vời; con bay ra chưa dứt, con khác đã vội vã chui vào, cảnh tượng ra vào diễn ra hết sức nhịp nhàng, trật tự. Người tinh ý còn biết rằng việc đẻ trứng là cả một quy trình bài bản, có lúc làm việc, có lúc nghỉ ngơi, song điều cốt yếu chúng phải nắm chắc là trứng đã vào ống dẫn trứng hay chưa; chỉ khi trứng đã vào vị trí, chúng mới có thể thở phào trút bỏ căng thẳng.
Để quan sát kỹ hơn, tôi cẩn thận nhấc con vật đang đẻ trứng lên, tất nhiên không làm gián đoạn việc của nó. Mọi động tác vẫn gấp gáp mà đâu ra đấy, chỉ nhằm đưa trứng vào sâu trong ổ. Thi thoảng có chuyện chen ngang: lũ kiến nhanh nhẹn kéo đến cướp vài quả trứng. Nhưng chừng ấy chẳng ảnh hưởng đến cả ổ trứng, và ruồi xanh cũng không cần ngăn cản, bởi trong bụng chúng vẫn còn trứng để bù vào số đã mất. Lượng trứng sống sót đã đủ để duy trì nòi giống. Trong xác chết, giữa thứ máu mủ hôi thối, ta thấy dấu hiệu của sự sống đang ngọ nguậy. Những con giòi nhúc nhích trong đó, dần đội cả phần giữa xác lên. Cảnh tượng thật đáng sợ.
Trong chiếc bình ở xưởng của tôi có một con rắn nước. Thân nó cuộn lại, những nếp và vảy trên da tạo thành nơi đẻ trứng lý tưởng, khiến ruồi liên tục tìm đến. Đôi khi chúng liều lĩnh đến mức cố nhét bụng và ống dẫn trứng vào tận những khe sâu. Việc đẻ trứng khá phức tạp, thỉnh thoảng ngắt quãng, nhưng vẫn diễn ra nhanh. Chỉ ba bốn giờ sau, chỗ ấy đã phủ kín một lớp trứng dày đặc. Tôi dùng chiếc xẻng nhỏ bằng giấy lấy vài quả trứng trắng, đặt vào ống thủy tinh rồi thêm thức ăn cần thiết. Khi sắp nở, trứng có dạng hình trụ. Trong hai mươi bốn giờ tiếp theo, tôi theo dõi những sinh vật chui ra từ đó. Ấu trùng ăn bằng cách nào? Kiểu ăn khác thường ấy có thật là ăn không? Nếu chỉ xét chuyện lấy thức ăn vào cơ thể, cách của chúng quả cũng có lý.
Ở những ấu trùng có phần đầu hơi lớn, hình dáng cơ thể càng thú vị. Toàn thân chúng gần giống một hình nón dài: đầu nhọn, phần ngay sau đầu rộng hơn, còn đuôi như bị cắt ngang. Quan sát kỹ sẽ thấy ở đuôi có những chấm nâu đỏ, gọi là lỗ thở. Đầu là nơi mở vào đường ruột. Bên trong có hai móc vuốt màu đen có thể thò ra thụt vào, nhưng không thể xem chúng là hàm lớn. Chức năng của chúng khác hẳn, hơn nữa hai móc của hàm lớn không thể chạm vào nhau.
Xem cặp móc ấy là bộ phận nhai cũng không đúng; chúng chủ yếu giúp giòi di chuyển. Chính những lần thò ra thụt vào liên tục tạo lực đẩy cho nó bò đi. Dưới kính hiển vi, ta có thể quan sát toàn bộ quá trình ấy. Tôi đặt một con giòi lên miếng thịt. Nó lúc cúi đầu, lúc ngẩng lên, không ngừng dùng móc chạm vào thịt. Nhưng lượng thịt không hề giảm; có thể nói nó chẳng nuốt phần thịt nào do cặp móc kéo lên.
Điều đó càng khó hiểu. Giòi lớn lên từng ngày, vậy mà tôi không thấy chúng ăn. Nếu không ăn thức ăn rắn, hẳn chúng phải hút chất lỏng, hoặc tự biến thức ăn rắn thành chất lỏng?
Tôi cần tìm hiểu chúng lấy thức ăn vào cơ thể ra sao. Trước tiên, tôi chọn một miếng thịt đã xử lý và làm khô, đặt vào ống nghiệm, rồi cho lên đó số trứng thu được từ con rắn nước. Một miếng thịt khác, được xử lý y hệt nhưng không đặt trứng, dùng làm mẫu đối chứng.
