Chương 1
Chương 1: Kẻ thù khắp thiên hạ
Đăng ngày 06/10/2026
19
Trời xám xịt, mưa phùn giăng giăng, giữa trời đất như tràn ngập một bầu sầu thảm mịt mùng.
Năm con ngựa khoẻ đường trường đạp tung bùn đất, phi nước đại trong mưa gió.
Đi đầu là một thiếu niên chừng mười bốn mười lăm tuổi, mặc kình trang lụa xanh, chân đi hia mỏng, bên yên ngựa treo một thanh bảo kiếm.
Con ngựa thứ hai chở một thiếu nữ độ mười tám đôi mươi, đường nét thanh tú nhưng vẻ mặt đầy vẻ mỏi mệt, trâm cài nghiêng lệch, bùn đất bám đầy người, cánh tay trái quấn một dải lụa trắng thấm đẫm máu tươi, nay bị nước mưa và bùn đất hòa lẫn thành một màu tím sẫm.
Trên lưng ngựa thứ ba là một thanh niên chừng hai mươi hai, hai mươi ba tuổi, cả người như vừa vớt dưới bùn lên, chẳng còn nhìn ra sắc áo.
Con ngựa thứ tư là một phụ nhân trung niên, đôi mày khóa chặt nỗi sầu, nét mặt bi thương khôn xiết, quanh cổ quấn một vòng lụa trắng, sắc máu đỏ tươi, rõ là vết thương mới mắc phải.
Đi cuối cùng là một con ngựa cao lớn, trên lưng là bậc lão giả ngoài ngũ tuần, vận kình trang mang đao, trước ngực rủ chòm râu dài hoa râm, mắt hổ ngấn lệ, trên khuôn mặt chữ điền chằng chịt bốn vết đao, hai vết sẹo hãy còn mới, hiển nhiên vừa bị thương gần đây.
Đó là một bức tranh thê lương, vẻ chật vật, bi sầu của kẻ đào vong lộ rõ trong từng dáng hình chuyển động.
Gió thu mưa lạnh, mây sầu mịt mù, năm thớt ngựa mỏi mệt, năm con người áo xống tả tơi, vẽ nên nỗi thê lương cay đắng của kiếp lưu đày nhân gian, dẫu là bậc danh hoạ đệ nhất trần đời cũng khôn xiết hoạ nên cảnh tượng đoạn trường đến thế!
Mây âm u càng lúc càng dày, sắc trời thêm mờ mịt, mưa bắt đầu nặng hạt dần.
Lão giả râu dài hoa râm rủ trước ngực nhìn quanh địa thế bốn bề, khẽ giật cương, con ngựa mỏi mệt bỗng gượng chút tàn lực, tung vó lao lên đuổi kịp người phụ nhân trung niên, thở dài một tiếng: “Chúng ta nghỉ một lát rồi đi tiếp! Thương thế của nàng không nhẹ…” Hai dòng lệ lăn dài trên gò má, lẫn vào nước mưa, chẳng còn phân biệt đâu là mưa, đâu là giọt lệ.
Ai bảo trượng phu không rơi lệ, chỉ vì chưa tới lúc thương tâm.
Người phụ nhân nén chặt nỗi sầu khổ trong lòng, gượng nở nụ cười: “Thiếp không sao, chút thương tích này vẫn còn gắng gượng được. Than ôi! Chỉ sợ con bé Quyên Nhi…”
Thiếu nữ trên lưng con ngựa thứ hai bỗng ngoảnh đầu lại nói tiếp: “Mẹ, con ổn mà.” Nàng dù ra sức kìm nén nỗi đau trong lòng, gượng cười cho tươi tắn, nhưng trong đôi mắt to tròn trong veo lại lăn xuống hai giọt lệ long lanh.
Lão giả râu dài hoa râm ngậm ngùi than thở: “Quyên Nhi, con không cần lừa ta…”
Thiếu nữ vội ngắt lời: “Cha, con thật sự ổn mà!” Nàng cắn chặt răng ngọc, nhấc cánh tay trái lên lắc nhẹ hai cái: “Cha xem này, chẳng đau chút nào nữa!”
Cái lắc tay ấy động đến vết thương, đau tới mức nàng toát mồ hôi lạnh, vội vàng ngoảnh mặt đi, hai chân ngầm vận nội kình kẹp chặt bụng ngựa phóng về phía trước.
Ánh mắt lão giả tinh tường dường nào, sớm đã nhìn ra vết thương của ái nữ vô cùng trầm trọng, nếu không sớm chữa trị, cứ lần lữa kéo dài thì một cánh tay trái e rằng sẽ tàn phế. Lão chỉ thấy lòng đau như cắt, ngửa mặt lên trời than dài: “Nghĩ đến Tả Giám Bạch ta, ngửa không thẹn với trời, cúi chẳng thẹn với đất, cớ sao lại rơi vào bước đường này! Còn liên lụy đến vợ con phải theo ta lưu lạc chân trời…”
Người phụ nhân ghìm cương áp sát Tả Giám Bạch, từ từ chìa tay phải nắm lấy tay trái của hắn, ôn tồn bảo: “Phu quân chớ vất vả âu sầu, người lành ắt có trời giúp, mối hiểu lầm và nỗi oan khiên này ắt có ngày sáng tỏ. Tới khi ấy, nhân vật võ lâm trong thiên hạ đều sẽ phải tự thẹn vì hành vi của mình.”
Tả Giám Bạch lắc đầu thở dài, bi phẫn nói: “Tám năm rồi, chúng ta đã đi khắp núi trắng sông đen, sa mạc hoang vu, nhưng nơi nào mới là chốn an thân lập mệnh của chúng ta đây? Than ôi! Suốt tám năm qua chưa từng được nghỉ ngơi trọn vẹn ba ngày, vượt muôn dặm sông núi, bôn ba lận đận, nỗi oan sâu tựa biển mà ngày rửa sạch còn xa tít tắp. Giờ đây oán tích đã lâu, người trong võ lâm thiên hạ ai nấy đều như muốn tóm cả nhà ta mới hả lòng hả dạ. Haizz! Ta dẫu có tài hùng biện của Tô Tần cũng khôn bề biện bạch cho rõ ràng.”
Người phụ nhân dịu dàng an ủi: “Phu quân đừng buồn phiền, ngày rộng tháng dài, cũng chẳng cần gấp gáp trong một sớm một chiều.”
Tả Giám Bạch ngoảnh nhìn thê tử, thấy dải lụa trắng trên cổ nàng đã biến thành một màu đỏ thẫm, hẳn là vết thương vẫn còn rỉ máu, trong lòng hổ thẹn muốn chết, trầm giọng bảo: “Chúng ta đã chạy suốt một đêm nửa ngày. Tính thầm lộ trình, Sinh Tử Kiều kia chỉ còn cách chưa đầy trăm dặm, chúng ta nghỉ một lát rồi hãy đi!”
Người phụ nhân khẽ gật đầu: “Được rồi, vết thương của Quyên Nhi cũng nên xem xét cẩn thận một phen. Than ôi! Tội nghiệp mấy đứa trẻ vô tội, phải cùng chúng ta chịu khổ, tám năm qua chẳng có lấy một ngày yên ổn.”
Tả Giám Bạch khảng khái than: “Thân trượng phu bảy thước mà chẳng thể bảo bọc vợ con, nghĩ đến thực khiến người ta xé lòng…”
Mỹ phụ trung niên tiếp lời: “Phu quân không cần tự trách, nghĩ kỹ lại thì mọi sự đều do tiện thiếp mà ra.”
Tả Giám Bạch ngẩng đầu thở hắt ra một hơi: “Đằng kia dường như có một ngôi miếu nhỏ, chúng ta tạm vào đó lánh gió mưa đi.” Hắn ghìm cương, dẫn đầu lao về phía trước. Năm thớt ngựa gượng chút tàn lực, phi nhanh về hướng tây bắc.
Mưa trút dồn dập, sắc trời càng thêm u ám, rặng núi xa mờ như khói, ngỡ chừng nối liền với mây trời.
Quãng đường này tuy chẳng xa, nhưng năm thớt ngựa đều đã như nỏ mạnh cạn đà, ráng đi chừng một tuần trà mới tới trước ngôi miếu nhỏ.
Đây là một toà sơn thần miếu hoang tàn, chỉ rộng bằng một gian nhà, nhưng tường vách quét vôi trắng, cửa mái còn nguyên, dường như mới được tu sửa cách đây không lâu.
