Chương 1370
Chương 1370: Thuốc độc mãn tính (1)
Đăng ngày 02/10/2026
19
"Lời tuy nói vậy, song cũng phải cẩn trọng dân biến!"
Trong Nam Thư Phòng, Giải Tấn vẻ mặt nghiêm nghị: "Dù sao cũng là hội đường xây dựng mấy trăm năm, đám hậu duệ mũ xanh kia lại sống quần cư, không thông hôn với người ngoài, cẩn thận, tuyệt đối phải cẩn thận!"
"Ha! Giải học sĩ à, ngươi đúng thật là kiến giải của kẻ hủ nho!"
Chu Cao Sí bưng chén trà nóng cười nói: "Ngươi coi hai vạn binh lính của Khai Phong Đô chỉ huy sứ là phường ăn hại chắc?" Nói đoạn, hắn đặt chén trà xuống: "Năm Hồng Vũ thứ ba của Đại Minh, Thái Thượng Hoàng quản lý tăng lữ trong thiên hạ, lập Tăng Lục Ty từng nói, ngoài Phật và Đạo ra thảy đều là tà giáo!"
Nói tới đây, trên mặt Chu Cao Sí thoáng nụ cười khẩy, đó là nét mặt đặc trưng của người họ Chu, tựa như liếc mắt nhìn người, đối với ai cũng vừa không phục lại vừa khinh miệt.
"Tuân theo lễ pháp Đại Minh ta, mới chuẩn cho theo tập tục của họ. Bằng không, cứ thử xem?"
"Kẻ tin Bồ Tát có nhiều không? Lúc diệt thì ai dám bước ra nói một chữ 'không'?"
~
Trong Điện Càn Thanh, Chu Doãn Thông đi trước, Phương Hiếu Nhụ theo sau, kẻ trước người sau tiến vào noãn các.
"Ngồi đi!" Chu Doãn Thông ngồi xuống chiếc giường La Hán kê sát cửa sổ, mở lời: "Vừa rồi trẫm thấy khanh dường như còn lời chưa nói hết, nay chỉ có hai quân thần ta, cứ nói thẳng không sao!"
"Hoàng thượng!" Phương Hiếu Nhụ chắp tay nói: "Kỳ thực nói tới Nhất Tứ Nhạc Nghiệp giáo này, thần lại nhớ tới vài chuyện khác!"
"Ái khanh cứ việc nói hết!" Chu Doãn Thông mỉm cười: "Vương Bát Sỉ, dâng trà cho Phương ái khanh!"
"Nói ra thì, Nhất Tứ Nhạc Nghiệp giáo này theo thần thấy có đôi phần tương đồng với Cảnh giáo từng thịnh hành thời tiền triều Đại Nguyên!" Phương Hiếu Nhụ nhíu mày suy ngẫm, chậm rãi lên tiếng.
"Ừm, chuyện này trẫm biết!" Chu Doãn Thông vẻ mặt nghiêm nghị.
Cảnh giáo, thời Đại Nguyên gọi là Dã Lý Khả Ôn. Mẹ và vợ của Húc Liệt Ngột, cháu nội của Thành Cát Tư Hãn, người lập ra Y Lợi Hãn quốc, đều tôn sùng thứ đạo này.
Ngay từ trăm năm trước, vào thời kỳ Mông Cổ cường thịnh không ngừng tây chinh, phương Đông và phương Tây cùng với chiến tranh cũng nảy sinh giao lưu tấp nập. Mà người Mông Cổ sinh ra nơi thảo nguyên chất phác thô mộc, đối với các loại thần tiên đều sẵn lòng kính sợ tự nhiên.
Bởi thế Cảnh giáo mới bắt đầu lưu truyền rộng rãi.
Kể từ khi mũi nhọn binh mã Mông Cổ chạm tới Hung-ga-ri, Giáo đình La Mã đã liên tục phái sứ tiết đến yết kiến Dã Khả Ngột Lỗ Tư, tức Hoàng đế của Đại Mông Cổ Quốc. Ban đầu dụng ý của họ là thỉnh cầu Đế quốc Mông Cổ không tấn công các nước phương Tây nữa, nhưng đối với Đế quốc Mông Cổ đang lúc thịnh thế, việc trẫm không cấm người trong cương thổ tin thứ giáo này với việc trẫm vung đao chém ngươi là hai chuyện chẳng chút can hệ.
