Chương 248
Chương 248: Bại binh về trại
Đăng ngày 29/09/2026
19
Gió trên hoang nguyên rít suốt hai ngày hai đêm, chưa từng ngớt.
Ba kỵ binh Hàn Hột Bộ dán người trên lưng ngựa, đội gió cắm đầu chạy về hướng bắc.
Tên tiểu đầu mục dẫn đầu là Cao Kháng, cháu họ xa của Cao Hột Diên, đại khái xa tới mức là con của người họ hàng với chị họ của chị gái dì của chú hắn.
Hắn nhặt lại được cái mạng từ đợt toàn quân hơn trăm người bị xóa sổ không phải nhờ dũng mãnh.
Ngược lại hoàn toàn, do ngay khi kỵ binh Lâu Cừ Bộ xông lên gò đất thấp, hắn đã ngửi thấy mùi nguy hiểm.
Hắn không lao lên trước mà thụt lùi lại phía sau.
Khi loan đao của Bạch Nha chém rụng đầu Bách phu trưởng, Cao Kháng đã kịp dẫn hai tên lính thân tín lách qua bãi đá vụn sau sườn đồi chuồn mất tăm.
Bách phu trưởng chết, gần trăm anh em chết sạch, chỉ có hắn và hai tên kia trốn thoát.
Suốt hai ngày hai đêm, bọn họ chẳng dám dừng bước. Lương khô hết thì gặm rễ cỏ, túi nước cạn thì liếm mồ hôi ngựa.
Bên má trái Cao Kháng rách một vệt còn rỉ máu, bị bụi rậm quẹt phải lúc tháo chạy.
Nhưng hắn chẳng quan tâm, miễn còn sống lết về tới Hàn Hột Bộ thì chút sẹo trên mặt có đáng là gì.
Điều hắn sợ là về rồi Cao Hột Diên sẽ xử trí mình ra sao.
Chết hơn trăm mạng, Bách phu trưởng cũng bỏ mạng, ở Hàn Hột Bộ đây là tội bay đầu.
Trừ khi hắn đẩy được hết trách nhiệm đi. Kỵ binh của Lâu Cừ Bộ có bao nhiêu? Ít nhất một nghìn.
Đối phương đánh lén, mò lên trong đêm, Bách phu trưởng đã chiến đấu tới hơi thở cuối cùng, còn hắn thì liều mạng phá vây.
Bị vây hãm bốn bề mà hắn vẫn chém chết hơn mười kỵ binh Lâu Cừ Bộ.
Tất cả là vì đưa tình báo về.
Đúng, cứ nói thế đi!
Hoàng hôn ngày thứ ba, vùng thung lũng đài địa rốt cuộc cũng hiện ra nơi đường chân trời.
Tường trại vẫn mang dáng vẻ quen thuộc ấy, đắp bằng đất nện kẹp đá, cao hai trượng, bên trên khảm những thú lâu bằng đá theo phong cách Tân Bà.
Đá xây thú lâu mang màu xám xanh, khai thác từ núi non vùng biên cảnh rồi dùng xe bò kéo từng chuyến một về trại của Hàn Hột Bộ.
Bốn góc thú lâu uốn cong hếch lên, dưới mái treo chuông đồng, gió thổi qua phát ra từng tiếng trầm đục.
Hai bên cổng trại là hai tiễn lâu kép bằng đất nện và cọc gỗ, mặt ngoài bọc một lớp da thú hàn địa thuộc dày dặn, vừa cản được tên vừa chắn gió tuyết.
Đỉnh tiễn lâu cắm cờ Hàn Hột Bộ nền trắng viền đen, thêu đồ đằng hàn văn của bộ tộc.
Đồ đằng đó là những đường vân xoắn ốc thu hẹp dần vào trong, tựa vết nứt trên mặt băng, lại giống từng luồng hàn khí bốc lên từ sâu trong lòng đất đóng băng vĩnh cửu.
Nghe đồn đồ đằng này do phù tế rập lại từ Hàn Vụ Chú Thạch, mỗi vòng vân tượng trưng cho một loại hàn ý trên hoang nguyên.
Trên mặt tường trại, mấy lính gác đang ôm giáo gà gật.
Thoáng thấy ba kỵ từ phía nam phi tới, một lính gác dụi mắt nhìn kỹ lại lần nữa.
Người trên ba con ngựa toàn thân bám đầy bụi đất, mặt mày đóng vảy máu quyện bùn nham nhở, nhếch nhác khôn cùng.