Tả Giám Bạch xuống ngựa trước, toan đưa tay đỡ ái thê, nhưng phụ nhân trung niên đã nhảy phắt xuống, nói nhỏ: “Đừng bận tâm thiếp, mau qua xem Quyên Nhi thế nào.”
Thực ra khi hai người hạ mã thì thiếu nữ cũng đã nhảy xuống lưng ngựa, rảo bước tới bên thiếu niên, khẽ bảo: “Đệ đệ, xuống ngựa nghỉ ngơi một lát đi!”
Thiếu niên đang ngửa mặt nhìn trời, đôi mày hơi cau lại, dường như đang trĩu nặng tâm sự. Tám năm sống kiếp đào vong khiến hắn sớm trưởng thành hơn người, một đứa trẻ mười bốn mười lăm tuổi đã đánh mất nụ cười ngây thơ con trẻ.
Thiếu nữ từ từ vươn tay phải nhẹ nhàng nắm lấy cổ tay thiếu niên, cất giọng dịu dàng: “Thiếu Bạch, đệ đang nghĩ gì thế?”
Tả Thiếu Bạch chợt giật mình, nhảy xuống ngựa, khẽ cười: “Đệ chẳng nghĩ gì cả, tỷ tỷ, lại nghỉ chân sao?”
Thiếu nữ cười thê lương: “Chúng ta đã phi ngựa suốt một đêm nửa ngày rồi, than ôi, ngựa cũng chạy không nổi nữa.” Nàng giơ tay phải ướm thử chiều cao của đệ đệ, hai hàng lệ chầm chậm lăn dài. Nghĩ tới ngày bỏ nhà chạy nạn, đệ đệ hãy còn là một đứa trẻ chưa hiểu sự đời; nay đã cao hơn cả nàng rồi.
Tả Thiếu Bạch nhìn tỷ tỷ một cái: “Đệ cao hơn tỷ rồi.”
Thiếu nữ mỉm cười nhạt: “Ừ! Cao hơn rồi, đệ thật sự lớn rồi!”
Tám năm trốn chạy, cha mẹ chị em hoạn nạn có nhau, gia đình này luôn sống trong cảnh bôn ba, giữa đói khát và sầu khổ. Cảnh ngộ bi thảm khiến họ học được nụ cười ngay trong cay đắng, cha mẹ từ ái, anh em hòa thuận, dẫu bản thân đau đớn nhường nào cũng đều giấu kín trong lòng, không muốn để người thân phải gánh chung.
Lúc này, thanh niên chừng hai mươi hai, hai mươi ba tuổi mình đầy bùn đất bỗng bước lại, giơ tay đón lấy dây cương từ tay hai người em, cười bảo: “Cùng cha nương vào miếu nghỉ ngơi đi!”
Thiếu nữ khẽ nói: “Đại ca lúc nào cũng vất vả nhất.”
Thanh niên đầy bùn đất cười nhạt không đáp, một mình dắt năm con ngựa vòng ra bãi cỏ bên sườn miếu.
Năm con ngựa này chạy suốt một đêm nửa ngày chưa được ăn cỏ, thấy cỏ dại mơn mởn liền cúi đầu ngấu nghiến gặm ăn.
Tả Giám Bạch giũ nước mưa trên người, cất tiếng: “Kế Bạch, thả ngựa để chúng tự ăn, con cũng vào miếu nghỉ ngơi một chút đi.”
Tả Kế Bạch đáp: “Cha nên xem xét vết thương của mẹ và muội muội Văn Quyên trước đã, không cần bận tâm đến hài nhi đâu.”
Tả Giám Bạch vuốt chòm râu dài trước ngực, lẳng lặng bước vào trong miếu. Mỗi khi dừng chân, Tả Kế Bạch luôn tranh phần chăm sóc ngựa cho cả năm người, đợi đến khi lo xong cỏ nước cho năm con ngựa mới chịu nghỉ ngơi, tám năm ròng rã như một, chưa từng gián đoạn.
Bốn người ngồi quanh trong ngôi miếu hoang tàn, Tả Giám Bạch mở túi vải dầu bên hông lấy lương khô ra bảo: “Các con, ăn chút gì đi, đây là chặng đường cuối cùng của chúng ta rồi, sau này chắc sẽ chẳng còn ai truy đuổi chúng ta nữa.”
Hắn từ từ đặt thức ăn xuống, lại lấy ra một bình ngọc trắng. Mở nút bình, hắn liếc nhìn ái thê, cười chua chát: “Đây cũng là bình… cuối cùng rồi…” Ánh mắt chuyển sang người thiếu nữ, hắn bảo: “Quyên Nhi, qua đây để cha xem vết thương trên tay con.”
Tả Văn Quyên nói: “Vết thương của con không nặng, cha cứ xem cho mẹ trước đi!”
Mỹ phụ trung niên cười nhạt: “Mẹ đã già rồi, vết thương trên cổ này dẫu mặc kệ thì cùng lắm cũng chỉ để lại một vết sẹo. Con tuổi còn trẻ, nếu tàn phế một cánh tay thì là mối hận cả đời.”
Tả Giám Bạch bảo: “Một bình thuốc này đủ cho cả hai mẹ con dùng.” Hắn đưa tay tháo dải lụa trắng nơi cổ mỹ phụ, chỉ thấy một vết đao sâu chừng một tấc quấn quanh nửa cổ, miệng vết thương vẫn đang rỉ máu, bất giác trong lòng kinh hãi, thầm nghĩ: “Vết thương nặng thế này mà chưa đứt gân tổn cốt, cũng xem như trong cái rủi có cái may.”
Hắn cẩn thận dị thường rắc chút bột thuốc trắng từ trong bình lên miệng vết thương của thê tử, rồi lại băng dải lụa trắng lại cho nàng, nói: “Quyên Nhi, con qua đây đi!”
Tả Văn Quyên cởi dải lụa trên tay, bước lại gần. Vết thương này của nàng đã nhiều ngày không được bôi thuốc chữa trị, lại dầm mưa dãi gió nên đã có phần lở loét.
Tả Giám Bạch cau mày than: “Quyên Nhi, nếu chậm thêm hai ngày nữa, vết thương lở loét hết thì cánh tay trái này của con chắc chắn phải phế bỏ.” Hắn dốc hết bột thuốc trong bình ngọc rắc lên miệng vết thương trên tay ái nữ, vung tay ném bình ngọc đi, ngậm ngùi nói tiếp: “Chỉ mong chặng đường cuối này không bị cường địch đuổi kịp…”
Tả Thiếu Bạch bỗng cất lời: “Cha! Trong lòng hài nhi có một chuyện không rõ, chẳng hay có nên hỏi chăng?”
Tả Giám Bạch chăm chú nhìn vào mặt con trai, thấy vẻ kiêu hãnh lẫn phẫn uất hiện rõ trên nét mặt hắn, khẽ thở dài: “Con hỏi đi! Haizz, dẫu các con không hỏi thì ta cũng nên nói cho các con biết rồi.”
Tả Thiếu Bạch nói: “Từ ngày hài nhi biết nhớ, cả nhà chúng ta đã sống trong cảnh đào vong…”
Mỹ phụ trung niên không kìm được dòng lệ nghẹn ngào: “Con ơi, năm gia đình ta bắt đầu chạy nạn, con mới vừa tròn bảy tuổi.”
Tả Thiếu Bạch hỏi: “Năm nay hài nhi bao nhiêu tuổi rồi?”
Tả Giám Bạch đáp: “Mười lăm tuổi rồi.”
Tả Thiếu Bạch nói: “Hài nhi bảy tuổi chạy nạn, năm nay mười lăm tuổi, trọn vẹn tám năm trốn chui trốn lủi, trèo non lội suối, đi khắp nam bắc đông tây, tuyết băng ải bắc, cát bụi sa mạc, vậy mà chẳng có nổi một tấc đất cắm dùi cho gia đình ta, nơi nơi đều có vó ngựa truy đuổi. Cha ơi! Rốt cuộc cha đã làm sai chuyện gì mà nhân vật võ lâm trong thiên hạ đều biến thành kẻ thù của chúng ta…” Mối nghi vấn và nỗi uất ức dồn nén trong lồng ngực suốt bao năm qua một khi bộc phát khiến tâm trạng hắn vô cùng kích động, giọng nói càng lúc càng cao: “Mỗi lần giao thủ với cha mẹ, ca ca, tỷ tỷ, kẻ đến đều không giống nhau, chẳng lẽ những kẻ đó đều có huyết hải thâm thù với cha, chẳng lẽ bọn họ đều là phường gian ác cả hay sao?”
