Chương 29
Chương 29: Xây dựng tổ bọ ngựa
Đăng ngày 27/09/2026
19
Bên cạnh những màn ân ái tàn khốc đến mất hết nhân tính, bọ ngựa dĩ nhiên vẫn có những mặt đáng khen. Cứ nhìn chiếc tổ của nó mà xem, đó thực sự là một kỳ quan. Giới khoa học gọi nó là "bao trứng", nhưng tôi chẳng muốn lạm dụng những từ ngữ kỳ quặc làm gì. Người ta đã thích gọi "tổ chim sẻ" hơn là "ổ chim sẻ", vậy thì khi nói về chỗ ở của bọ ngựa, cớ sao tôi cứ phải nằng nặc dùng từ ổ hay bao trứng? Ở những nơi đón nắng, hầu như đâu đâu cũng có thể bắt gặp tổ của Tu Nữ Đường Lang: trên đá tảng, khúc gỗ, gốc nho, cành cây bụi, cọng rơm khô, thậm chí cả trên gạch vụn, giẻ rách, da giày cũ nát cùng những đồ vật nhân tạo khác. Miễn sao có thể dán chặt và cố định tổ, bất cứ thứ gì cũng dùng được tuốt, chẳng có gì khác biệt.
Một chiếc tổ như vậy thường dài chừng bốn centimet, rộng hai centimet, màu sắc tựa như hạt lúa mì vàng óng. Đem đốt trong lửa nó sẽ cháy rất đượm, tỏa ra mùi khét thoang thoảng. Thực chất, vật liệu làm tổ rất giống với tơ, chỉ có điều không thể kéo dài ra như tơ mà lại đông đặc thành từng khối xốp tựa bọt xà phòng. Nếu làm trên cây, cành cây nhỏ sẽ bị phần đáy tổ bọc chặt lấy. Hình dáng của tổ biến đổi theo vật nâng đỡ; nếu gắn trên một mặt phẳng, đáy tổ sẽ bẹp ra, dán dính vào bề mặt đó, bấy giờ tổ sẽ có hình bầu dục, một đầu tròn tù, một đầu thuôn dài và nhọn. Thông thường, tổ còn có một mấu ngắn nhô ra, tựa như mũi thuyền.
Mặt ngoài của tổ luôn có một gờ nổi đều đặn, dù ở trong điều kiện nào cũng vậy. Phần giữa của gờ nổi là nơi hẹp nhất; những thứ xếp chồng lên nhau như ngói lợp nhà kia chính là hai hàng vảy nhỏ song song, ở mép hở của chúng có hai đường khe khẽ hé ra, đó là lối thoát cho ấu trùng bọ ngựa sau khi nở.
Có một chiếc tổ vừa bị bọ ngựa bỏ lại, phần giữa chứa đầy những lớp vỏ lột của bọ ngựa non, chỉ cần một làn gió thoảng qua là đung đưa lay động. Qua vài trận mưa gió bào mòn, những lớp vỏ xác này sẽ biến mất không còn dấu vết. Phần này vốn được bọ ngựa mẹ sắp đặt sẵn từ trước, lũ bọ ngựa non chỉ có thể tìm thấy tự do qua lối thoát duy nhất này. Ngoại trừ chỗ đó ra, trong chiếc nôi nuôi dưỡng vô số hậu duệ này, mọi nơi khác đều bế tắc hoàn toàn. Hai bên nôi chiếm phần lớn diện tích của chiếc tổ hình bầu dục, bề mặt dính kết cực kỳ kiên cố. Những phần cứng rắn ấy khiến lũ bọ ngựa mới chào đời không tài nào chui lọt. Hai bên sườn tổ có hàng vạn đường vân ngang, những đường vân này là dấu hiệu phân tầng bên trong vách tổ, phía sau chúng chính là nơi phân bố của trứng bọ ngựa.
