Chương 622
Chương 622: Quyển hai mươi lăm: Lão nông giữa đồng
Đăng ngày 30/09/2026
19
Ở nông thôn, tháng sáu không phải mùa bận rộn. Hoa màu cần gieo đều đã gieo xong, những ngọn ngô xanh biếc trên đồng mùa này mới cao ngang thắt lưng.
Buổi trưa hôm đó, giữa chuỗi ngày mưa dầm dề ở Kiềm Châu, hiếm hoi lắm mới có một ngày hửng nắng.
Tôi lần theo bờ ruộng đi thẳng về hướng Quan Trang, chẳng bao lâu đã thấy một lão nông to béo đi giày vải giải phóng, tay cầm cuốc đang cặm cụi giẫy cỏ dại.
Một bà lão khác xách bao phân đạm, còng lưng rải từng vốc phân vào từng gốc cây.
"Bác ơi! Làm đồng đấy à?"
Tôi cất tiếng gọi. Hai người già lập tức thẳng lưng dậy, ngó về phía tôi.
Lão nông chống cuốc nhìn tôi một lượt, rồi hỏi:
"Cậu là ai thế?"
"Tôi là công an, xuống thôn tìm hiểu chút tình hình. Tôi muốn hỏi, trưởng xóm bên Quan Trang ở đâu ạ?"
Quan Trang không phải là làng, dưới làng quê thường chia làm mấy xóm, chức thôn trưởng thực ra khá to.
Nghe tôi hỏi, lão cau mày chặt hơn: "Tôi là trưởng xóm Quan Trang đây, cậu muốn hỏi chuyện gì?"
Tôi trèo lên bờ ruộng, bước vào mảnh đất rồi hỏi: "Tôi đang điều tra mấy vụ án mạng trong khoảng mười hai mươi năm trở lại đây. Muốn hỏi xóm mình những năm qua có trường hợp nào… chết bất thường, hình thù kỳ dị đáng sợ không?"
"Chết kỳ dị đáng sợ á?"
Lão lặp lại câu hỏi, đứng dưới nắng chau mày ngẫm nghĩ.
Rồi lắc đầu với tôi: "Không có chuyện đó đâu."
Đây là ngôi làng cuối cùng rồi. Nghe câu trả lời này, tôi nhất thời hoang mang.
Đám người chết ở Đại Phần Bá là dưỡng chất ban đầu nuôi dưỡng Cổ Vương, thứ bò ra từ đống xác chết như nó chắc chắn phải hại người dân quanh đây để sống sót và kéo dài tuổi thọ.
Chẳng lẽ mình phán đoán sai, mọi chuyện vốn không như mình nghĩ?
"Vâng, thế làm phiền bác rồi."
Nói xong, tôi định quay về để tính toán lại đầu đuôi mọi việc.
Nhưng vừa xoay người lại, bà cụ rải phân bón bỗng cười trêu một câu:
"Tận trên thành phố xuống, chân cẳng cậu trẻ khỏe thật đấy. Chúng tôi cũng sắp xong việc đồng áng rồi, vào ăn bữa cơm rồi hẵng về. Không đi giữa đường lại đói lả ra đấy."
"Thế sợ phiền hai bác quá."
Lão nông nhe hàm răng sún: "Thanh niên khách sáo làm gì? Bảo ăn thì vào mà ăn."
Bụng tôi lúc này đúng là đói đến cồn cào cả dịch vị, nhưng tính người mình vốn thế, dẫu muốn ăn vẫn phải đẩy đưa vài câu lấy lệ.
Vùng Kiềm Châu vì địa thế hiểm trở nên thời này các nhà nông cũng chẳng có của ăn của để gì nhiều, vậy mà hai ông bà lão vẫn làm cho tôi một đĩa đồ mặn.
Gia cảnh nhà họ chẳng hề dư dả, tôi sợ ăn hết phần của chủ nhà nên chỉ nhai chậm nuốt kỹ, lót dạ chừng bốn phần no.
Lão nông mang danh trưởng xóm, lúc ngồi vào mâm vẫn không quên khoe khoang vài câu:
"Cái xóm của chúng tôi ấy mà, nhìn khắp mấy xóm quanh đây thì thuộc loại thuần hậu nhất. Mấy chục năm nay, đừng nói là có người chết, đến đánh nhau còn hiếm."
Tôi vừa ăn vừa phụ họa: "Thế chắc chắn là nhờ bác lãnh đạo sáng suốt rồi."