Tên lính gác thổi tù và.
"Có người về! Đi từ hướng nam tới! Người của bách nhân đội!"
Cổng trại kẽo kẹt mở ra, Cao Kháng lao qua cửa mà suýt nữa ngã lăn khỏi lưng ngựa.
Chân hắn tê dại từ lâu, xóc nảy trên lưng ngựa suốt hai ngày hai đêm khiến da thịt mặt trong đùi rách toạc, máu dính bết vào vải quần.
Các chiến sĩ gác cổng vội vàng bước tới đỡ lấy hắn.
Có người nhận ra hắn: "Cao Kháng? Bách phu trưởng đâu? Sao chỉ có ba người các cậu?"
Cao Kháng mấp máy môi, bờ môi nứt nẻ khô khốc không thốt nên lời.
Một chiến sĩ nhét túi nước vào tay hắn, hắn ừng ực nuốt vội vài ngụm, nước chảy dọc xuống cằm.
Hắn thở hổn hển, cất giọng khản đặc: "Mau... mau báo với thủ lĩnh, chúng tôi ở Lâu Cừ Bộ... bị phục kích... Bách phu trưởng tử trận rồi...".
Chưa dứt câu người hắn đã nhũn ra, được hai chiến sĩ xốc nách đỡ lấy.
Tin tức nhanh chóng truyền vào đại trướng ở trung tâm trại, đại trướng của Hàn Hột Bộ không phải kiểu lều bạt thảo nguyên mà là một công trình kết cấu đá gỗ nửa chìm dưới lòng đất, dựng theo lối của sơn dân vùng biên cảnh Tân Bà Quốc.
Vách trướng được chống đỡ bởi những rường cột gỗ thông thô lớn, các khe hở trám chặt bằng đất đông cứng và đá dăm, bên trên phủ một lớp lông da hàn thú hoang nguyên dày cộp, gió tuyết không lọt nổi.
Bốn góc bên trong trướng dựng bốn cột trụ khắc đồ đằng hàn văn, nền đất giữa các cột trải da bò đã thuộc, cố định bốn góc bằng các miếng đồng kiểu dáng Tân Bà Quốc.
Chính giữa trướng có một hố lửa chôn chìm nửa phần dưới đất, than hồng rực cháy xua tan cái lạnh lẽo thấu xương quanh năm bám riết lấy thung lũng.
Cao Hột Diên đang ngồi bên hố lửa, lau chùi thanh Loan Nguyệt Phách Phong Chiến Nhận.
Hắn trạc ngoài bốn mươi, vóc dáng khôi ngô vạm vỡ, cao hơn đàn ông man tộc bình thường nửa cái đầu, bờ vai rộng tựa cánh cửa lớn.
Mái tóc dài hoa râm tết thành mấy chục bím nhỏ, đuôi mỗi bím thắt một viên hắc diệu thạch, phản chiếu ánh lửa ánh lên những vệt đỏ sẫm.
Gò má hắn nhô cao, hốc mắt sâu hoắm, tròng mắt màu xám nhạt như vũng nước đóng băng trên nền đất lạnh.
Giáp trụ của hắn không phải loại giáp da hay giáp sắt thường thấy trên thảo nguyên.
Đó là bảo giáp da bó sát hắc văn hàn thú của Tân Bà Quốc, làm từ da dày hai lớp thuộc kỹ của gấu đen vùng hoang nguyên băng giá, ép xếp thành từng phiến rồi dùng gân thú khâu dày khít.
Mặt phiến giáp khắc cổ văn sơn nhạc của Tân Bà Quốc, gồm ba đường song song tượng trưng cho ba ngọn thánh sơn nơi biên cảnh.
Bộ giáp này không nặng, nhưng khả năng phòng ngự vượt xa bất kỳ loại giáp da nào trên thảo nguyên.
Cao Hột Diên lau thân đao rồi lại lau hoa văn sơn nhạc trên phiến giáp, động tác thong thả ung dung tựa như đang làm một việc cần rất nhiều sự kiên nhẫn.
Rèm trướng bị vén lên, một luồng gió lạnh thốc vào.
Cao Kháng được hai chiến sĩ xốc nách lôi vào trong trướng, quỳ sụp xuống đất.
Chân hắn vẫn run lẩy bẩy, cả người dính đầy bụi bặm, vết thương rỉ máu trên mặt càng khiến hắn trông thảm hại nhếch nhác hơn.
