Chương 184
Chương 184: Tế bái
Đăng ngày 30/09/2026
19
Đông Lăng tọa lạc tại sườn nam núi Tử Kim bên ngoài Ứng Thiên Phủ, nằm về phía đông của Hiếu Lăng triều Hồng Vũ.
Ngôi lăng mộ này cùng lăng tẩm của lão gia tử dùng chung một bản vẽ, cùng một loại vật liệu, chỉ có khí thế là hơi thu nhỏ lại đôi phần. Tuy nhỏ hơn, nhưng bố cục bên trong lại đúng chuẩn quy cách đế vương không hề sai lệch.
Từ đó có thể thấy lão gia tử thương xót con trai đến nhường nào. Một vị trữ quân của đất nước mà được an táng theo quy cách hoàng đế, xưa nay cũng là chuyện độc nhất vô nhị.
Trong ký ức của Chu Doãn Thông, người cha Chu Tiêu này của hắn khi còn sống là Thái tử, sau khi qua đời cùng với mẹ ruột hắn là Thường thị được truy phong làm hoàng đế và hoàng hậu. Mãi đến sau này khi Chu Đệ soán vị, tước hiệu hoàng đế mới bị phế bỏ, cho tới tận thời Hoằng Quang Đế của Nam Minh đăng cơ mới lại được truy tặng đế hiệu.
Đến tận thời Càn Long triều Thanh, triều đình nhà Thanh cũng dâng tôn hiệu hoàng đế cho Chu Tiêu.
Người xưa có câu sự tử như sự sinh, việc phụng sự người chết cũng như khi còn sống, lăng tẩm đế vương từ viên gạch mảnh ngói đều tuân theo lễ pháp chế độ nghiêm ngặt. Nhìn từ đằng xa, tòa lăng mộ này tựa như một tòa cung thành man mác nét thê lương.
Lăng tẩm này đã bắt đầu hưng công xây dựng từ khi Thường thị qua đời, Thái tử lại tráng niên mất sớm, chỉ đành hạ táng trước vào lòng địa cung đã hoàn tất để hợp táng cùng Thường thị. Các phối điện, tượng đá điêu khắc xung quanh vẫn còn đang trong quá trình thi công.
Về phần thần đạo và ngự kiều, Đông Lăng dùng chung một dải với Hiếu Lăng của lão gia tử. Ý tứ hàm chứa trong đó, không nói cũng đã rõ ràng.
Xa giá của Chu Doãn Thông dừng lại trước tiền môn của Đông Lăng.
Tiền môn trông như một cổng cung thành, ba vòm cửa cuốn bên trên phủ ngói lưu ly màu lục. Trên phiến ngói chẳng hề vương chút tuyết đọng, dưới ánh nắng sau cơn tuyết rọi xuống rực rỡ muôn màu, đối chiếu lấp lánh với lớp ngói lưu ly màu vàng phủ trên Hưởng điện phía sau cổng.
Lúc này, Thiên hộ Hộ quân thủ lăng cùng viên thái giám thủ lĩnh đều cung kính quỳ rạp hai bên đại môn.
"Thần đẳng bái kiến Thái tôn Điện hạ, Điện hạ thiên tuế, thiên tuế, thiên thiên tuế!"
Chu Doãn Thông bước xuống khỏi xa giá, ánh sáng tỏa ra từ công trình nguy nga tráng lệ khiến hắn phải nheo mắt lại.
Hắn chợt nhớ tới một chuyện, đợi sau khi đăng cơ, chính hắn cũng phải bắt đầu xây lăng tẩm cho mình. Một tòa hoàng lăng thường phải xây ròng rã mười mấy năm thậm chí mấy chục năm, dưới mắt một linh hồn đến từ hậu thế như hắn, việc này quả thực là lao dân tổn tài.