Về sau, Giáo hoàng Giáo đình La Mã đích thân gửi thư cho Đại hãn Mông Cổ, yêu cầu từ việc bãi binh hạ xuống mức không được giết hại giáo đồ. Rốt cuộc vẫn vô dụng, đại quân Mông Cổ đi tới đâu nơi đó biến thành bình địa.
Để tỏ thành ý, cũng là vì khiếp sợ, Giáo hội La Mã do Giáo hoàng Ni-cô-la Đệ Tứ đích thân phái sứ tiết đến.
Đây trở thành khởi đầu cho việc thông thương bang giao chính thức giữa triều Nguyên và Giáo đình La Mã. Suốt trăm năm sau đó, các Hoàng đế Đế quốc Mông Cổ không những chuẩn cho họ truyền giáo, mà còn chuẩn cho xây dựng Thập Tự tự, thậm chí ban cho đặc quyền nhất định.
Thậm chí vào cuối thời Mông Nguyên, dưới triều Nguyên Thuận Đế, Giáo hoàng La Mã còn phái giáo sư Đại học Ba-ri là Ni-cô-la lập sứ đoàn sang thăm Đại Nguyên. Còn Nguyên Thuận Đế cũng lệnh cho người Giéc-manh tên Uy-liêm và người Khiết Đan tên A Lan lập sứ đoàn mười sáu người đi sang La Mã.
Có thể nói suốt triều Nguyên, Cảnh giáo đã bén rễ đâm chồi và phát triển lớn mạnh trên mảnh đất Trung Hạ.
Cảnh giáo và Nhất Tứ Nhạc Nghiệp giáo vốn cùng một gốc rễ, các ngày lễ đều như nhau, giáo nghĩa cũng đại đồng tiểu dị.
"Trẫm nhớ từng nghe lão gia tử nói, thuở trước bắc phạt thành công, trong kinh thành Đại Đô của Nguyên triều vẫn còn mấy ngôi Thập Tự tự, tăng nhân Sắc Mục có tới mấy vạn!" Chu Doãn Thông tiếp lời: "Lão gia tử khi ấy hạ lệnh, phàm những gì hoàng thất nhà Nguyên dựng nên, cùng với đám ngoại nhân được che chở, thánh đường tu viện ắt phải thiêu rụi toàn bộ."
Rất nhiều chuyện chi tiết nhỏ nhặt trong lịch sử đều vùi sâu trong bụi bặm. Một câu nói nhẹ như gió thoảng này, không biết đã ẩn giấu bao nhiêu trận mưa máu gió tanh.
Kỳ thực chẳng riêng gì Bắc Bình, các nơi như Tuyền Châu, Chương Châu cũng từng là chốn truyền bá hưng thịnh của Cảnh giáo, song giờ đây không còn sót lại nửa phần tông tích.
Hậu nhân có lẽ sẽ nói, văn hóa của chúng ta là biển cả, có thể thanh lọc bao dung hết thảy, bất kể thứ gì từ ngoài du nhập vào đều định sẵn sẽ bị chúng ta đồng hóa. Thế nhưng, điều phải để cho hậu nhân biết được là, sở dĩ văn minh của chúng ta trước sau sừng sững không đổ, không bị văn minh ngoại lai xâm lấn, là bởi vì có một lớp người, một lớp người nhìn qua thì hèn mọn bài ngoại, nhưng lại là những kẻ bảo vệ kiên định và cố chấp.
Lịch sử của chúng ta được viết bằng máu, văn minh của chúng ta cũng đồng dạng được kéo dài bằng máu.
"Hoàng thượng thánh minh, đích thực có chuyện đó!" Phương Hiếu Nhụ tiếp tục nói: "Thế nhưng Cảnh giáo cũng không phải bắt đầu dấy lên từ thời tiền triều Mông Nguyên!"
Nói tới đây, Phương Hiếu Nhụ dừng một lát: "Sử sách có ghi, sớm nhất là vào thời Thịnh Đường do người Ba Tư mang tới, năm Trinh Quán người Ba Tư tên A La Bổn vâng mệnh Ba Tư vương vào Trường An, rồi sau trải qua Cao Tông, Vũ Hậu, Huyền Tông, Đại Tông trước sau gần hơn hai trăm năm!"
Nói Cảnh giáo truyền vào từ thời đại đó, Chu Doãn Thông chẳng thấy lạ chút nào. Thời Thịnh Đường, quân Đường không ngừng chinh phục các nước Tây Vực và Trung Á, không chỉ Cảnh giáo mà cả Ma Ni giáo, Hỏa giáo cũng đồng thời truyền vào.