Khi tôi cắt ngang chiếc tổ, liền phát hiện ra rằng trứng bọ ngựa rất giống những chiếc hạch dài, trông có vẻ cứng cáp. Hai bên được bao bọc bởi một lớp vỏ dày xốp nhiều lỗ, trông na ná như bọt xà phòng đông lại. Phía trên phần lõi có những lớp da mỏng uốn cong xếp san sát nhau, có thể cử động với biên độ cực nhỏ, trên cùng chính là lối ra của bọ ngựa non; bọc kín bên trong lớp vỏ sừng màu vàng nhạt chính là trứng. Chúng xếp thành từng tầng theo vòng tròn, đầu trứng đều quy tụ về phía cửa thoát. Cách sắp xếp này cho tôi biết lũ ấu trùng bọ ngựa chui ra bằng cách nào. Những sinh linh bé bỏng sẽ men theo lối đi hẹp hòi kia — dù cực kỳ khó qua, nhưng nhờ vào thứ công cụ mà chẳng bao lâu nữa tôi sẽ nghiên cứu tới, những sinh linh nhỏ bé này vẫn có thể thuận lợi vượt qua. Cứ thế, chúng tiến vào khu vực trung tâm. Dưới những lớp vảy xếp chồng lên nhau, chúng sẽ đối mặt với hai lối ra. Một nửa số trứng sẽ đi ra từ cửa bên trái, nửa còn lại đi ra từ cửa phía sau. Tầng nào cũng có cấu trúc y hệt như vậy.
Người chưa từng tận mắt thấy cấu trúc của tổ thì khó lòng hiểu thấu được đạo lý bên trong. Toàn bộ trứng trong tổ đều lấy đường trục giữa làm nơi tụ hội, tầng tầng lớp lớp gom lại một chỗ. Cứ thế tạo thành hình dạng tựa như hạt chà là. Bên ngoài là một lớp màng bảo vệ, giống hệt bọt xốp đông đặc. Chỉ khi tới vùng giữa của lớp màng bảo vệ, hai mảnh mỏng song song mới thay thế cho lớp xốp nhiều lỗ kia.
Mục tiêu nghiên cứu của tôi là quan sát xem cái con vật bọ ngựa này xây dựng mái nhà của mình từng viên gạch từng mảnh ngói như thế nào. Dẫu quá trình vô cùng tốn công hao sức, song rốt cuộc tôi cũng làm được. Nguyên do là vì con vật này toàn đẻ trứng vào ban đêm, lại còn tùy hứng vô cùng. Sau bao lần xôi hỏng bỏng không, cuối cùng tôi cũng chộp được một cơ hội hiếm có. Ngày mùng năm tháng Chín, rốt cuộc tôi đã tận mắt chứng kiến một con bọ ngựa cái thụ tinh từ ngày hai mươi chín tháng Tám đẻ trứng ngay trước mặt mình vào lúc bốn giờ sáng.
Vô số tổ bọ ngựa bên trong lồng lưới kim loại — xin hãy đặc biệt lưu ý điểm này: điểm tựa của chúng không có ngoại lệ nào khác, thảy đều là lưới kim loại. Tôi từng muốn tạo cho chúng nơi ở phù hợp hơn với tập tính tự nhiên, chẳng hạn như vài đống đá gồ ghề, rồi vài bụi cỏ xạ hương, ngoài tự nhiên bọ ngựa thường dùng những thứ này làm vật nâng đỡ. Nhưng điều khiến tôi bất ngờ là lũ này lại dửng dưng không đoái hoài tới, chúng thích lưới thép hơn nhiều. Ấy là vì chúng có thể nhét thứ vật liệu xây dựng êm ái nhất vào các mắt lưới thép, việc này giúp ích rất nhiều cho độ kiên cố của tổ.
Tổ bọ ngựa chẳng có nơi nào che chắn cả, đó là chuyện ngoài tự nhiên. Trong hoàn cảnh như vậy, tổ của nó buộc phải chống chọi với khí hậu giá lạnh mùa đông, lại còn phải cản được phong ba bão tuyết sương giá hoành hành. Để tránh chịu họa, các bà mẹ son đặc biệt ưa chuộng những vật nâng đỡ gồ ghề, dựa vào đó, bọ ngựa mẹ có thể dán dính tổ của mình thêm phần chắc chắn. Dĩ nhiên, nếu điều kiện cho phép, bọ ngựa sẽ chọn nơi ở tốt hơn. Có lẽ chính vì vậy mà nó mới để mắt tới lưới kim loại.
