Chương 249
Chương 249: Hàn Hột Bộ, xuất binh
Đăng ngày 29/09/2026
19
Ba ngày sau, đại quân Hàn Hột Bộ rầm rộ nam hạ.
Tám trăm khinh kỵ binh vùng băng giá đi đầu mở đường, chiến mã của bọn họ khác hẳn những giống ngựa thường thấy trên thảo nguyên.
Lông ngựa loang lổ hai màu xám trắng, cổ thô khỏe, móng rộng hơn chiến mã bình thường một đốt ngón tay, vốn là giống chịu rét đặc hữu của chốn hoang nguyên này.
Giống ngựa này phi trên nền đất đóng băng vừa nhanh vừa vững, rìa móng có lớp chất sừng dày tự nhiên, giẫm lên băng tuyết hay đá dăm đều khó mà trượt ngã.
Kỵ thủ khoác trên mình giáp nhẹ hai lớp thuộc từ da thú dày xứ lạnh, mỗi bộ giáp đều cắt may từ nguyên tấm da thú, mặt trong áp vào da thịt được cạo nhẵn thín.
Mặt ngoài giữ nguyên vân da tự nhiên, chỗ ghép nối được khâu chặt bằng gân thú, mặc vào vừa nhẹ vừa cản gió cực tốt.
Bên ngoài giáp trùm thêm áo nhung gai bó sát cổ hẹp kiểu Tân Bà Quốc, vạt áo giắt gọn vào thắt lưng, ống tay bó chặt.
Mỗi người đều đội mũ da che trán vân xéo, trước trán khảm một viên đá hàn thạch mờ.
Loại hạt đá này sinh ra từ kẽ nứt tầng đá sâu dưới lòng đất đóng băng, nghe đồn đeo lâu ngày có thể tạo ra cộng hưởng yếu ớt với làn sương lạnh của vu tế.
Lên chiến trường, bọn họ có thể cảm ứng được hướng di chuyển của sương mù, không lo bị thuật pháp của vu tế phe mình ngộ thương.
Bờm chiến mã tết thành từng lọn nhỏ gọn gàng, đuôi lọn buộc bùa hộ mệnh bằng xương, lúc phi nước đại phát ra tiếng va đập lách cách vụn vặt.
Mỗi kỵ thủ đều trang bị tiêu chuẩn một cây cung cứng xứ lạnh, một thanh đoản đao vòng chuôi chém bén, bên yên ngựa treo hai đến ba cây đoản mâu buộc dây dùng để phóng.
Mũi đoản mâu làm bằng sắt rèn lạnh ba cạnh, có rãnh xẻ máu, ném ra ở cự ly gần đủ sức xuyên thủng nhiều lớp giáp da.
Ngay sau đội khinh kỵ là ba trăm tráng đinh bộ liệp vùng hoang nguyên bám sát.
Bọn họ không cưỡi ngựa, nhưng tốc độ hành quân chẳng hề thua kém.
Đám người này từ nhỏ đã săn đuổi hàn thú trên mảnh đất đóng băng, tôi luyện được đôi chân thép vừa chịu lạnh vừa dẻo dai, đủ sức bôn tập đường dài trong gió tuyết mà không cần nghỉ thở.
Ai nấy xỏ chân vào ủng da lông cao cổ quá đầu gối, đế ủng ép từ nhiều lớp da bò, giẫm lên đá sỏi đất băng vẫn vững vàng không một tiếng động.
Sau lưng đeo cung săn cùng ống tên bịt xương, bên hông giắt rìu ngắn hai lưỡi.
Cán rìu đẽo từ gỗ cứng lấy ở rừng xích đường linh quả, độ cong của lưỡi rìu ôm trọn quỹ đạo vung tay chém trên hoang nguyên, đúng là món vũ khí hiểm hóc để cận chiến và phạt chân ngựa.
Vài tráng đinh bộ liệp còn giắt thòng lọng săn thú bên hông, dây da cọ xát với đất băng lâu ngày đã bóng loáng và cứng đờ.
Thứ này vốn để quây bắt hàn lang trên hoang nguyên, quăng ra ngoài trăm bước vẫn tròng trúng con mồi đang tháo chạy, đem ra trận mạc cũng cực kỳ hữu dụng, chuyên dùng để giật ngã chân ngựa hoặc túm người.