Mỹ phụ trung niên bỗng nghiêm giọng quát: “Câm miệng! Nói chuyện với cha con mà dám càn rỡ thế à?”
Tả Thiếu Bạch nghe mẹ quát, nỗi kích động trong lòng chợt lắng dịu đôi phần, nhìn cha rồi khóc nấc lên: “Hài nhi sai rồi.” Dứt lời liền sụp lạy xuống đất.
Tả Giám Bạch nhìn sang ái thê, thở dài: “Đừng mắng nó. Than ôi! Tả mỗ vô năng, liên lụy vợ con phải theo ta lưu lạc chân trời…” Hắn giơ tay xoa nhẹ mái tóc rối của Tả Thiếu Bạch, ngậm ngùi nói tiếp: “Con ơi, con không sai, do người làm cha này vô năng không rửa sạch được nỗi oan khiên hiểu lầm, khiến con cái cũng phải mang tiếng nhơ.”
Tả Thiếu Bạch từ từ ngẩng đầu lên: “Nỗi oan khuất trên mình cha, chẳng hay có thể nói cho hài nhi biết chăng?”
Tả Giám Bạch gật đầu cười khổ: “Đương nhiên phải nói cho các con biết, lúc này chính là cơ hội cuối cùng rồi. Con ơi, dẫu con không hỏi thì vi phụ cũng nhân cơ hội này mà nói cho các con hay.”
Tả Văn Quyên chớp chớp đôi mắt to tròn: “Cha, xin đừng nản chí, chúng ta đã trốn chạy được tám năm mà không rơi vào tay địch, cớ sao lại không thể chạy tiếp? Võ công của đại ca ngày càng cao cường, kiếm thuật của con cũng tiến bộ rất nhiều, đợi khi vết thương trên tay con lành lặn là có thể dốc sức liều mạng với lũ người truy đuổi. Than ôi! Điều con không hiểu là vì sao cha thà chịu thương tổn dưới đao kiếm của người ta chứ quyết không chịu hạ độc thủ đả thương địch?”
Trên nét mặt sầu khổ của Tả Giám Bạch nở một nụ cười an ủi: “Vi phụ không thể sai lại càng sai. Ta đã là kẻ ngoài ngũ tuần, sống chết cũng chẳng đáng tiếc, há có thể kết thêm sinh tử cừu địch cho các con.”
Tả Văn Quyên rưng rưng tiếp lời: “Cha tuy có lòng từ bi, nhưng lũ cường địch bám riết không tha kia đâu chịu chừa cho chúng ta một con đường sống. Tám năm qua cha mẹ trải trăm trận chiến, thương tích đầy mình, nhưng vẫn chẳng thể cảm hóa được những kẻ truy sát. Hào khí của cha dường như đã mai một hết rồi!”
Tả Giám Bạch lắc đầu: “Không phải hào khí của vi phụ đã tắt, mà thực là đại thế xoay vần, đã chẳng còn là lúc cha con ta đồng lòng hiệp lực mà có thể vượt qua cơn nguy khốn. Than ôi! Cửu đại môn phái đồng thanh phát thiệp, cáo thị võ lâm, phàm ai bắt sống được vi phụ sẽ được tùy ý chọn học ba môn tuyệt kỹ của cửu đại môn phái, lấy được thủ cấp của vi phụ cũng được chọn học một môn tuyệt kỹ. Phần thưởng hậu hĩnh chưa từng có tiền lệ từ cổ chí kim thế này, đối với giới võ lâm mà nói còn trân quý hơn cả bảo vật liên thành. Bất luận là ai, chỉ cần học được ba môn trong hai mươi bảy tuyệt kỹ của cửu đại môn phái đương thời là đã đủ ngạo thị giang hồ, xưng bá võ lâm.”
Tả Văn Quyên nói: “Con hiểu rồi, đám người kia vì muốn học tuyệt nghệ của cửu đại môn phái, dẫu chẳng thù oán gì với chúng ta cũng quyết bám đuổi không tha.”
Tả Giám Bạch nói: “Chính là như thế, vậy nên nhân vật võ lâm trong thiên hạ phần lớn đều biến thành kẻ thù của gia đình ta, thanh thế bực này há phải sức cha con ta có thể kháng cự…”
Hắn thở dài một tiếng, vẻ mặt nghiêm nghị nói tiếp: “Thế nên nhà ta chỉ có một con đường trốn chạy. Ta vốn nghĩ thiên hạ rộng lớn nhường này lẽ nào không có một chốn dung thân, nhưng tám năm trải nghiệm đã chứng minh tâm nguyện ấy khó thành, chỉ đành tìm đường sống trong cõi chết, liều mình thử con đường cuối cùng này thôi.”
Tả Văn Quyên toan hỏi con đường tìm sống trong cõi chết cuối cùng là gì, Tả Thiếu Bạch đã cướp lời trước: “Rốt cuộc cha đã vì chuyện gì mà khiến cửu đại môn phái phải cùng nhau phát thiệp, không chịu dung tha?”
Tả Giám Bạch nhìn ái thê, cười thê lương: “Chuyến đi này sống chết họa phúc khó lường, nếu giờ không nói cho chúng biết, e rằng vĩnh viễn chẳng còn ngày nói được nữa.”
Mỹ phụ trung niên bảo: “Mọi sự tùy phu quân định đoạt!”
Tả Giám Bạch ngửa mặt lên, thở dài thắt thẻo: “Các con, đây là một mối hiểu lầm khôn bề giải thích. Đến tận bây giờ vi phụ vẫn không thể nghĩ ra là có kẻ rắp tâm gắp lửa bỏ tay người, hay chỉ là một sự trùng hợp ngẫu nhiên. Song nếu không phải người của cửu đại môn phái liên thủ truy sát vi phụ, vi phụ tin chắc trong tám năm qua ta đã tìm ra kẻ chủ mưu thực sự.” Hắn dường như tự biết nói ra cũng khó lòng khiến con cái tin phục, thở dài một tiếng rồi bỗng ngậm miệng không nói tiếp.
Tả Thiếu Bạch hỏi: “Cha chịu mối oan khuất thế nào, sao lại không nói tiếp?”
Tả Giám Bạch đáp: “Nói ra e rằng các con cũng khó lòng tin…” Hắn chợt cất cao giọng: “Kế Bạch, con vào đây, vi phụ có chuyện muốn nói với các con.”
Tả Kế Bạch đáp lời rồi chạy vào trong miếu, giũ nước mưa trên người hỏi: “Cha có điều chi răn dạy?”
Tả Giám Bạch từ từ đứng dậy: “Con có biết vì sao cửu đại môn phái lại cùng phát thiệp trong võ lâm, quyết đẩy cả nhà ta vào chỗ chết không?”
Tả Kế Bạch khẽ thở dài: “Hài nhi biết cha mang mối oan tày trời.”
Tả Giám Bạch hỏi: “Con có biết nguyên do từ đâu chăng?”
Tả Kế Bạch đáp: “Bắt nguồn từ việc bốn vị chưởng môn của cửu đại môn phái bị người ám toán bỏ mạng, bọn họ ngờ là do cha làm, chẳng phân rõ trắng đen, cũng không cho cha biện bạch, liền phái tinh nhuệ đệ tử của cửu đại môn phái vây hãm Bạch Hạc Bảo trong đêm, tắm máu Bạch Hạc Môn, bức cả nhà ta phải bôn ba trốn chạy…”
Tả Thiếu Bạch nhìn đại ca, bỗng chen ngang: “Ca ca, vì sao bọn họ lại nghi ngờ lên đầu cha?”
Tả Kế Bạch thoáng ngẩn ra: “Chuyện này vi huynh cũng không rõ lắm!” Hắn từ từ chuyển ánh mắt sang mặt cha, tiếp lời: “Hình như là cha tình cờ có mặt trên đỉnh Yên Vân thuộc Bạch Mã Sơn ngay sau khi bốn vị chưởng môn của Thiếu Lâm, Võ Đang, Nga Mi, Không Động bị hại.”
Mấy lời này chẳng khác nào lời chất vấn người cha, hiển nhiên trong lòng Tả Kế Bạch cũng ôm mối hoài nghi sâu sắc.
Tả Giám Bạch khẽ vuốt chòm râu dài, cười khổ nhìn ái thê: “Cũng chẳng trách cửu đại môn phái phát thiệp giang hồ, quyết trừ khử ta cho bằng được. Than ôi! Ngay cả cốt nhục của chúng ta cũng ôm mối ngờ vực với người làm cha này.”