Đây là con bọ ngựa duy nhất mà tôi nhìn thấy tận mắt lúc nó đẻ trứng. Nó bám gần đỉnh lồng lưới, treo ngược thân mình, dẫu tôi dùng kính lúp ghé sát lại quan sát cũng chẳng mảy may làm phiền được nó. Nó dồn hết tâm trí đắm chìm vào quá trình sinh nở. Ngay cả khi tôi mở lồng kim loại, tùy ý xoay tới lật lui, cũng chẳng thể khiến nó gián đoạn công việc của mình. Động tác của tôi quả thực có hơi thô bạo, nhưng tôi còn cách nào khác đâu? Tốc độ đẻ trứng của bọ ngựa quá nhanh, trong khi việc quan sát của tôi lại gặp đủ bề trắc trở. Do phần đuôi bụng bọ ngựa luôn vùi trong một khối bọt, khiến tôi không thể thu trọn toàn bộ quá trình đẻ trứng vào tầm mắt mà không bỏ sót chi tiết nào. Khối bọt ấy có màu trắng xám, hơi nhớp nháp, cảm giác giống hệt bọt xà phòng. Tuyệt đại đa số vật liệu xốp nhiều lỗ của tổ bọ ngựa chính là do những khối bọt chứa đầy khí này tạo thành, khiến cho thể tích của tổ lớn hơn bụng bọ ngựa rất nhiều.
Chất khí ấy không phát ra từ cơ thể bọ ngựa mà được hút vào từ không khí bên ngoài. Xem ra, tổ bọ ngựa chủ yếu dựa vào không khí để xây dựng, nhờ thế tổ mới chống chọi được với đủ loại thời tiết khắc nghiệt. Bọ ngựa xòe ra rồi khép lại hai phiến nứt nhỏ ở phần mông với tốc độ cực nhanh, đung đưa không ngừng từ trái sang phải, rồi từ phải sang trái tựa như con lắc đồng hồ, đó chính là động tác khi nó đẻ trứng. Mỗi lần nó lắc qua lắc lại một nhịp, đồng nghĩa với việc nó đã đẻ xong một tầng trứng trong tổ. Đồng thời, trên lớp vỏ ngoài của tổ cũng xuất hiện một đường vân ngang nhỏ. Quá trình này diễn ra rất nhanh, bọt bao bọc chung quanh cũng ngày càng nhiều, điều này chẳng có lợi chút nào cho việc quan sát của tôi, tôi chỉ đành dựa vào việc mông nó có lắc lư hay không để đoán xem nó đã đẻ trứng hay chưa.
Đi kèm với quá trình đẻ trứng là chất dịch nhầy tuôn ra xối xả, dưới sự khuấy đảo của hai phiến nứt nhỏ nơi đuôi bọ ngựa, chất dịch biến thành bọt xốp, sau đó trát đầy phần đáy tổ và lớp ngoài của từng tầng trứng. Dưới sức ép của bọt xốp cùng các đốt mông bọ ngựa hỗ trợ, phần đế tổ bị nén chặt vào các mắt lưới kim loại. Cùng với việc buồng trứng bọ ngựa dần dần trống rỗng, lớp vỏ xốp dạng bọt biển cũng từ từ thành hình. Tôi nghĩ, ở phần trong cùng của tổ, trứng được bao bọc bởi một lớp vật chất mịn màng hơn lớp ngoài, ấy là vì bên trong đó, bọt xốp do chính chất dịch bọ ngựa bài tiết trực tiếp ra tạo thành, chứ không phải dùng chiếc thìa nhỏ kia khuấy mà nên. Bọ ngựa đẻ trứng xong, bấy giờ hai phiến nứt nhỏ nơi mông mới khuấy bọt lên để bọc lấy trứng. Vì tôi không thể quan sát được quá trình đẻ trứng cụ thể, nên những điều nói trên cũng chỉ là suy đoán của tôi mà thôi.