Năm trăm giáo thủ theo biên chế Tân Bà Quốc xếp thành đội hình tề chỉnh, nhịp bước đều tăm tắp.
Trường mâu của bọn họ dài hơn giáo kỵ binh thảo nguyên một đoạn, cán mâu tiện từ gỗ cứng rừng xích đường linh quả, chất gỗ đanh chắc, không cong không vênh.
Mũi mâu là khối sắt rèn lạnh ba cạnh, đường sống sắc bén thẳng tuột, lực xuyên phá cực mạnh.
Đuôi mâu gắn thêm khâu đồng nhỏ để cân bằng trọng lượng, chuẩn theo quy cách giáo cổ của Tân Bà Quốc, cầm nắm phát lực rất đều, chẳng hao tốn chút khí huyết dư thừa nào.
Đám giáo thủ mặc áo nhung gai bó sát cổ hẹp kiểu Tân Bà Quốc, bên dưới là quần dài da thuộc dày dặn, gấu quần nhét gọn vào ống ủng da lông cao cổ.
Bên hông mỗi người còn lận một thanh đoản đao vòng chuôi phòng khi cận chiến bất ngờ.
Đội hình của họ khác hẳn kiểu dàn trận tự do của các bộ lạc thảo nguyên.
Hàng trước chĩa thẳng ngọn mâu về phía trước, hàng sau ôm mâu gác nghiêng lên vai, đều tăm tắp như một.
Từng bước chân đạp tung cỏ vụn và bụi đất trên hoang nguyên, mỗi nhịp giẫm xuống đều trùng khớp hoàn hảo, hệt như một điệu múa tế cổ xưa.
Lúc xuất phát từ bãi đất bồi thung lũng ven sông, già trẻ gái trai của Hàn Hột Bộ đều ùa ra cổng trại tiễn đưa.
Đám đàn bà nhét thịt cừu khô cùng thịt hun khói vào túi yên ngựa của các chiến binh, mấy người già bưng bát gỗ, chuyền tay nhau vò rượu đục cho đám trai tráng chuẩn bị ra trận.
Thầy shaman đốt bột thuốc ngay trước cổng trại, làn khói màu lam nhạt bốc lên từ đống bột đá, tụ lại giữa không trung thành một hình xoắn ốc xoay tròn chậm rãi.
Y hệt đồ đằng trên lá cờ cắm ở đầu tường trại.
Các chiến binh xuất chinh lần lượt bước qua làn khói đó, khói lướt qua mặt để lại cảm giác lành lạnh dịu nhẹ.
Đó là nghi thức xuất chinh, sương lạnh hộ thân, đao tên khó phạm.
"Dù đi tới phương trời nào, hỡi những đứa con của Hàn Hột Bộ, sương lạnh cũng sẽ che chở cho các ngươi."
Giọng nói già nua của đại vu tế vang vọng giữa làn khói mờ.
Trên tường trại, toán lính gác thổi vang tù và sừng trâu tiễn bước.
Âm thanh trầm đục quanh quẩn khắp thung lũng, làm kinh động cả đàn chim trong rừng xích đường linh quả.
Cao Hột Diên ghìm cương, ngoái đầu nhìn lại khu trại trên bãi đất bồi lần cuối, rồi thúc ngựa phóng về phương nam.
Đi cuối đoàn quân là hai vị Hàn Cốt Vu Tế shaman ngồi trên lưng hắc mã.
Bộ yên ngựa của họ chẳng giống bất kỳ ai.
Đầu yên treo mấy chuỗi xương thú, gió thổi qua liền phát ra tiếng lách cách lách cách, nghe rõ mồn một giữa tiếng huyên náo hành quân.
Bọn họ khoác trường bào bằng da sói trắng, cổ tay và cổ áo đính đầy những mảnh xương vụn khắc vân xoắn ốc, tay lăm lăm cốt trượng.
Cốt trượng nằm gọn trong tay shaman, đung đưa nhè nhẹ theo từng nhịp ngựa phi, mỗi cú lắc lại để lại một vệt sáng trắng lạnh lẽo thoáng qua trong không khí.
Cao Hột Diên cưỡi ngựa đi ở giữa, loan nguyệt phách phong chiến nhận treo lủng lẳng bên yên.