Tả Thiếu Bạch bỗng quỳ sụp hai gối xuống đất, sụt sùi: “Không phải hài nhi nghi ngờ cha, chỉ mong cha nói rõ ngọn ngành nội tình, để sau này chúng con còn biết đường tra xét, rửa sạch oan khuất cho cha.”
Tả Giám Bạch biến sắc, toàn thân khẽ run rẩy, rõ ràng trong lòng cũng muôn phần kích động, nhưng mãi lâu sau chẳng thốt nên lời.
Mỹ phụ trung niên bỗng mở miệng: “Phu quân nói cho chúng biết đi, than ôi! Sự đã đến nước này, cũng chẳng cần giữ thể diện cho tiện thiếp làm gì nữa.”
Tả Giám Bạch khẽ thở dài: “Các con có biết nơi chúng ta sắp đến là chốn nào chăng?”
Tả Văn Quyên nãy giờ vẫn lặng thinh đứng bên cạnh liền tiếp lời: “Sinh Tử Kiều.”
Mối nghi ngờ trong lòng Tả Thiếu Bạch chưa tan, toan gặng hỏi tiếp, nhưng thấy dòng lệ mẹ tuôn như suối đành phải nén lại.
Chỉ nghe Tả Giám Bạch nói: “Các con có biết vì sao nơi ấy gọi là Sinh Tử Kiều không?”
Tả Văn Quyên đáp: “Nhi nữ không biết.”
Tả Giám Bạch nói: “Đó là một nơi hiểm ác tột cùng, nhưng trong võ lâm lại lưu truyền không dứt. Căn nguyên vì đâu? Ngay cả vi phụ cũng không biết hết, chỉ hay có hàng ngàn đồng đạo võ lâm đã táng mạng tại nơi đó…”
Tả Văn Quyên hỏi: “Đã là nơi hiểm ác tột cùng, cớ sao chúng ta lại phải đến đó? Lẽ nào đất trời bao la nhường này thực sự không có chốn dung thân cho gia đình ta?”
Tả Giám Bạch đáp: “Hết rồi, rừng sâu đầm lớn, sa mạc hoang vu, nơi nào chúng ta đến được thì nơi đó đều có vó ngựa truy đuổi theo sau, chỉ có nơi hiểm ác tột cùng như Sinh Tử Kiều kia may ra mới tìm được một tia hy vọng sống.”
Tả Văn Quyên nói: “Cha thứ lỗi cho con lắm lời, cớ sao nơi ấy lại gọi là Sinh Tử Kiều?”
Tả Giám Bạch bảo: “Tương truyền đó là một cây cầu đá, quanh năm mây đen mịt mù phong tỏa, một khi bước chân lên cây cầu ấy thì sống chết chẳng còn do mình định đoạt. Mấy chục năm qua chỉ có hai người từng đi qua cây cầu đó, nhưng sống chết ra sao cũng bặt vô âm tín. Về sau không biết bao nhiêu nhân vật võ lâm nuôi mộng qua cầu, song chẳng một ai toại nguyện.”
Tả Văn Quyên hỏi: “Cha ơi! Liệu chúng ta có qua được không?”
Tả Giám Bạch lắc đầu cười: “Vi phụ cũng không rõ, nhưng đã có hai vị tiền bối cao nhân qua được thì kể như trong cõi chết vẫn có đường sinh. Tình thế bức bách, vi phụ đành dẫn các con mạo hiểm một phen…” Sắc mặt hắn bỗng chốc trở nên vô cùng nghiêm nghị, chậm rãi tiếp lời: “Chỉ cần trong các con có một người qua được, giữ lại được một nhánh hương hỏa cho Tả gia thì cũng cam lòng rồi…”
Đột nhiên, một tiếng ngựa hí từ đằng xa vọng lại.
Tả Giám Bạch biến sắc: “Lại có cường địch đuổi tới!”
Mỹ phụ trung niên khẽ lướt thân mình ra khỏi ngôi miếu nhỏ, cất tiếng: “Thiếp đi dắt ngựa.”
Tả Kế Bạch nói: “Sao dám phiền lụy mẫu thân…” Toan sải bước xông ra thì bị Tả Giám Bạch túm chặt lấy: “Cứ để mẹ con đi…” Giọng hắn bỗng trầm hẳn xuống: “Nếu cha con mẹ con chúng ta cùng chôn xác dưới Sinh Tử Kiều kia thì cũng đành, nhưng chỉ cần hoàng thiên phù hộ, trong các con có một người giữ được mạng sống, sau này hãy tới Du Thụ Loan ở phía nam Nhạc Dương Thành tìm một người tên là Lưu Hạt Tử, hỏi ông ta xem vật gửi của cố nhân họ Bạch còn đó chăng. Nếu ông ta hỏi các con ‘Khắc này là giờ nào’, hãy đáp rằng: ‘Mặt trời lặn ráng chiều đỏ ối’. Nếu ông ta đáp ‘Đường hoàng tuyền không quán trọ’, thì đúng là người đó rồi, các con đối thêm một câu ‘Khách từ Tây Vực tấm lòng Phật tới’, là có thể lấy lại vật vi phụ gửi gắm…” Nói tới đây, đằng xa vang lên một tiếng quát lớn, Tả Giám Bạch chẳng kịp nói tiếp, thân hình vút lên, lao vụt ra ngoài miếu.
Tả Kế Bạch chộp lấy cổ tay phải của Tả Thiếu Bạch, trầm giọng dặn: “Đệ đệ suốt tám năm qua chưa từng chịu thương tích, lúc này Sinh Tử Kiều đã gần ngay trước mắt, đệ phải giữ lấy tấm thân hữu dụng để rửa sạch oan khuất cho cha mẹ. Nghe lời đại ca, lên ngựa đi trước mau.” Hắn nghiêng mình chắn trước mặt đệ đệ rồi bước ra cửa miếu.
Tả Văn Quyên nghiêng mình lướt đi, dùng chiêu “Xảo Yến Xuyên Liêm” vút qua bên hông Tả Kế Bạch, vượt lên trước mặt đại ca.
Lúc này, mỹ phụ trung niên đã giao thủ với một tên đại hòa thượng vóc người cao lớn. Tên hòa thượng cầm một cây nguyệt nha phương tiện thiền trượng, đầu trượng to như vành trăng, lấp loáng ánh thép trong mưa gió, tiếng gió rít rợn người vây chặt mỹ phụ trong quầng trượng quang.
Tả Giám Bạch quát lớn một tiếng, tay phải rút Kim Bối Khai Sơn Đao, tay trái luồn vào ngực áo rút ra một thanh chủy thủ bằng thép tinh luyện dài chừng một thước lóe hàn quang lấp loáng. Hắn phóng mình một cái bay xa hơn trượng, kim đao bên tay phải chém ngang, đón đỡ thẳng cây nguyệt nha thiền trượng dài chín thước tám tấc của tên hòa thượng.
Chỉ nghe một tiếng va chạm chát chúa, cây nguyệt nha trượng nặng nề của tên hòa thượng bị kim đao gạt phăng sang bên, thanh chủy thủ bên tay trái đâm tới bằng chiêu “Thám Lãnh Thủ Châu”, ép tên hòa thượng phải lùi lại một bước.
Tả Thiếu Bạch xoát một tiếng rút trường kiếm, cất giọng quát to: “Bọn họ đuổi cùng giết tuyệt không chừa đường sống, bức cả nhà ta phải bôn ba trốn chạy không chốn dung thân, chi bằng thay vì phiêu bạt chân trời góc biển, ta liều chết sa trường một trận với chúng cho xong!”
Chỉ nghe Tả Văn Quyên giục: “Đại ca, đệ đệ, mau lên ngựa đi tiếp, muội đi giúp cha mẹ cản địch.”
Chỉ trong chớp mắt ấy đã có mười bóng người lao tới, nhưng đều bị vợ chồng Tả Giám Bạch liên thủ chặn đứng. Tả Giám Bạch tay phải kim đao, tay trái chủy thủ, tung ra một màn đao quang hàn khí bức người, cương nhu phối hợp; cùng với hai thanh trường kiếm của mỹ phụ trung niên thế mà phong tỏa trọn con đường nhỏ rộng chừng bảy tám thước. Mười mấy người đối phương binh khí va chạm ầm ầm, dốc sức tấn công dữ dội nhưng vẫn chẳng thể bước qua nửa bước.