Mấy Bách phu trưởng và Thiên phu trưởng nghe tin vội vã chạy tới, đứng dàn hai bên trướng.
Phó thủ của đại phù tế là một phù tế ngoài bốn mươi tuổi, tên gọi Hàn Ngột.
Hắn mặc áo choàng da sói trắng, cổ tay áo và cổ áo đính đầy những mảnh xương vụn khắc vân xoắn ốc.
Hắn cầm trượng xương bước vào, đứng nép ở góc phòng, lặng lẽ nhìn chằm chằm Cao Kháng đang quỳ mọp dưới đất.
Cao Hột Diên không buồn ngẩng đầu, tiếp tục lau lưỡi chiến nhận, ngón tay chậm rãi miết dọc theo đường cong của lưỡi đao.
"Nói!"
Cao Kháng nuốt nước bọt ực một cái rồi bắt đầu mở miệng.
Giọng hắn run run, kể lể Lâu Cừ Bộ đã hèn hạ đánh lén ra sao, thừa lúc đêm hôm mò lên gò đất thấp, phát động tập kích đúng vào lúc bách nhân đội lơ là nhất;
rồi Bạch Nha đích thân xung phong thế nào, kỵ binh ả mang theo ít nhất cũng phải một nghìn kỵ, con số này hắn nói chẳng hề chớp mắt, bởi dìm càng nhiều quân địch thì việc hắn trốn về càng không mang tiếng hèn nhát;
rồi Bách phu trưởng đã tử chiến tới phút cuối cùng, hạ gục mấy chục kỵ binh Lâu Cừ Bộ, cả người đẫm máu mà trước lúc chết vẫn còn gào lớn "Con em Hàn Hột Bộ không được lui";
lại kể Cao Kháng hắn đã liều chết chống cự ra sao, dẫn theo huynh đệ tả xung hữu đột, chém ngã bảy tám kỵ binh Lâu Cừ Bộ, cuối cùng thật sự không chống đỡ nổi mới phải phá vây.
Hắn biến tháo chạy thành phá vây, đổi thảm bại thành lui binh, lấp liếm việc chuồn mất dạng thành mở một đường máu.
Từng câu từng chữ đều ngầm tỏ vẻ mình không phải kẻ đào ngũ, mà là dũng sĩ bất đắc dĩ phải triệt thoái nhằm mang thông tin tình báo về.
Cao Hột Diên khựng tay lau đao lại.
Ngón tay hắn ấn chặt lên lưỡi đao, bất động.
Ánh lửa trong trướng bập bùng, hắt lên đường nét góc nghiêng trên mặt hắn lúc tỏ lúc mờ.
Hắn cất giọng bình thản cắt ngang lời Cao Kháng: "Bách phu trưởng của tao chết, còn bọn mày lại sống sót mò về."
Yết hầu Cao Kháng giật giật, hai đầu gối quỳ trên mặt đất bắt đầu run rẩy.
Cao Hột Diên đứng dậy, tiến lại trước mặt Cao Kháng, cúi đầu nhìn đứa cháu họ đang co rúm thành một cục.
Thanh Loan Nguyệt Phách Phong Chiến Nhận được hắn tùy tiện xách trong tay, lưỡi chúc xuống dưới, mũi đao suýt chạm mặt đất.
"Lâu Cừ Bộ! Một bộ lạc du mục bị gạt ra rìa suốt mười mấy năm trời."
"Bãi chăn thả chỉ là bãi cỏ vụn rách nát nơi góc hoang nguyên người ta vứt đi, lương thực tích trữ hằng năm còn chẳng đủ ăn tới trận tuyết thứ hai."
"Thủ lĩnh bọn chúng chỉ là một con đàn bà, chiến sĩ mặc giáp da cũ rích từ mấy chục năm trước, đao kiếm toàn là mấy mảnh sắt vụn gõ rèn từ đống lửa hoang."
"Tao phái bọn mày đi canh chừng chúng nó..."
Đầu Cao Kháng gần như dán sát xuống đất, hai tay chống run rẩy.
"Mày để người ta mò tới tận mí mắt, Bách phu trưởng bị chặt đầu, hơn trăm con em bỏ mạng, rồi bọn mày chạy về đây."
Cao Kháng dập đầu lia lịa như giã tỏi, trán nện xuống sàn chẳng mấy chốc bầm tím một mảng: "Thủ lĩnh tha mạng! Xin tha mạng!"