Kết quả thật kinh ngạc. Miếng thịt có giòi đã trở nên rất ướt; mặt kính ở mọi nơi giòi bò qua đều đọng hơi nước dày, trong khi miếng thịt ở ống đối chứng vẫn khô. Rõ ràng, hơi ẩm không phải tự có trong thịt mà đến từ giòi. Khi chúng tiếp tục hoạt động, miếng thịt trong ống nghiệm dần tan hết, biến hoàn toàn thành chất lỏng gọi là Dịch chiết Liebig. Có lẽ sẽ có người cho rằng thịt tự ôxy hóa rồi hóa lỏng, nhưng không phải vậy. Miếng thịt đối chứng tuy đổi màu và mùi, bản chất vẫn không thay đổi. Vậy giòi đã gây ra một phản ứng hóa học làm biến đổi thịt, có thể tương tự tác dụng của dịch vị.
Để chứng minh thêm, tôi thử với lòng trắng trứng đã luộc và thu được bằng chứng rõ ràng hơn. Dưới tác động của giòi ruồi xanh, lòng trắng trứng biến thành chất lỏng không màu, nhiều đến mức chính giòi cũng có thể chết ngạt trong đó vì lỗ thở ở đuôi bị ngập. Ở ống nghiệm đối chứng, tôi cũng đặt lòng trắng trứng đã luộc nhưng không cho giòi vào. Kết quả, nó càng để càng cứng, hoàn toàn không hóa lỏng.
Sau đó, tôi thử tiếp với gluten, fibrin trong máu, casein và protein đậu gà; tất cả đều cho cùng một kết quả. Giòi hấp thụ protein và lớn rất khỏe. Thông thường, ngay cả khi rơi vào chất lỏng, chúng cũng không chết đuối.
Vì không ăn được thức ăn rắn, giòi phải biến mọi thứ thành chất lỏng trước khi hấp thụ. Thức ăn lỏng bảo đảm cho chúng sống; nói cách khác, chúng ăn bằng cách uống súp. Giòi tiết dung dịch để phân giải thức ăn rắn thành chất lỏng. Cặp móc giúp đưa dung dịch ấy ra ngoài; thành phần chủ yếu của nó là enzym phân giải protein. Nghĩa là giòi tiêu hóa thức ăn trước, rồi mới ăn.
Những người nghiên cứu tác dụng của dịch vị có thể rút ra một gợi ý đáng kinh ngạc từ thí nghiệm này. Chúng ta không cần dùng quạ mỏ nhỏ để thử nghiệm nữa: chỉ với giòi, tôi đã khiến những chất ấy hóa lỏng. Có điều, dạ dày làm việc bên trong cơ thể, còn giòi thực hiện quá trình phức tạp đó ngay trước mắt chúng ta.
Nghĩ lại, khi thấy giòi cắm đầu vào chất lỏng, ta khó tránh tự hỏi: như thế thật sự là nhai sao? Làn da trơn nhẵn của chúng còn dễ khiến người ta ngỡ rằng chúng hấp thụ thức ăn qua da. Có thể dựa vào những biến đổi ở trứng bọ hung và côn trùng ăn phân để suy đoán cách sống của giòi ruồi xanh.
Còn một thí nghiệm rất đơn giản có thể cho thấy giòi tiêu hóa trước khi ăn. Ta đặt xác chuột chũi, rắn nước hoặc một con vật khác vào bình cát ngoài trời, rồi phủ lưới để ngăn những sinh vật phân hủy khác xâm nhập. Sau một thời gian, nắng gắt sẽ hong xác thành một khối khô cứng. Dù có chất lỏng rỉ ra, không khí khô nóng cũng nhanh chóng làm nó bốc hơi. Nhưng nếu bỏ lưới để các sinh vật phân hủy tự do kéo đến, cảnh tượng sẽ khác: xác tiết ra thứ nước hôi thối, cát cũng ướt theo. Đó là lúc quá trình hóa lỏng bắt đầu.
Tôi đặc biệt nhớ một lần dùng con rắn nước dài đến một mét rưỡi, thân to gần bằng miệng bình cát. Kết quả khiến tôi sửng sốt. Vì con rắn quá lớn, rất nhiều ấu trùng ruồi xanh ngập hẳn trong khoảng không chật chội, nhầy nhụa như đầm lầy ấy. Trong bình ngày càng ướt, như vừa có mưa; chất lỏng thỉnh thoảng nhỏ xuống từ lỗ dưới đáy. Con rắn dần biến mất trong bình, đất trở nên nhớp nháp, bên trên chỉ còn lại ít xương và vảy.
Giòi trông chẳng có gì đáng chú ý, nhưng vai trò của chúng không thể xem nhẹ. Chúng phân giải xác chết đến mức tối đa, giúp sinh vật đã chết trở về với đất, đồng thời nuôi sống chính mình. Chúng lấy năng lượng từ xác chết, chuyển nó sang một dạng khác; rồi cuối cùng, tất cả lại trở về lòng đất, nuôi dưỡng cây cỏ.