"Nhưng đến cuối thời Đường, giáo phái bị chỉ trích là tà ma ngoại đạo, toàn bộ người truyền giáo đều bị trục xuất khỏi biên cảnh, hội đường đã dựng cũng bị thiêu hủy toàn bộ!"
Phương Hiếu Nhụ vừa nói vừa bưng chén trà nhấp một ngụm nhỏ thấm giọng, rồi nói tiếp: "Hoàng thượng phán không cho Nhất Tứ Nhạc Nghiệp hưng kiến hội đường, thần liền lập tức nhớ tới những chuyện cũ đọc được trong sách này. Đám bọn họ bị gọi là tà yêu không phải vô căn cứ!"
"Thứ nhất, chẳng hạn tăng đạo triều ta đều là thân cô thế cô một mình, vậy mà tăng nhân Cảnh giáo lại có thể lấy vợ sinh con, vả lại thường cạo tóc cắt râu, khác xa với thuần phong mỹ tục triều ta!"
"Thứ hai, tâm địa bất chính. Thích gia bảo rằng, ta với Phật là một thể, ai nấy đều có thể thành Phật. Đạo gia bảo thiên nhân hợp nhất, ai nấy đều là chân nhân! Trong khi Cảnh giáo lại bảo con người sinh ra đã mang tội, phải chuộc tội. Đã vậy thần minh họ tôn sùng là Trời, đứng trên cả trời đất, hoàng đế, tổ tông lẫn cha mẹ!"
"Thứ ba!" Nói đoạn, Phương Hiếu Nhụ nhíu chặt mày: "Điểm mấu chốt nhất chính là ở điều thứ ba này!"
"Khanh cứ thong thả nói!" Chu Doãn Thông nghe đến nhập thần, bèn bảo Vương Bát Sỉ đổi trà nóng cho Phương Hiếu Nhụ.
"Nơi đất Trung Hạ ta, Nho - Thích - Đạo tam giáo đều không thể đứng trên pháp độ. Song giáo nghĩa Cảnh giáo thì Trời đứng trên Hoàng đế, muôn người đều là tín đồ tội nhân. Huống hồ người trong giáo lại thích quyên góp tiền của, dùng để bố thí người nghèo nhằm lôi kéo lòng người. Lập hội đường thường chọn chốn đông dân cư, dốc hết sức làm cho nguy nga xa xỉ."
"Tổng hợp mọi lẽ đó nên cuối thời Đường mới bị trục xuất, vậy mà đến tiền triều Mông Nguyên lại một lần nữa hưng thịnh." Phương Hiếu Nhụ nói tiếp: "Nay Hoàng thượng cho mở đường biển, thông thương bốn phương, vạn quốc tới triều kiến. Với kinh tế dân sinh tự nhiên là việc tốt, song nếu để những thứ bàng môn tả đạo này tro tàn lại cháy ở đất Trung Hạ, thì mối họa khôn lường!"
"Nếu đạo này hưng thịnh, há chẳng phải làm loạn cương thường luân lý Trung Hạ ta sao? Tuy bảo giáo nghĩa của họ chẳng hợp với lễ pháp Trung Hạ, người đời coi nhẹ. Song khó tránh luôn có những kẻ ngu phu xuẩn phụ bị họ mê hoặc lòng người mà đi lầm đường lạc lối."
Chu Doãn Thông cảm thán: "Bởi vậy trẫm mới hạ chỉ, không cho các nơi tùy tiện xây dựng hội đường, càng không được để thương nhân Sắc Mục tùy tiện vào nội thành cư trú."
Cảm thán của hắn không phải chuyện vô căn cứ.
Phải thừa nhận rằng người phương Tây trong việc truyền bá văn hóa ra ngoài xưa nay luôn nhanh hơn người khác một bước. Văn hóa phương Đông vốn tự coi mình là thiên hạ đệ nhất, khinh thường việc xuất khẩu. Trong khi văn hóa phương Tây, ẩn dưới lớp vỏ lễ nghi chính là dã tâm muông sói.
Những kẻ này khi đối mặt với quốc gia hùng mạnh thì là những bậc quân tử khiêm cung lễ độ.
Còn khi gặp phải đối tượng mà chúng có thể chinh phục, chúng liền biến thành từng bầy lang sói hoang dại.