Hai vợ chồng chạy trốn suốt tám năm vẫn chẳng dứt được vó ngựa truy sát, trải qua mấy trăm trận đánh, mang thương tích mười mấy lần, nhưng võ công lại tiến cảnh vượt bậc. Đặc biệt là thuật đao kiếm hợp bích của hai người được trui rèn từ những trận huyết chiến sinh tử, phát huy trọn vẹn sở trường võ học của cả hai, chiêu số phối hợp khăng khít không một kẽ hở. Đối phương dẫu đông người nhưng tay chân hỗn loạn, tự cản trở lẫn nhau, ngược lại khó lòng thi triển hết sở học.
Tả Kế Bạch buông tay khỏi móc gài bên hông, vung ra một ngọn nhuyễn tiên, tay trái rút từ trong ống ủng ra một thanh kiếm vàng dài chừng một thước, quát lên lạnh lùng: “Quyên muội đứng lại.”
Tả Văn Quyên vừa buông dây cương, tuốt kiếm trong tay toan tiếp ứng cho cha mẹ cùng chống cường địch, nghe tiếng quát lạnh lùng của Tả Kế Bạch bất giác giật mình khựng lại, từ từ quay mặt nhìn Tả Kế Bạch: “Ca ca, có chuyện gì thế?”
Từ thuở lọt lòng đến giờ, nàng chưa từng nghe Tả Kế Bạch quát mắng lạnh lùng đến thế bao giờ.
Tả Kế Bạch trừng mắt, tinh quang bắn ra dữ dội, nhìn chằm chằm vào mặt Tả Văn Quyên, lạnh lùng bảo: “Làm ca ca như ta chưa từng nói nặng với các em một lời, lúc này ai không nghe lời ta thì ta không nhận người đó là muội muội, đệ đệ nữa…”
Hắn khựng lại một thoáng rồi tiếp: “Muội đưa đệ đệ lên ngựa đi trước mau.”
Đôi mắt Tả Văn Quyên trào ra hai hàng lệ, nàng cười thê lương: “Ca ca và đệ đệ gánh vác trọng trách, sau này rửa sạch oan khuất cho cha, gánh nặng ấy to lớn dường nào. Muội phận nữ nhi, dẫu giữ được mạng sống cũng chẳng giúp được gì nhiều. Xin ca ca thứ lỗi muội nói lời mạo phạm, huynh hãy đưa đệ đệ đi đi!”
Tả Kế Bạch giận dữ ngắt lời: “Quyên muội câm miệng! Muội tự lượng võ công của mình so với ca ca thế nào?”
Tả Văn Quyên đáp: “Tiểu muội tự biết khó sánh bằng ca ca.”
Tả Kế Bạch nói: “Đúng là như thế, đám cường địch truy sát này phần lớn là cao thủ của cửu đại môn phái, muội dẫu ôm lòng ngọc nát đá tan cũng chẳng giúp được cha mẹ là bao. Nghe lời ta, dẫn đệ đệ lên ngựa đi trước mau!” Câu cuối cùng thốt ra đầy vẻ ngậm ngùi, lệ trượng phu lã chã tuôn rơi.
Tả Văn Quyên khóc ròng: “Đại ca, huynh không thể…”
Hào khí Tả Kế Bạch bừng bừng, quát lớn: “Không được nói nữa! Muội rốt cuộc có nghe lời ca ca không?”
Tả Văn Quyên nhìn đôi mắt giận dữ trừng trừng đến rách cả khóe mi, máu hòa cùng nước mắt chảy dài trên má huynh ấy, cõi lòng càng thêm đau xót, từ từ hạ trường kiếm trong tay xuống: “Tiểu muội… tiểu muội… tuân mệnh là được chứ gì.” Từng câu từng chữ lẫn trong tiếng khóc nghẹn ngào thê lương.
Tả Kế Bạch ngậm lệ cười: “Thế mới là muội muội ngoan của ta, hãy chăm sóc đệ đệ cho tốt, không cần đợi cha mẹ và vi huynh nữa, lên ngựa đi đi! Nguyện hoàng thiên thương xót cho hai đứa qua được Sinh Tử Kiều kia…” Hắn từ từ quay đầu, đưa tay giật lấy trường kiếm trong tay Tả Thiếu Bạch, rồi đem thanh kiếm vàng trong tay mình nhét vào tay đệ đệ, tiếp lời: “Thanh Kim Kiếm này là tín vật của Bạch Hạc Môn chúng ta, năm xưa ngoại tổ phụ cậy nhờ thanh kiếm này sáng lập Bạch Hạc Môn, giành được một chỗ đứng trong võ lâm, bởi thế Bạch Hạc Môn chúng ta còn được gọi là Kim Kiếm Môn. Ngoại tổ phụ truyền kiếm này cho cha, cha dựa vào kiếm này làm rạng danh Bạch Hạc Môn, mắt thấy nền móng đã vững chắc, nào ngờ lại bị cửu đại môn phái liên kết với bốn môn hai hội ba đại bang trong võ lâm, ngót trăm cao thủ đang đêm tập kích Bạch Hạc Bảo, hủy diệt cơ nghiệp hai đời tâm huyết chỉ trong một đêm. May nhờ cha thần dũng, mẹ thiện chiến, đưa mấy anh em ta bôn tẩu chân trời, tám năm qua đi khắp nam bắc đại giang, sa mạc hoang vu, trải qua vô số trận ác chiến kinh tâm động phách, bao phen thoát chết trong gang tấc. Cha truyền Kim Kiếm cho ta, hôm nay ta trao lại cho đệ đệ, mong đệ giữ gìn cẩn thận thanh kiếm này, ngày sau chấn hưng hùng phong Bạch Hạc Môn chúng ta.”
Tả Thiếu Bạch nhận lấy Kim Kiếm: “Đại ca, đệ…”
Tả Kế Bạch vung tay ngắt lời: “Cha cả đời quang minh lỗi lạc, tuyệt đối không làm ra chuyện ám toán mưu sát chưởng môn tứ đại môn phái, trong đó ắt có uẩn khúc, đệ mau lên ngựa đi!”
Vừa lúc ấy nghe tiếng Tả Giám Bạch nghiêm giọng quát to: “Các người đuổi cùng giết tuyệt thế này vị tất đã quá ép người rồi, hôm nay Tả Giám Bạch ta phải đại khai sát giới!”
Tiếng quát chưa dứt, bỗng một tiếng thảm thiết vang lên, một đại hán kình trang bị Kim Bối Khai Sơn Đao chém đứt làm hai nửa.
Mấy tiếng rít gào phẫn nộ nổi lên, thế công của đối phương càng thêm tàn khốc, đơn đao, thiết tiên, hoa thương, lượng ngân côn, nguyệt nha trượng… hơn mười thứ binh khí ào ạt như cuồng phong bão táp trút xuống vợ chồng Tả Giám Bạch.
Rõ ràng Tả Giám Bạch đả thương một cường địch đã châm ngòi cho dã tâm liều mạng của đối phương.
Tả Kế Bạch bế xốc Tả Thiếu Bạch đặt lên lưng ngựa, trầm giọng bảo Tả Văn Quyên: “Mau đưa đệ đệ đi.”
Tả Văn Quyên đưa tay áo lau vệt nước mắt trên mặt, vung tay vỗ mạnh một chưởng vào mông ngựa Tả Thiếu Bạch, con ngựa rít dài một tiếng, gắng gượng tàn lực cất vó lao vút đi, Tả Văn Quyên cầm kiếm bám sát theo sau bảo vệ đệ đệ.
Tả Kế Bạch đứng nhìn hai thớt ngựa lao xa hơn mười trượng mới hú dài một tiếng, khảng khái thốt: “Mẫu thân xin lui lại nghỉ ngơi, để hài nhi chặn chúng một hồi.” Nhuyễn tiên múa tít, hắn lao thẳng vào trận địa.
Lại nói Tả Văn Quyên và Tả Thiếu Bạch chạy một mạch mười mấy dặm, hai con ngựa khoẻ bỗng hí lên một tiếng yếu ớt rồi cùng quỵ rạp xuống đất.
Ngựa này dẫu là tuấn mã trăm con chọn một, nhưng sau hơn một tháng ròng rã bôn ba ngày đêm thì sức lực đã cạn kiệt, chưa kịp hồi phục lại phải dốc sức phi nước đại nên ngã gục không gượng dậy nổi.