Ở lối ra của tổ được trát một lớp vật chất có lỗ khí li ti. Thứ này trắng muốt và nhẵn bóng hệt như vôi trắng, tạo nên sự tương phản rõ rệt với chiếc tổ màu xám tro. Tựa như người thợ làm bánh trộn lòng trắng trứng, đường và tinh bột lại với nhau để trang trí bánh kem, lớp vật chất này cũng có tác dụng tương tự. Khi nó bong ra, chúng ta có thể nhìn thấy lối thoát kia một cách rõ ràng. Mưa gió ngoài đời sớm muộn gì cũng xé rách lớp vật chất này, đó cũng chính là lý do vì sao tổ bọ ngựa không hề lưu lại một chút dấu vết trắng như tuyết nào.
Nếu không nhìn kỹ, người ta rất dễ lầm tưởng rằng lớp vật chất này cùng một loại với vật liệu ở các phần khác của tổ. Liệu bọ ngựa có dùng hai loại vật liệu khác nhau để xây nhà hay không? Khả năng này không hề tồn tại. Qua giải phẫu, tôi phát hiện ra thứ vật chất nó dùng đều cùng một chủng loại. Ruột tiết ra những chất này, sau đó chia làm hai đoạn, mỗi đoạn chừng hai mươi ống, đều chứa đầy chất lỏng không màu sền sệt. Bề ngoài của chất lỏng đều giống nhau, nhìn từ góc độ nào cũng vậy. Trong ruột hoàn toàn không có dấu vết của việc tiết ra chất lỏng màu vôi trắng. Ngoài ra, phương thức hình thành của lớp vật chất trắng muốt kia cũng sẽ xóa tan mối nghi ngờ về việc dùng vật liệu khác nhau. Chỉ cần kiên nhẫn một chút, sự thật này sẽ được chúng ta xác nhận, và chúng ta cũng sẽ có được kết quả mỹ mãn.
Khi tầm mắt của chúng ta dừng lại ở phần giữa của tổ, tôi phải thừa nhận rằng việc quan sát sẽ trở nên vô cùng khó khăn. Tại khu vực này, dưới hai hàng vảy nhỏ xếp chồng lên nhau, bọ ngựa đã sắp đặt cho đàn con của mình một lối thoát an toàn. Về vấn đề này, tôi chẳng biết được bao nhiêu, tôi chỉ có thể nói rằng phần đuôi bụng bọ ngựa nứt dài ra từ trên xuống dưới tựa như một vết dao rạch, ở phần trên của vết rạch, nó đứng im bất động, nhưng ở phần dưới, nó lại lắc lư sang trái sang phải, vừa bài tiết bọt vừa tống trứng ra ngoài. Tôi nhận thấy, phần trên của vết rạch luôn ngập sâu trong chỗ gờ nổi ở khu vực giữa, giữa đám bọt mịn màu trắng tụ lại nơi chóp đuôi. Hai mấu đuôi ấy, tôi rất muốn ví chúng như hai ngón tay nhạy cảm, đang chỉ huy một công trình kiến trúc có độ khó cực cao.
Tôi còn một mối hoài nghi: hai hàng vảy cùng khe thoát bị che khuất bên dưới rốt cuộc được tạo thành như thế nào? Về điều này tôi hoàn toàn mù tịt, dẫu có đoán cũng chẳng ra. Thôi thì đành để câu hỏi ấy cho người khác giải đáp vậy. Thật là một bộ máy kỳ diệu biết bao! Nó bài tiết chất sừng nơi lõi trung tâm một cách mau lẹ, đâu ra đấy; trong lúc đó còn tiết ra cả dải bọt trắng dài ở giữa để bảo vệ, cùng với trứng và một lượng lớn chất dịch. Nếu để con người làm những việc này, chắc chắn chúng ta sẽ lúng túng luống cuống, nhưng bọ ngựa lại tỏ ra vô cùng ung dung. Nó bám bất động trên tấm lưới kim loại, chẳng buồn liếc nhìn những gì đang diễn ra sau lưng mình. Nó cũng không cần bất kỳ sự trợ giúp nào, tự thân có thể hoàn thành tất cả. Đây là một công việc mang tính cơ học, chứ không thuần túy xuất phát từ nhu cầu bản năng. Điều bọ ngựa càng cao minh hơn nữa là, tổ của nó đã ứng dụng xuất sắc vật liệu cách nhiệt tốt nhất trong vật lý học; bọ ngựa đã vượt xa chúng ta, ít nhất là trong hiểu biết về vật dẫn nhiệt.