Một tòa lăng tẩm tiêu tốn tới một hai trăm vạn lượng bạc, điều động vô số phu phen thợ thuyền, theo lễ pháp thì là vậy. Nhưng trên thực tế, sau cùng cũng chỉ cô quạnh tọa lạc giữa trời đất, trơ mắt nhìn triều đại hưng suy, mặc cho mưa dập gió vùi, biến thành một đống tường xiêu vách đổ mà thôi.
Nếu có thể nguyên vẹn bình yên nằm lại mãi mãi bên trong thì cũng đành một nhẽ. Ngặt nỗi từ xưa đến nay, anh hùng cái thế như Tần Hoàng Hán Vũ, Đường Lý Nhị, chẳng phải rốt cuộc mộ phần vẫn bị người ta đào bới lên đó sao? Nắp quan tài chốn hoàng gia còn bị người Mỹ tha tít sang tận ngoài mười vạn dặm.
Đông Lăng của Thái tử Chu Tiêu tuy không bị đào trộm, nhưng cũng chung số phận với Hiếu Lăng, dưới khói lửa của Thái Bình Thiên Quốc đều bị thiêu rụi sạch sành sanh.
Sự tử như sự sinh ư?
Nếu các vị đế vương kia biết được sau khi chết lại phải chịu cảnh ngộ như vậy, liệu có than thở rằng mình tự bỏ tiền ra chuốc lấy vạ vào thân?
Song so ra thì hoàng lăng Đại Minh vẫn còn may mắn chán, phần lớn đều không bị đào trộm, bảo tồn tương đối vẹn toàn. Còn triều Thanh về sau lại bị Tôn Điện Anh dẫn người đào xới một lượt từ Thánh Tổ Nhân Hoàng đế cho tới tận lão thái bà Từ Hi.
Nghe đồn ngày Càn Long bị quật mồ, quan quách trong địa cung chắn ngang phía sau cửa đá khiến Tôn Điện Anh bó tay hết cách. Thế nhưng Càn Long gia dẫu có xưng tụng Thập toàn võ công thì cũng sao cản nổi đại pháo? Xương sọ còn bị người ta giẫm cho vỡ nát vụn vằn.
Có điều, lăng mộ Đại Minh bảo tồn nguyên vẹn cũng chẳng phải vì Tôn Điện Anh nương tay, hay đám đạo tặc dân gian kiêng dè phong phạm của Đại Minh. Tư Lăng của Sùng Trinh, Khang Lăng của Vũ Tông đều từng bị đào trộm. Chẳng qua lăng của Vũ Tông kiên cố hơn nên không cạy ra được, còn phần lớn mộ phần phi tần Đại Minh đều đã bị vét sạch không còn một mảnh.
Không bị trộm là nhờ hoàng lăng Đại Minh chọn được địa thế hiểm yếu, kề cận ngay vùng ngoại ô kinh thành, chỉ cần một ngọn gió lay ngọn cỏ là kinh đô đã hay tin. Đâu như Đông Lăng của Mãn Thanh, nằm ở nơi khỉ ho cò gáy, mượn cớ diễn tập quân sự là có thể thẳng tay xốc tung lên.
Thêm nữa, kỹ thuật xây dựng hoàng lăng Đại Minh cũng vượt trội hơn hẳn. Muốn quật hoàng lăng thì phải có quy mô trộm cắp cấp nhà nước, ba năm chục tên trộm cắp vặt vãnh thậm chí còn không lần ra nổi cửa địa cung nằm ở phương nào.
Chu Doãn Thông từng xem qua bản vẽ hoàng lăng Đại Minh do lão gia tử đích thân chuẩn định, địa cung sâu tới hai mươi bảy mét, lối vào mộ đạo lại càng khó bề truy vết. Hắn từng xem phim tài liệu về Định Lăng ở hậu thế, dưới sự dò tìm của khoa học hiện đại, một đoàn đội cả nghìn con người lùng sục lối vào mộ đạo ròng rã suốt một tháng trời mới ra.