Tả Văn Quyên nhảy xuống đất, khẽ hỏi: “Có bị thương không?”
Tả Thiếu Bạch đáp: “Không ạ.”
Tả Văn Quyên ngẩng đầu nhìn, cách đó chừng một dặm núi cao sừng sững, dẫu tuấn mã còn sức cũng khôn kham cưỡi ngựa leo núi. Nàng khẽ thở dài, tháo dây cương bàn đạp trên hai con ngựa, vỗ nhẹ lên lưng chúng hai cái: “Ngựa ơi, các ngươi tự đi đi!” Dứt lời liền dắt cổ tay Tả Thiếu Bạch rảo bước về phía trước.
Tả Thiếu Bạch bỗng thở dài: “Tỷ tỷ, tỷ bảo cha, mẹ và đại ca có đánh lui được cường địch không?”
Tả Văn Quyên đáp: “Kẻ địch đông người, ai nấy võ công cao cường, đánh lui e là không dễ, nhưng cha thần dũng vô song, mẹ kiếm pháp tinh thuần đã đắc được thần tủy của Bạch Hạc Thất Thập Nhị Thức, võ công của đại ca gần đây lại tiến cảnh vượt bậc, hợp sức ba người thì việc thoát thân không phải chuyện khó, đệ chớ bận lòng.” Trong lòng nàng dẫu tràn ngập nỗi đau sinh ly tử biệt, nhưng vẫn phải gượng cười để an ủi đệ đệ.
Tả Thiếu Bạch ngửa nhìn vòm mây đen kịt, lẩm bẩm: “Cha dường như có nỗi khổ tâm khó nói. Than ôi! Rõ ràng cha có thể nói cho chúng ta biết rốt cuộc vì cớ sự gì mà rơi vào cảnh bị cả võ lâm thiên hạ truy sát, vậy mà chẳng hiểu sao lại không chịu nói…”
Hắn quay sang nhìn Tả Văn Quyên với vẻ mặt đầy mong đợi, hắn biết rõ tỷ tỷ chắc chắn biết nhiều hơn mình.
Nào ngờ Tả Văn Quyên cố ý lảng tránh, đáp chẳng ăn nhập vào đâu: “Đệ đệ, trèo qua ngọn núi cao phía trước là sắp tới Sinh Tử Kiều rồi. Nghe cha bảo Sinh Tử Kiều là một chốn ngập tràn nỗi kinh hoàng, mấy chục năm qua nhân vật võ lâm táng mạng ở đó không dưới mấy trăm người, chỉ mong hoàng thiên phù hộ cho đệ có thể bình an qua được Sinh Tử Kiều.” Nàng như cố ý trốn tránh Tả Thiếu Bạch, ngoảnh mặt đi né tránh ánh mắt của hắn.
Tả Thiếu Bạch bỗng giật mạnh tay phải, hất tung bàn tay Tả Văn Quyên ra, kích động thốt: “Tỷ đừng lừa đệ nữa, vì sao không cho đệ biết rốt cuộc cha đã phạm phải sai lầm gì? Cửu đại môn phái trong võ lâm xưa nay danh tiếng lẫy lừng, cớ sao lại đồng loạt đối địch với Bạch Hạc Môn chúng ta?” Hắn thở dốc một hơi dài rồi nói tiếp: “Tỷ tỷ, đệ biết tỷ rõ nội tình, nhưng sao lại không nói cho đệ hay? Tỷ không chịu nói thì đệ không nhận tỷ là tỷ tỷ nữa!”
Hai chị em xưa nay luôn yêu thương kính trọng lẫn nhau, Tả Văn Quyên chưa từng thấy đệ đệ nổi giận bao giờ, trong lòng vừa cuống vừa xót xa, nước mắt nóng hổi cứ thế tuôn trào.
Tả Thiếu Bạch bỗng ngửa mặt lên trời cười điên dại, cắm đầu chạy thốc về phía trước.
Lòng hắn ngập tràn nỗi phẫn uất khôn bề kiềm chế, dồn hết sức bình sinh điên cuồng lao lên núi.
Đỉnh núi sừng sững hiểm trở, mưa ướt đường trơn trượt, Tả Văn Quyên thấy đệ đệ lao vun vút trên vách đá cheo leo bất giác run rẩy tâm thần, cất tiếng thét lớn: “Đệ đệ, mau dừng lại, tỷ nói cho đệ biết là được chứ gì.” Nàng vừa la hét vừa cắm cổ đuổi theo.
Tả Thiếu Bạch nghe tiếng gào khóc như đỗ quyên rỏ máu của tỷ tỷ, lòng bất giác mềm lại, dừng bước.
Tả Văn Quyên phi thân như bay, đuổi kịp Tả Thiếu Bạch liền chộp lấy cánh tay phải của hắn, lắc mạnh: “Đệ đệ, trong mấy anh em chúng ta cốt cách của đệ là tốt nhất, cha thường bảo việc Tả gia ta có rửa sạch oan khiên được hay không đều trông cậy cả vào đệ. Sao đệ có thể khinh suất mạng mình, không biết tự trân trọng thế hả?”
Tả Thiếu Bạch đưa tay áo lau vệt lệ trên mặt: “Tỷ tỷ, nếu cha thực sự làm ra chuyện khuất tất nhơ bẩn, phận làm con chúng ta chết thay cho người cũng xem như trọn đạo hiếu; còn nếu người không làm chuyện xấu xa, cớ sao lại không chịu kể rõ ngọn ngành nỗi oan khuất ấy?”
Tả Văn Quyên nói: “Cha là bậc hiệp can nghĩa đởm, lòng dạ quang minh lỗi lạc, há lại làm ra chuyện khuất tất không dám để trời đất soi xét? Đệ không được đoán mò làm vấy bẩn thanh danh của cha.”
Tả Thiếu Bạch hỏi: “Vậy sao người không chịu nói ra chân tướng nội tình?”
Tả Văn Quyên đáp: “Cha có nỗi khổ tâm của cha, phận làm con chúng ta sao có thể ép người?”
Tả Thiếu Bạch ngửa mặt ngẫm nghĩ giây lát: “Có phải là vì mẹ không?”
Tả Văn Quyên lắc đầu: “Tỷ… tỷ không biết.”
Tả Thiếu Bạch nói: “Tỷ biết, chỉ là không chịu nói cho đệ thôi…” Hắn khựng lại một thoáng, giọng bỗng trở nên vô cùng nghiêm nghị: “Tỷ tỷ, tỷ là con của cha mẹ, lẽ nào đệ không phải? Tỷ và đại ca đều biết, cớ sao lại giấu giếm một mình đệ?”
Tả Văn Quyên lòng dạ rối bời, nắm chặt cổ tay đệ đệ chẳng thốt nên lời, nước mắt như chuỗi ngọc đứt sợi cứ thế từng hạt từng hạt lăn dài.
Tả Thiếu Bạch thấy tỷ tỷ chỉ biết khóc thì lòng nghi ngờ càng thêm sâu sắc, biết nếu không dồn ép thì nàng quyết chẳng hé môi, lập tức dùng sức hất mạnh tay nàng ra, nghiêm nét mặt: “Tỷ tỷ, nếu cha mẹ thật sự làm chuyện có lỗi với võ lâm thiên hạ, chúng ta thay cha mẹ nhận tội, nộp mình chịu chém, chết cũng chẳng tiếc; còn nếu bọn họ rắp tâm vu khống tội trạng lên đầu cha mẹ, chúng ta nhất định phải giữ lấy tấm thân hữu dụng để rửa oan cho người.”
Tả Văn Quyên khóc nấc: “Đệ đệ nói phải lắm, đệ nhất định phải ghi nhớ cho kỹ.”
Tả Thiếu Bạch cất cao giọng quát: “Tỷ không chịu nói thì đệ chết trước mặt tỷ cho xem!” Hắn tung mình nhảy vọt lên, lao nhanh về phía vách đá cheo leo.
Trên vách đá lởm chởm những mỏm đá nhô ra phủ đầy rêu xanh, lại thêm nước mưa dầm dề trơn tuột khôn bề bám chân. Tả Thiếu Bạch leo trèo lại toàn chọn những chỗ hiểm hóc, phía dưới là vực sâu thăm thẳm, sẩy chân một cái rớt xuống ắt tan xương nát thịt.
Tả Văn Quyên nhìn mà tan nát cõi lòng, gào khóc thất thanh: “Đệ đệ, đệ mau xuống đây, tỷ nói cho đệ hay!”