Nhà vật lý Rumford từng dùng thí nghiệm tuyệt vời của mình để chứng minh tính không dẫn nhiệt của không khí. Nhà khoa học này đặt một miếng phô mai đông lạnh vào trong lớp bọt trứng đã đánh bông, sau đó cho vào lò nướng. Chẳng bao lâu sau, ông lấy ra một ổ bánh trứng phồng xốp, thế nhưng miếng phô mai ở giữa vẫn lạnh ngắt y như lúc đầu. Vậy bọ ngựa đã làm những gì? Vị "nhà vật lý" xuất chúng của giới côn trùng này đã dùng chất nhầy được đánh bông để tạo ra một lớp vỏ xốp, dùng làm màng bảo vệ cho toàn bộ phôi thai nơi trung tâm. Trái ngược với Rumford, mục đích của bọ ngựa không phải để tạo nhiệt độ cao, mà là để chống lại giá rét. Bọ ngựa làm sao có được hiểu biết này? Làm thế nào nó có thể dễ dàng dùng bọt bao bọc lấy khối trứng lớn, gắn chặt lên cành cây hay phiến đá, trải qua mưa gió mà vẫn vẹn nguyên không tổn hại?
Loài bọ ngựa duy nhất mà tôi hiểu rõ chính là những con sống quanh nhà tôi. Lớp bọt đông cứng đôi khi được chúng dùng làm chiếc áo khoác cách nhiệt, có khi lại bỏ không dùng, chủ yếu tùy thuộc vào việc số trứng sinh ra có phải qua mùa đông hay không. Khác biệt rất lớn với Tu Nữ Đường Lang là Hôi Đường Lang cái. Loài bọ ngựa này không có cánh, tổ của nó chỉ nhỏ như hạt anh đào, bên ngoài phủ một lớp vỏ bọt dày. Vì mục đích gì mà nó cần lớp áo khoác nổi bọt ấy? Nguyên nhân là, cũng như Tu Nữ Đường Lang, tổ của Hôi Đường Lang cái cũng phải trải qua mùa đông. Còn Chùy Đầu Đường Lang, tuy thân hình to lớn ngang ngửa Tu Nữ Đường Lang, nhưng tổ do nó xây lại nhỏ bé chẳng khác gì Hôi Đường Lang.
Tổ của Chùy Đầu Đường Lang chỉ gồm ba bốn hàng ngăn nhỏ liền nhau, trông rất đơn sơ. Dù cũng bám trên cành cây hay phiến đá, nhưng nó không có lớp áo bọt khí, cũng chẳng có lớp vỏ cách nhiệt. Từ đó tôi hiểu rằng, điều kiện khí hậu mà Chùy Đầu Đường Lang thích nghi khác với các loài bọ ngựa khác. Trứng của nó được đẻ vào khoảng thời gian thời tiết rất đẹp, và sau khi đẻ không lâu đã nở, do đó tổ của nó không phải hứng chịu giá rét xâm kích.
Biện pháp bảo vệ mà bọ ngựa áp dụng thỏa đáng và hợp lý đến nhường này, há lại chỉ là sự ngẫu nhiên thôi sao? Nếu luận điểm này đứng vững, vậy thì trước kết luận nực cười kia, bạn hãy giữ vững lập trường của mình đi, để rồi phải thừa nhận rằng sự lựa chọn ngẫu nhiên lại có được năng lực thấu suốt sự đời đáng kinh ngạc đến thế.