Trong khi đó lăng tẩm triều Thanh tốn kém bạc tiền nhiều hơn nhưng tay nghề lại kém cỏi hơn hẳn. Toàn bộ lăng mộ đều đúc từ một khuôn mẫu, sau khi Tôn Điện Anh quật xới một phen, đám trộm vặt cứ thế lần theo dấu vết là có thể chui vào chiêm ngưỡng cỗ quan tài của hoàng đế lão gia.
Oái oăm nhất là trong hoàng lăng triều Thanh đến cả hệ thống thoát nước cũng không có. Các vị hoàng đế lão gia trước khi bị quật mồ thì đã bị ngâm nước suốt cả trăm năm. Nếu thời đó mà có sẵn phóc-môn thì ai nấy đều thành đại thể lão sư phục vụ cho y học cả rồi.
"Sau này mộ phần của ta, cứ làm qua loa thôi là được!"
Bao mối suy tư lướt qua trong đầu, Chu Doãn Thông thầm nhủ.
Có một hai trăm vạn lượng bạc ấy làm việc gì chẳng ích lợi hơn, Đại Minh tương lai còn muôn vàn chỗ cần tiêu đến tiền bạc. Chẳng nói đâu xa, chỉ riêng bản lam đồ về hải quân Đại Minh tương lai mà hắn đang phác thảo trong đầu đã không biết phải tiêu tốn bao nhiêu ngân lượng.
Một trăm vạn lượng là khái niệm gì?
Chẳng cần bàn tới thời Minh, cứ nhìn sang triều Thanh hoàn toàn dùng bạc trắng làm tiền tệ lưu hành, chiến hạm tốt nhất của Thủy sư Bắc Dương thuở ấy trị giá bao nhiêu tiền?
Vị hoàng đế nổi danh cần kiệm nhất là Đạo Quang hai lần tu sửa lăng tẩm đã ngốn ngót nghét năm trăm vạn lượng, lăng tẩm của lão thái bà Từ Hi đứng thứ hai triều Thanh cũng đã tiêu tốn tới hai trăm bảy mươi vạn.
Có số tiền này mang đi mua tàu chiến, luyện thủy sư, liệu có đến mức bị người ta đánh cho tơi bời hoa lá như thế không?
Có số tiền này đem đi rèn luyện quân đội, sửa sang việc nước, khéo mộ phần của bọn họ còn chẳng bị người ta đào bới lên.
Trông thấy Hoàng thái tôn Điện hạ đứng lặng trước cửa cuốn hồi lâu không nhúc nhích, đám người đang quỳ rạp dưới đất cũng chẳng dám ngẩng lên. Có kẻ lén liếc nhìn Chu Doãn Thông một cái, thấy hắn nhìn quần thể kiến trúc lăng tẩm với vẻ đăm chiêu trầm ngâm, trong lòng không khỏi nơm nớp lo sợ.
Tiến độ thi công lăng tẩm của Cố Thái tử vốn không hề chậm trễ, nhưng lỡ như Điện hạ không vừa mắt, đám người bọn họ há chẳng phải rước họa vào thân sao?
Chu Doãn Thông thu hồi ánh mắt, nhìn về phía một lão thái giám tóc hoa râm đang quỳ ở hàng đầu tiên trong đám người nghênh giá, khẽ mỉm cười: "Hà Bất Nghĩa, sao tóc ngươi đã bạc trắng thế kia rồi!"
Hà Bất Nghĩa vốn là thái giám thân cận bên cạnh Chu Tiêu lúc sinh thời. Sau khi Chu Tiêu qua đời, ông ta đã chủ động dâng sớ xin đích thân tới đây thủ lăng.
Tấc lòng trung nghĩa ấy ngược lại đã cứu mạng ông ta một phen, bởi lẽ cung nhân bên cạnh Thái tử hầu như đều đã bị bắt tuẫn táng theo chủ.