Cao Hột Diên chẳng buồn nhìn hắn, xách đao sải bước lướt qua bên cạnh.
Hắn bước tới cửa trướng, dõi mắt nhìn xuống ngôi trại đang dần chìm vào tĩnh mịch trong bóng chiều tà dưới đài địa.
Khói bếp trong trại lượn lờ bay, cánh đàn bà đang gom những tấm da phơi bên ngoài xưởng thuộc da, đám mục phu cặm cụi châm thêm máng cỏ cuối ngày cho bầy chiến mã chịu rét của hoang nguyên.
Phía xa trên sườn thoai thoải khuất gió của thung lũng, rừng quả Xích Đường Linh Quả hắt lên ánh sáng đỏ sẫm dưới ráng chiều tà.
Cả khu trại trông chẳng khác gì ngày thường, nhưng Cao Hột Diên biết rõ.
Lâu Cừ Bộ dám động thủ trước chứng tỏ sau lưng ả có kẻ chống lưng, hoặc món đồ trong thung lũng kia khéo đã tìm được người mua.
Hắn quay ra ngoài trướng hô lớn: "Truyền lệnh, các bộ tập hợp, điều động tám trăm khinh kỵ hàn địa hoang nguyên, ba trăm đinh tráng săn bắn bộ binh, năm trăm mâu thủ Tân Bà."
"Bảo đại phù tế cử hai shaman đi cùng. Ba ngày sau, nam hạ!"
Phó thủ lĩnh tên Cao Thái, em họ của Cao Hột Diên, chưa đầy ba mươi tuổi, gương mặt trắng trẻo, nổi bật hẳn giữa đám chiến tướng thô kệch cục mịch của Hàn Hột Bộ.
Hắn là một trong số ít người đủ tư cách nói thẳng trước mặt Cao Hột Diên.
Cao Thái bước lên nửa bước: "Thủ lĩnh, Lâu Cừ Bộ vừa đánh xong một trận, sẽ không có đại tộc nào đứng ra bảo kê cho bọn họ đâu."
"Muốn đánh thì nhân lúc này ra tay là chuẩn rồi."
"Nhưng tám trăm khinh kỵ hàn địa, ba trăm đinh tráng săn bắn, năm trăm mâu thủ Tân Bà, kéo ngần ấy người đi chỉ để dính một thân băng tuyết về, sớm muộn gì bên Thiết Diêu Bộ cũng để mắt tới chúng ta."
"Hay thủ lĩnh cứ cho người do thám xem thung lũng của bọn họ rốt cuộc giấu cái gì trước đã?"
Cao Hột Diên đáp: "Thung lũng đó giấu cái gì, chẳng mấy chốc sẽ rõ thôi."
"Chuyện này để lâu đêm dài lắm mộng, bách nhân đội đã bị nuốt chửng thì cứ xử đẹp Lâu Cừ Bộ trước."
"Còn đồ vật trong thung lũng kia... truyền ra ngoài dễ dẫn sói tới kiếm ăn."
"Không việc gì phải vội, xơi xong thịt cừu béo thì nhấp thêm chút gì thanh mát cho mát họng."
Cao Thái không nói thêm gì nữa, xoay người bước ra ngoài truyền lệnh.
Phù tế Hàn Ngột đứng trong góc nãy giờ không hề lên tiếng, chỉ lẳng lặng nhìn cảnh này, rồi xoay người đi về phía thạch thất của đại phù tế nằm sâu trong trại.
Hắn cần bẩm báo chuyện xuất binh với đại phù tế, đồng thời chuẩn bị cho nghi thức phân phát nấm Hàn Huyết trước khi xuất chinh.
Cao Hột Diên ngồi bên đống lửa, trải rộng một tấm bản đồ bằng da dê.
Ngón tay hắn rà từ vùng đất cao về phía nam, lướt qua thung lũng sông, qua đồng cỏ đóng băng, qua góc hoang nguyên mà Lâu Cừ Bộ đang chiếm đóng, cuối cùng dừng lại ở hướng hẻm núi.
Hắn ấn mạnh ngón tay xuống đó, ép da dê lõm thành một vết hằn.
Ánh lửa bập bùng khiến gương mặt âm trầm lúc mờ lúc tỏ, môi hắn khẽ mấp máy, thốt ra hai chữ: "Bạch Nha!"