Hắn cưỡi một con thiên lý mã chịu lạnh đen tuyền, cao hơn tất cả ngựa xung quanh nửa cái đầu, bờm không thèm tết lại mà cứ để xõa tung tự nhiên.
Nguyên bộ yên cương mạ đồng sáng loáng, hoa văn đồng trên đầu cương chạm khắc hình núi non cổ xưa của Tân Bà Quốc, y hệt họa tiết trên bộ bảo bì giáp hắn đang mặc.
Cao Thái ghé ngựa nhích lên nửa bước bên cạnh hắn.
Gã lùn hơn Cao Hột Diên nửa cái đầu, mặt mũi trắng trẻo, trông có phần lạc quẻ giữa một bộ tộc hoang nguyên vốn tôn sùng sự hung hãn.
Gã ngồi vững ở vị trí phó thủ lĩnh không phải nhờ xông pha trận mạc, mà nhờ cái đầu.
"Thủ lĩnh, Lâu Cừ Bộ không thể nào cản nổi tộc ta đâu."
"Tám trăm khinh kỵ ủi qua một lượt, nhiều nhất một ngày là bọn chúng tan xác."
"Nhưng chuyến nam hạ này động tĩnh lớn quá, một bộ tộc sáu nghìn người mà dốc gần như toàn bộ tinh nhuệ khinh kỵ, bộ liệp với giáo thủ cũng kéo đi quá nửa."
"Thiết Diêu Bộ ở phía tây dù đang bị Cốt Đốt Bộ kìm chân, nhưng tai mắt của bọn chúng rải trên thảo nguyên vẫn chưa mù hết đâu."
"Các bộ lạc khác trên thảo nguyên chắc chắn cũng đánh hơi được."
Cao Hột Diên nhìn thẳng phía trước.
Đại quân rảo bước trên hoang nguyên khô cằn úa vàng, hàng ngũ kỵ binh xám trắng tựa như một vệt băng di động, nổi bần bật giữa đồng cỏ.
"Đánh động ai cơ? Thiết Diêu Bộ với Cốt Đốt Bộ ở phía tây đang cắn xé lẫn nhau, rảnh đâu mà ngó sang bên này."
"Chủ lực của Tả Hiền Vương bị ghìm ở mặt trận phía tây hơn nửa năm trời rồi, tâm trí đâu mà quản chúng ta?"
Giọng Cao Hột Diên đều đều, như thể đang nói về một chuyện đã an bài xong xuôi.
"Còn các bộ lạc khác trên thảo nguyên, ai rảnh hơi đứng ra bênh vực một Lâu Cừ Bộ bị cô lập chứ? Bọn chúng chỉ mong Lâu Cừ Bộ biến mất cho rảnh mắt."
"Hơn nữa, với binh lực của Hàn Hột Bộ, bắt nạt một bộ tộc lang bạt chỉ hơn ba nghìn người thì cần gì phải nhìn mặt ai mà hành xử."
Hắn ngừng lại một nhịp rồi nói tiếp: "Chờ nuốt trôi Lâu Cừ Bộ, chiếm xong địa bàn của chúng nó, rồi tìm hiểu xem thứ trong sơn cốc kia rốt cuộc là cái gì."
"Lúc đó là có thể chiếm trọn đồng cỏ này. Lỗi lầm của tổ tiên, cớ sao bắt chúng ta phải gánh?"
"Đến lúc ấy, tộc nhân chẳng cần phải co ro trên bãi đất bồi hứng gió lạnh nữa, cũng chẳng việc gì phải nhìn sắc mặt bất kỳ ai."
Cao Thái im lặng, gã biết Cao Hột Diên nói không sai.
Đại quân vững bước tiến về phương nam, vó ngựa cuốn tung cỏ vụn và cát bụi, giẫm nát lớp cỏ khô tàn úa dưới chân.
Từ bãi đất bồi đến doanh trại Lâu Cừ Bộ mất chừng bốn ngày đường.
Sang ngày thứ hai, đoàn quân bắt đầu tiến vào vùng hoang nguyên thoáng đãng, tầm nhìn mở rộng thênh thang, đường chân trời nối liền với thảo nguyên thành một đường thẳng tắp.
"Mảnh đất màu mỡ thế này, đáng lẽ phải thuộc về chúng ta!"
Gần mấy nguồn nước vẫn thấp thoáng vài căn lều lẻ loi của dân du mục, nhưng bên trong đã trống trơn.