Xây dựng một tổ ấm, đối với Tu Nữ Đường Lang mà nói, là chuyện hết sức nhẹ nhàng. Chỉ cần làm việc không ngơi nghỉ trong hai giờ đồng hồ là có thể hoàn tất toàn bộ công trình. Đẻ trứng xong, bọ ngựa cái liền dửng dưng bỏ đi như thể chuyện chẳng liên quan gì đến mình. Ban đầu tôi còn ôm hy vọng nó sẽ quay đầu nhìn lại con non một chút, biểu lộ chút tình mẫu tử, nhưng nó chẳng có lấy một nét cảm xúc, ngay cả niềm vui làm mẹ cũng tuyệt nhiên không. Nó thậm chí chẳng thèm để mắt tới con châu chấu đang bò lên tổ mình. Song, con châu chấu này khá hiền lành; nếu nó có hành vi phá hoại tổ ấu trùng, không biết bọ ngựa có ra tay xử lý hay chăng. Nhìn vẻ mặt dửng dưng kia, tôi tin là nó sẽ chẳng làm gì đâu. Đẻ xong rồi, nó sẽ không màng đến số phận của cái tổ nữa.
Sau khi giao phối, bọ ngựa đực đều bị bọ ngựa cái ăn thịt, điểm này tôi đã từng nói qua. Đó là một kết cục bi thảm. Chỉ trong vỏn vẹn hai tuần, tôi đã chứng kiến một con bọ ngựa cái bảy lần liên tiếp bước vào điện đường tân hôn, và sau mỗi lần mây mưa xong xuôi, nó đều không chút nương tay ăn sạch bạn đời của mình. Dựa vào tập tính này, tôi đoán con bọ ngựa cái sẽ đẻ trứng nhiều lần, và thực tế đã chứng minh phỏng đoán của tôi là đúng. Nhìn vào số lượng tổ được xây, tôi biết bọ ngựa có thể đẻ được bao nhiêu trứng. Theo tôi được biết, một cái tổ có kích thước bình thường có thể chứa khoảng 400 quả trứng; con bọ ngựa cái xây ba tổ thì tổ cuối cùng nhỏ hơn một nửa, tính ra cũng để lại chừng 1000 phôi. Nếu xây hai tổ, số lượng trứng là 800; ngay cả con đẻ ít nhất cũng có ba bốn trăm quả. Rõ ràng, đây là một quần thể đồ sộ, nếu không có biện pháp tinh giản hữu hiệu thì chẳng mấy chốc sẽ bọ ngập thành họa.
So với Tu Nữ Đường Lang, Hôi Đường Lang nhỏ con lại keo kiệt hơn nhiều. Trong lồng lưới, chú bé này chỉ làm độc một cái tổ, đẻ vẻn vẹn chừng 60 quả trứng. So với tổ của Tu Nữ Đường Lang, tổ Hôi Đường Lang cũng có rất nhiều điểm khác biệt. Trước hết, tổ Hôi Đường Lang thể tích nhỏ, dài chỉ chừng 2 milimét, rộng không quá 5 milimét. Kế đó, tổ do Hôi Đường Lang xây thì ở giữa nhô cao, hai bên uốn cong, đường trục giữa nhô lên thành một gờ sống hơi gồ ghề. Đây chính là điểm khác biệt lớn nhất giữa nó và tổ Tu Nữ Đường Lang.
Tổ của Hôi Đường Lang không có vùng cửa thoát tạo bởi các phiến mỏng xếp chồng, cũng không có chất màu trắng như tuyết ở khu vực ấy. Các tầng trứng xếp lớp của nó được khảm trên chất sừng không có lỗ thủng. Cũng giống như Tu Nữ Đường Lang, Hôi Đường Lang xây nhà trong đêm tối, điều này đối với một người quan sát như tôi quả thực là một trở ngại không nhỏ. Thân hình to lớn cùng cấu trúc kỳ dị của Tu Nữ Đường Lang không thể nào không khiến những người nông dân Phổ La Vượng Tư chú ý. Trên thực tế, Tu Nữ Đường Lang được người dân gọi là "Tignouso", vô cùng nổi tiếng và có uy tín lớn ở chốn thôn quê. Tuy nhiên, về chuyện tổ bọ ngựa được xây dựng ra sao thì người ta lại chẳng hề hay biết. Mỗi khi tôi nói "Tignouso" chính là con bọ ngựa cầu nguyện quen thuộc, những người hàng xóm chất phác ấy luôn tỏ vẻ kinh ngạc. Việc bọ ngựa đẻ trứng vào ban đêm có lẽ là nguyên nhân khiến họ hoàn toàn mù tịt. Nhưng điều đó cũng chẳng hề gì, ít nhất sự tồn tại của nó đã thu hút được sự chú ý của mọi người; xét từ góc độ này, hẳn nó phải có công hiệu nào đó đối với bà con láng giềng của tôi. Chúng ta thường có một suy nghĩ ngây thơ: luôn tìm kiếm trong những sự vật kỳ lạ thứ gì đó có thể giúp ta xoa dịu nỗi đau, bất kể lúc nào cũng đều nghĩ như vậy.