Tả Thiếu Bạch lộn một vòng trên không lao ngược xuống, khi áp sát Tả Văn Quyên liền thu hai chân đáp xuống một tảng đá.
Trong số mấy anh chị em, Tả Thiếu Bạch là người có võ công yếu nhất. Tả Giám Bạch vì thấy cốt cách tư chất của hắn quá đỗi phi phàm, sợ truyền thụ võ công của mình sẽ làm lỡ dở tiền đồ của hắn nên không dám tùy tiện truyền dạy, chỉ dạy hắn phép tĩnh tọa điều tức để đắp móng nội công cùng vài chiêu kiếm thuật tinh diệu nhất để tự vệ khi trốn chạy, còn thuật khinh công đề túng thì chưa từng truyền thụ. Vừa rồi hắn chỉ cậy vào một luồng khí huyết xung thiên cùng nội công dồi dào mà trèo đèo lội hiểm, nay phi thân đáp xuống dùng lực không đúng cách, một chân giẫm trúng đám rêu xanh bên mép đá, lập tức mất thăng bằng trượt nhào xuống sườn núi.
Tả Văn Quyên thét lên kinh hãi, tay phải vội vã vươn ra chộp lấy cổ tay phải của Tả Thiếu Bạch.
Thế lao xuống của Tả Thiếu Bạch vô cùng mạnh bạo, Tả Văn Quyên dẫu nắm được cổ tay đệ đệ nhưng bị lực kéo giật mạnh cũng đứng không vững, trượt theo xuống dưới.
Trong cơn nguy cấp, Tả Văn Quyên bỗng tung chân móc chặt vào thân một cây tùng cách đó mấy thước mới hãm được đà rơi, đoạn dùng sức giật mạnh kéo Tả Thiếu Bạch lên.
Hai chị em trải qua một phen kinh hồn bạt vía, người tuy vô sự nhưng Văn Quyên mặt mày đã trắng bệch, mồ hôi vã ra như tắm, hai tay siết chặt cổ tay Tả Thiếu Bạch, run rẩy chẳng nói nên lời.
Tả Thiếu Bạch biết nàng hồn vía chưa định, khó lòng tự chủ, bèn cao giọng giục: “Tỷ tỷ, tỷ có nói hay không?”
Tả Văn Quyên gạt mồ hôi lạnh trên trán: “Tỷ nói, tỷ nói, nhưng tỷ cũng chỉ xâu chuỗi lại từ lời nói và hành vi của cha suốt mấy năm qua mà thôi, sợ rằng chỗ biết cũng có hạn…”
Tả Thiếu Bạch bảo: “Tỷ biết bao nhiêu thì cứ nói bấy nhiêu!”
Tả Văn Quyên nói: “Chuyện này liên quan đến danh tiết của mẹ, thế nên cha mới không muốn nhắc tới trước mặt chúng ta.”
Tả Thiếu Bạch hơi biến sắc, mở to hai mắt: “Sao lại dính líu tới danh tiết của mẹ? Mau nói đi!”
Tả Văn Quyên bảo: “Đệ đừng vội, để tỷ nói từ từ. Dường như mẹ nhận được một phong mật thư rồi lặng lẽ bỏ đi, cha đi tìm mẹ, tìm lên đỉnh Yên Vân thuộc Bạch Mã Sơn, vừa vặn gặp lúc bốn vị chưởng môn của cửu đại môn phái trong võ lâm bị hại chết, từ đó mới chuốc lấy mối oan khuất hiểu lầm tày trời này.”
Tả Thiếu Bạch thở hắt ra một hơi: “Sau đó thì sao?”
Tả Văn Quyên nói: “Cha chịu ân dưỡng dục vun trồng của ngoại tổ phụ, ân tình sâu nặng tựa non cao biển rộng. Ngoại tổ phụ không những truyền hết tuyệt nghệ cả đời cho cha, mà còn gả người con gái duy nhất cho cha, lại giao phó môn hộ Bạch Hạc Môn để cha kế thừa y bát…”
Tả Thiếu Bạch tiếp: “Phải rồi, cha cảm ân tình sâu nặng của ngoại tổ phụ nên không nỡ làm tổn hại mẹ dù chỉ một mảy may, dẫu mang mối oan tày trời, bị nhân vật võ lâm trong thiên hạ truy sát cũng quyết không chịu công khai chân tướng làm hoen ố danh tiết của mẹ.”
Tả Văn Quyên trước gật đầu sau lại lắc đầu, bảo: “Không, không phải, tỷ thấy cha mẹ thắm thiết ân ái, chưa từng có nửa lời xích mích, lần ấy mẹ để lại thư bỏ đi e rằng là có nỗi khổ riêng.”
Tả Thiếu Bạch hỏi: “Mẹ cớ sao phải để lại thư bỏ đi? Trước đó có điều gì bất thường chăng?”
Tả Văn Quyên đáp: “Hồi đó tỷ còn nhỏ, mới chập chững hiểu việc, nhưng theo trí nhớ của tỷ thì mấy ngày ấy chẳng có gì khác lạ cả. Tỷ cũng từng lén hỏi đại ca, bảo huynh ấy nhớ lại xem lúc mẹ bỏ đi có điềm triệu gì trước không…” Nàng bỗng ngậm miệng ngập ngừng.
Tả Thiếu Bạch gặng: “Đại ca nói sao?”
Tả Văn Quyên nói: “Đại ca bảo, huynh ấy… huynh ấy nhìn thấy một người mặc áo vàng toàn thân giao một phong mật thư cho tỳ nữ thân cận của mẹ, ngay đêm hôm đó mẹ liền để lại thư bỏ đi.”
Tả Thiếu Bạch ngửa mặt thở dài một tiếng, lặng thinh không nói.
Tả Văn Quyên an ủi: “Đệ đệ, đệ không được hoài nghi cha mẹ, cha làm người chính đại quang minh, đội trời đạp đất, quyết không ám hại chưởng môn tứ đại môn phái, huống hồ tứ đại chưởng môn đều là nhân vật đỉnh cao trong võ lâm, một mình cha quyết chẳng phải đối thủ của họ.”
Tả Thiếu Bạch chăm chú nhìn vào mặt tỷ tỷ, không hé một lời.
Tả Văn Quyên khẽ thở dài: “Mẹ tính tình ôn nhu hiền thục, tình cảm với cha sâu nặng muôn phần, quyết không làm chuyện có lỗi với cha.”
Tả Thiếu Bạch bảo: “Vậy là do cửu đại môn phái sai rồi.”
Tả Văn Quyên nói: “Chân tướng chưa tỏ tường, tỷ cũng không dám nói bừa, may mà cha đã để lại manh mối, sau này chúng ta lần theo dấu vết ắt không khó tra ra sự thật.”
Tả Thiếu Bạch nói: “Đệ phải hỏi mẹ cho ra lẽ, vì sao người lại để thư bỏ đi?”
Tả Văn Quyên vội cản: “Đệ đệ chớ có lỗ mãng, cha không chịu nói cho chúng ta hay chuyện này ắt có điều kiêng kỵ. Than ôi! Việc quan trọng nhất lúc này là đệ phải biết tự bảo trọng, cha mẹ đều ký thác kỳ vọng rất sâu vào đệ, bảo đệ thiên tư thông tuệ, sau này cha mẹ có rửa sạch oan khiên, Bạch Hạc Môn có chấn hưng hùng phong được hay không đều trông cậy cả vào đệ đấy!”
Tả Thiếu Bạch cười thảm: “Võ lâm thiên hạ đều là kẻ thù của chúng ta, mối thù này biết báo thế nào?”
Tả Văn Quyên nghiêm nét mặt: “Đệ đệ, phận làm con há có thể khinh nhờn cha mẹ?”
Tả Thiếu Bạch nói: “Đệ biết, thiên hạ không có cha mẹ nào sai quấy cả.” Hắn chỉ thấy khí huyết trong lồng ngực dâng trào, không kìm được dòng lệ rơi.
Tả Văn Quyên dịu giọng: “Đệ đệ, tỷ lớn hơn đệ vài tuổi, tám năm bôn ba chạy nạn này giúp tỷ hiểu thêm rất nhiều điều, cha là người chính trực, mẹ đoan trang hiền thục, quyết không ngầm tính kế hại người…”
Đằng xa bỗng vọng lại tiếng quát giận dữ: “Quyên muội đấy ư? Sao không đưa đệ đệ đi tiếp mà còn đứng đó đợi cái gì?” Lời lẽ tuy rất chừng mực nhưng trong giọng nói lại ngập tràn kích động, bi phẫn!