Ở Đại Minh này, vẫn còn một hủ tục mà Chu Doãn Thông quyết tâm phải xóa bỏ, đó chính là tuẫn táng người sống. Những kẻ chết yểu như Lỗ Hoang Vương đều có thê thiếp cung nhân chôn theo cùng, đợi sau này...
"Điện hạ vẫn còn nhớ tới nô tỳ!" Hà Bất Nghĩa nước mắt lưng tròng, "Từ ngày Thái tử gia tạ thế, nô tỳ ngày ngày thương nhớ chủ tử, nhớ mãi nhớ mãi, tóc bạc trắng cả lúc nào không hay!" Nói đoạn, Hà thái giám ngẩng đầu lên, gương mặt giàn giụa ngấn lệ: "Nay lăng tẩm vẫn chưa hoàn tất, nô tỳ xin sống tạm bợ thêm vài ngày. Đợi khi nào lăng tẩm của Thái tử gia và nương nương xây xong, nô tỳ sẽ sang bên kia để hầu hạ chủ tử!"
"Phụ thân khi còn sống là người khoan hậu, ngươi đã hầu hạ người cả một đời, không có công lao thì cũng có khổ lao, cứ ở lại Đông Lăng này mà an tâm giữ miếu trông coi!" Chu Doãn Thông mở lời căn dặn. Nếu hắn không nói ra câu này, ngày lăng tẩm hoàn thành cũng chính là lúc Hà Bất Nghĩa tự kết liễu mạng mình.
Dứt lời, Chu Doãn Thông vén vạt áo, chậm rãi cất bước lên từng bậc thềm. Hà Bất Nghĩa khom lưng đi theo bên cạnh, huynh đệ họ Thường rảo bước theo sau một quãng ngắn.
Ở phía cửa ngách bên kia, đám cung nhân bưng mâm lễ vật tế phẩm rảo bước nối đuôi nhau đi vào. Dưới sự dẫn đường của cung nhân thủ lăng, bọn họ vội vã tiến lên phía trước để bày biện trước một bước.
Lăng tẩm cũng là một tòa cung điện, hai bên đường lát đá là những pho tượng văn thần võ tướng sinh động như thật, chính là bầy tôi ở thế giới bên kia của chủ nhân lăng tẩm.
Men theo dải mộ đạo dài dằng dặc, băng qua tầng cửa thứ hai, trên chiếc bàn đá dài cao lớn đã bày biện sẵn các món tế phẩm, bên cạnh là lò đốt lụa bằng lưu ly nung, thấp thoáng ánh lửa bắt đầu bùng lên.
Chu Doãn Thông đứng trước bàn đá. Phía sau bàn đá, ở tận cùng của những tầng bậc thang, chính là bảo đính địa cung của Chu Tiêu và Thường thị.
Giờ phút này, trong cả khoảng sân rộng lớn chỉ còn lại hai người Chu Doãn Thông và Hà Bất Nghĩa.
Chu Doãn Thông đảo mắt nhìn quanh, từ mặt đất cho đến nóc các tòa kiến trúc đều không vương một mảnh tuyết vụn, sạch sẽ tinh tươm.
"Ngươi có tâm lắm!" Chu Doãn Thông khẽ nói.
"Thái tử gia và nương nương lúc sinh thời đều thích sạch sẽ nhất, nô tỳ thân phận ti tiện bất tài, chỉ có thể quét dọn sân táng cho người mà thôi!" Hà Bất Nghĩa run rẩy đỡ lấy nén nhang thắp lửa cho Chu Doãn Thông, bật khóc nức nở nói lớn: "Thái tử gia, nương nương, Tam gia đến thăm người đây! Tam gia, đích tử của người, nay đã là Hoàng thái tôn của Đại Minh rồi!"
Bên ngoài, nghe thấy tiếng khóc than ấy, huynh đệ họ Thường cúi gầm đầu, nước mắt lã chã tuôn rơi.