Lời vừa dứt, bà cụ đã cất giọng chẳng đúng lúc chút nào:
"Cả ngày chỉ giỏi bốc phét, chuyện lợn bò trong xóm bao năm nay ông đã tra ra chưa?"
Bị bóc mẽ, mặt lão trưởng xóm đỏ bừng.
"Tôi đang nói chuyện với đồng chí đây, bà chen mồm vào làm gì?"
Miệng thì trừng mắt lườm vợ, nhưng nhìn nét mặt lão, tôi nhận ra ngay lão cũng thuộc dạng sợ vợ.
Bà cụ bưng ra một âu canh đậu phụ nấu rau, rồi nói với tôi: "Trong xóm năm nào cũng mất trâu bò với lợn, Cửu Oa cậu không biết đâu, đứa trộm ngay trong đêm lột sạch thịt con vật trong chuồng, vậy mà mấy con súc vật đó tuyệt nhiên không kêu lấy nửa tiếng, quái lạ lắm."
Nghe đến đó, sắc mặt tôi đanh lại.
Tôi nhìn sang bà lão, gặng hỏi: "Rốt cuộc là thế nào, bác kể rõ cho tôi nghe được không?"
Bà cụ đang rỗi việc, bèn kể cho tôi nghe chuyện mùa hè năm năm trước.
Chuyện này thực ra xảy ra ngay tại nhà họ.
Chiều hôm đó, con trai bà dắt bò từ ngoài đồng về.
Nhốt bò vào chuồng xong, cả nhà ăn cơm rồi đi ngủ.
Nhà ở nông thôn thường làm theo kiểu trên gác xép để người ở, dưới gầm là chuồng lợn chuồng bò.
Chập tối hôm ấy, cậu con trai nghe thấy tiếng bò rống nghẹn.
Trên gác nghe rất rõ, nhưng ban đêm gia súc thỉnh thoảng kêu vài tiếng cũng là chuyện thường nên người trong nhà chẳng để ý.
Vả lại, do năm nào cũng có gia súc chết nên để đề phòng, nhà họ đã xích hai con chó trong chuồng.
Hai con chó này rất dữ, ngoài người nhà ra hễ thấy ai là sủa ầm ĩ. Trộm có hung hãn đến đâu thì với tính cảnh giác của loài chó, sao có thể im hơi lặng tiếng được?
Huống hồ là tận hai con.
Nhưng sang sáng hôm sau, cả nhà thức dậy chuẩn bị ra đồng làm việc, cậu con trai mới xuống chuồng dắt bò.
Chưa kịp bước vào chuồng, một mùi tanh tưởi nồng nặc đã xộc thẳng vào mũi.
Lại gần nhìn, con bò trong chuồng đã bị róc sạch thịt, chỉ còn trơ lại bộ xương khổng lồ.
Còn hai con chó từ đầu chí cuối không hề sủa lấy một tiếng. Lúc con trai bà bước vào xem, chúng còn đang gặm xương bò và vẫy đuôi với hắn.
Thế là tối hôm đó, cả nhà ôm nỗi căm hờn, làm một bữa thịt chó no nê.
Nhắc đến chuyện này, lão trưởng xóm vẫn nặng trĩu mặt: "Hai con súc sinh tiệt giống, câm họng cả đêm, toi mất con bò cày của người ta."
Cùng lúc đó, con trai của lão trưởng xóm và vợ anh ta ở gian đối diện bước ra.
Con trai lão gầy nhẳng, cao ngồng, còn người vợ lại đẫy đà, thô kệch.
"Cán bộ mà tra được thì ráng giúp chúng tôi với. Năm nào cũng mất gia súc thế này, người ở đây chắc phải dọn đi hết mất."
Tôi gật đầu: "Được chứ. Đã đến đây rồi thì tối nay tôi xin tá túc lại một đêm. Tranh thủ trời còn sáng, tôi qua mấy nhà khác hỏi thêm."
Trao đổi xong, tôi gần như dám chắc con Cổ Vương kia nhất định đang ẩn nấp trong ngôi làng này.
Năm nào cũng chết, lại còn là đại gia súc, chắc chắn là hai con quái vật kia hằng năm phải mò ra kiếm ăn để bồi đắp năng lượng.
Nhưng điều khiến tôi khó hiểu vẫn là điểm đó: Bao nhiêu năm qua, sao không thấy nó săn giết người sống?
Không hiểu thì tính sau, trước mắt cứ phải bắt tay vào tra xét đã.
Ăn xong bữa trưa, tôi lại rảo bước đi sâu vào trong làng.