Dược điển dân gian Phổ La Vượng Tư đồng loạt ca ngợi "Tignouso" là phương thuốc hiệu nghiệm nhất đối với bệnh cước. Cách dùng rất đơn giản: xẻ đôi con bọ ngựa, vắt lấy dịch, rồi dùng chỗ nước ứa ra xoa lên vết cước. Theo lời người địa phương, thứ thuốc này linh nghiệm phi thường, hễ ai mắc chứng cước là nhất định phải bôi "Tignouso". Nhưng thực tế có đúng như vậy chăng?
Bọ ngựa chẳng có chút tác dụng nào trong việc chữa bệnh cước, tôi đã từng thử nghiệm trên chính mình và người nhà, kết quả thật đáng thất vọng. Có thể thấy, thứ gọi là thần dược này đối với người khác cũng chẳng đem lại tác dụng gì. Mặc dù kết quả đã rành rành, thế nhưng phương thuốc ấy vẫn nức tiếng gần xa; có lẽ điều này bắt nguồn từ việc tên thuốc và tên bệnh trùng nhau. Bệnh cước trong tiếng Phổ La Vượng Tư cũng được gọi là "Tignouso". Tại ngôi làng tôi sống, hoặc ở một xó xỉnh nào đó, "Tignouso" được dùng để chỉ tổ bọ ngựa, và nó còn có một công hiệu nữa: chữa đau răng, chỉ cần mang theo bên mình là có thể xua tan nỗi giày vò của cơn đau.
Vào những đêm trăng vằng vặc, những phụ nữ nông dân chất phác sẽ tìm cách thu nhặt tổ bọ ngựa, rồi thành kính cất vào góc tủ áo, hoặc khâu chặt vào trong túi áo, sợ rằng sơ sẩy một chút là làm mất. Nếu có người hàng xóm nào bị đau răng, họ sẽ cho mượn, đồng thời dặn đi dặn lại: "Dù thế nào cũng không được làm mất đấy nhé!". Xin đừng cười nhạo phương thuốc kỳ quặc này, một số loại thuốc được quảng cáo rầm rộ trên trang bốn của các tờ báo chưa chắc đã công hiệu hơn nó; vả lại, suy nghĩ mộc mạc nơi thôn dã căn bản cũng chẳng thể sánh bằng vài cuốn sách cổ. Chẳng hạn như Thomas Moffet, một nhà tự nhiên học người Anh ở thế kỷ mười sáu, từng kể cho chúng ta nghe câu chuyện về đứa trẻ lạc đường nơi hoang dã hỏi đường bọ ngựa.
Con côn trùng duỗi càng ra chỉ đường cho đứa trẻ, và nó chưa từng chỉ sai phương hướng bao giờ. Vị nhà tự nhiên học cả tin ấy viết: "Khả năng phán đoán của sinh vật này thật kỳ diệu, mỗi khi đứa trẻ hỏi đường, nó luôn đưa ra sự chỉ dẫn chính xác, chưa từng lừa dối ai". Người đàn ông Anh quốc này nghe được câu chuyện ấy từ đâu? Chẳng thể nào là ở đất nước ông ta, nơi khí hậu vốn không thích hợp cho bọ ngựa sinh sống; cũng chẳng phải vùng Phổ La Vượng Tư, bởi nơi đây không hề có chút dấu tích nào của những câu chuyện ấu trĩ như vậy. Nhà tự nhiên học kia chắc chắn chỉ đang tưởng tượng mà thôi; còn tôi, tôi lại có xu hướng nghĩ rằng, đây chính là lời tán tụng lớn nhất dành cho công năng thần kỳ của "Tignouso".