Những nơi đại quân Hàn Hột Bộ quét qua, đám du mục đã sớm lùa gia súc chạy tít ra xa để lánh nạn.
Đang trên đường hành quân, một bách phu trưởng khinh kỵ từ phía trước giục ngựa quay lại bẩm báo: "Thủ lĩnh, cách ba mươi dặm về phía nam có mấy căn lều, trông như trạm gác trinh sát của Lâu Cừ Bộ, có cần nhổ bỏ không?"
Cao Hột Diên phất tay: "Cứ để chúng nó nhìn, chờ chúng nó chạy về báo tin."
Cao Thái liếc sang Cao Hột Diên, gã thừa hiểu mưu tính của thủ lĩnh.
Để Lâu Cừ Bộ sớm thấy cảnh đại quân áp sát, để nỗi sợ hãi gặm nhấm cả khu trại suốt một đêm dài.
Đó là ngón nghề quen thuộc của Cao Hột Diên, không vội giết ngay, phải để con mồi hoảng loạn tột cùng, vờn cho chán chê rồi mới thu lưới.
Tít trên trời cao, hai con ưng chuẩn đang lượn vòng.
Đó không phải giống kền kền thường thấy trên hoang nguyên, vóc dáng chúng to hơn hẳn, bộ lông bóng mượt ánh lên sắc đen pha xanh dưới ánh mặt trời.
Chúng bay cực cao, nghếch mắt nhìn xuống đoàn quân đang rầm rộ nam hạ, thi thoảng lại cất tiếng rít xé gió.
Trong hàng ngũ bộ liệp có kẻ ngước lên nhìn, buông câu chửi "tiếng chim kêu nghe rợn cả người", rồi lại cắm cúi bước tiếp.
Chẳng ai thực sự bận tâm, hoang nguyên này thiếu gì chim ưng.
Nếu có một tay cung thủ đủ cừ khôi nhìn thấu ngàn bước lên tận tầng không, hắn sẽ phát hiện dưới chân hai con ưng chuẩn kia đều buộc dây da, trên dây có đóng dấu tộc huy.
Đó là chim ưng do người thuần dưỡng, hướng lượn của chúng trên bầu trời khớp hoàn toàn với tốc độ và hành trình của đoàn quân nam hạ.
Chỉ còn hai ngày nữa, bọn họ sẽ lọt vào tầm mắt của doanh trại Lâu Cừ Bộ.
Tay Cao Hột Diên đặt lên chuôi thanh loan nguyệt phách phong chiến nhận treo bên hông ngựa, ngón tay chầm chậm vuốt ve lớp dây quấn quanh chuôi đao.
Đã lâu lắm rồi hắn không đích thân ra tay, lần gần nhất là khi Hàn Hột Bộ chinh phục đám du mục sống rải rác bên bờ tây thung lũng.
Khi ấy hắn vừa chạm ngưỡng tứ cảnh, một đao chém đứt phăng chiến mã của thủ lĩnh đối phương, chẻ cả người lẫn ngựa thành hai nửa.
Hiện tại hắn đã là ngũ cảnh.
Còn thủ lĩnh Bạch Nha của Lâu Cừ Bộ, nghe đâu vẫn đang dậm chân ở đỉnh phong tứ cảnh.
Cao Thái dường như nhìn thấu tâm tư của hắn, bèn hạ giọng nhắc nhở: "Thủ lĩnh, Bạch Nha tuy chỉ là tứ cảnh."
"Nhưng ả ta có bí thuật, có thể tạm thời cưỡng ép đẩy tu vi lên ngũ cảnh."
"Đó cũng là lý do Lâu Cừ Bộ bị ép dạt vào góc hoang nguyên suốt mười mấy năm mà vẫn chưa bị diệt tộc."
Cao Hột Diên cười khẩy: "Mười mấy năm bị đè ở góc hoang nguyên chẳng phải nhờ bản lĩnh gì ghê gớm, mà là kéo hơi tàn thôi."
"Ta có đại quân, có vu tế shaman, lấy ngũ cảnh đè tứ cảnh, cửa thắng nắm chắc trong tay, ả lấy cái gì ra mà chống đỡ?"
Cao Thái không nói thêm gì nữa, đại quân tiếp tục rầm rập tiến về phương nam. Trên cao, bóng chim ưng vẫn lượn lờ không dứt.