Tả Văn Quyên chẳng cần ngẩng đầu cũng nhận ra đó là giọng của Tả Kế Bạch, liền thấp giọng: “Đệ đệ, chúng ta đi thôi!” Nàng dắt tay Tả Thiếu Bạch trèo lên núi.
Chạy được một quãng, Tả Thiếu Bạch nén không nổi nỗi kích động trong lòng, cất tiếng: “Tỷ tỷ, chúng ta quay đầu nhìn một cái rồi hãy đi!”
Tả Văn Quyên há chẳng đoái hoài tới song thân và đại ca, nhưng nghĩ tới trọng trách bảo vệ đệ đệ thoát hiểm nàng đành gượng nén mối xúc động trong lồng ngực. Nay Tả Thiếu Bạch vừa nhắc tới, nàng cũng khôn bề kìm giữ được nữa, bèn dừng bước quay đầu nhìn lại.
Trong mưa gió mịt mùng, đao quang lấp loáng chớp giật, Tả Giám Bạch đứng giữa, mẹ đứng bên phải, đại ca bên trái; kim đao, trường kiếm, nhuyễn tiên đan kết thành một quầng sáng chói lọi dày đặc, vừa đánh vừa lùi.
Mấy mươi cao thủ võ lâm bám sát truy bức, đi đầu là tên đại hòa thượng vóc người cao lớn, tay múa tít ngọn nguyệt nha trượng công kích ở trung lộ, dũng mãnh khôn đương.
Bên trái hòa thượng là một gã người lùn tịt, tay trái cầm một tấm thiết bài, tay phải cầm một thanh đoản đao, chỉ thấy gã khi thì vọt lên cao hơn trượng, khi thì áp sát mặt đất đánh thốc vào, thoăn thoắt tựa yến lượn mặt sóng, nhấp nhô giữa các mỏm đá, lối đánh vô cùng xảo quyệt.
Bên phải là một đạo trưởng trung niên, tay cầm một thanh trường kiếm, kiếm chiêu cay độc dị thường.
Ba người này dẫn đầu quần hùng, hung hãn áp sát tấn công.
Tả Thiếu Bạch hỏi: “Tỷ tỷ, tên hòa thượng kia là môn hạ Thiếu Lâm sao?”
Tả Văn Quyên đáp: “Một năm trước tỷ và đại ca từng hợp lực đấu với một mình hắn, tỷ suýt nữa đã táng mạng dưới ngọn nguyệt nha trượng kia, tên hòa thượng này dũng mãnh vô song, là một cao thủ lẫy lừng thanh danh dưới môn hạ Thiếu Lâm.”
Tả Thiếu Bạch hỏi: “Đạo nhân bên phải cùng tên lùn nhảy nhót như bay kia tỷ có nhận ra không?”
Tả Văn Quyên đáp: "Sao lại không nhận ra được, bọn họ đều từng giao thủ với cha mẹ. Đạo nhân kia pháp hiệu Kim Chung, là cao thủ phái Võ Đang, kiếm thuật tinh tuyệt, danh chấn một thời; còn gã lùn kia là hảo thủ Bát Quái Môn, gọi là Phi Tẩu Hồ Mai. Than ôi! Những người này cùng kéo đến một lượt, trận chiến hôm nay, e là cha mẹ và đại ca khó bề chống đỡ."
Trong lúc nói chuyện, đám người Tả Giám Bạch đã lui lại chừng ba trượng.
Tả Văn Quyên bỗng giật mình cảnh giác, kéo cổ tay phải Tả Thiếu Bạch, giục: "Đệ đệ, chúng ta phải đi mau thôi!"
Chợt nghe một giọng khàn khàn quát lớn: "Tả Giám Bạch, ngươi còn không buông binh khí, bó tay chịu trói, lẽ nào thật sự muốn đánh đến mức phơi thây nơi núi hoang này sao?"
Tả Văn Quyên và Tả Thiếu Bạch tuy đang lao về phía trước, nhưng từng câu từng chữ vẫn lọt vào tai rành rọt.
Tả Giám Bạch siết chặt kim đao, gạt phăng nguyệt nha xẻng của đại hòa thượng, cất giọng: "Gia đình năm miệng ăn của phu thê, phụ tử chúng ta đã bị các người ráo riết truy lùng, trốn chạy suốt tám năm ròng, lẽ nào chư vị không chịu nới tay một bước hay sao?"
Đại hòa thượng vóc người cao lớn cười lạnh một tiếng, nói: "Chưởng môn phương trượng của bổn phái bị ngươi hại chết, mối thù mối hận này, lẽ nào không nên báo?"
Lại nghe tiếng người ồn ào hỗn loạn, có kẻ cao giọng kêu lên: "Đại sư hà tất phải phí lời với hắn! Kẻ này ngoan cố khôn cùng, tội ác ngập đầu, đời nào chịu cúi đầu nhận tội?"
Một giọng khác tiếp lời: "Không được lấy mạng hắn, chúng ta phải bắt sống."
Lại có kẻ phụ họa: "Nếu một chiêu đánh chết hắn thì quá hời cho hắn rồi."
Ngay sau đó là một tiếng gầm vang như chuông đồng: "Nếu Tả Giám Bạch này chết đi, vụ án bốn vị chưởng môn bị hại chẳng phải sẽ vĩnh viễn thành nghi án sao? Rất khó tra ra chân tướng, tuyệt đối không được hại tính mạng hắn!"
Những lời quát tháo hò hét ấy, từng câu từng chữ như đao như kiếm đâm thẳng vào tim Tả Thiếu Bạch, hắn chỉ thấy huyết mạch căng phồng, chẳng rõ là đau đớn hay phẫn nộ.
Tả Văn Quyên nhận thấy cổ tay đệ đệ run rẩy không ngừng, liền âm thầm đề chân khí, dồn hết sức lực ôm Tả Thiếu Bạch lao nhanh về phía trước.
Liền một hơi vượt qua hai ngọn núi, Tả Văn Quyên mệt đến mức mồ hôi đầm đìa, thở dốc không ngớt. Lắng tai nghe ngóng, sau lưng đã chẳng còn tiếng binh khí va chạm.
Quay đầu nhìn lại, chỉ thấy sắc mặt Tả Thiếu Bạch xanh mét, giữa đôi mày ngập tràn vẻ uất hận, thân hình vẫn không ngừng run rẩy. Rõ ràng, nỗi kích động trong lòng hắn chẳng những không lắng xuống, mà lại càng thêm dữ dội.
Tả Văn Quyên vô cùng kinh hãi, dịu giọng hỏi: "Đệ đệ, đệ làm sao vậy?"
Tả Thiếu Bạch nói: "Nếu đệ không hỏi cho rõ ngọn ngành, chết cũng không nhắm mắt..." Hắn há miệng phun ra một ngụm máu tươi, nhào vào lòng Tả Văn Quyên òa khóc nức nở.
Trong lòng Tả Văn Quyên vốn đã chất chứa bao u uất, xót xa, nhưng cảnh đời phiêu bạt long đong đã dạy nàng biết nhẫn nhịn. Lúc này bị tiếng khóc của Tả Thiếu Bạch lay động, nỗi uất nghẹn và đau đớn tích tụ bấy lâu không sao kìm nén nổi nữa, hai tỷ đệ ôm nhau khóc ròng.
Không biết đã qua bao lâu, Tả Thiếu Bạch bỗng cảm thấy một đôi bàn tay hữu lực nâng mình dậy. Bên tai vang lên một giọng trầm ấm, chan chứa yêu thương: "Con à, đại trượng phu sao có thể dễ dàng rơi lệ, đừng khóc nữa!"
Tả Thiếu Bạch ngẩng đầu nhìn lại, bất giác ngẩn người.
Chỉ thấy má trái Tả Giám Bạch máu thịt bầy nhầy, máu tươi chảy ròng ròng, áo trên nhuốm đỏ máu tươi, đã hóa thành một người máu.
Người mẹ dường như bị thương không nhẹ, áo nơi vai trái rách toạc, máu tươi hòa cùng nước mưa thấm đẫm cả ống tay.
Cánh tay phải của Tả Kế Bạch có một vết đao chém lộ cả thịt đỏ hằn lên, đùi trái thương tích rõ mồn một, máu vẫn chưa ngừng chảy.
Đó là một bức tranh đẫm máu, thê lương bi tráng, khiến người ta không khỏi kinh tâm động phách.
