Chương 44
Chương 44: Bản năng thực vật của côn trùng
Đăng ngày 27/09/2026
19
Rất nhiều loài côn trùng biết rõ mình nên đẻ trứng ở đâu, dù chúng mạnh mẽ hay yếu ớt, lộng lẫy hay giản dị mộc mạc. Trước khi đẻ trứng, thiên chức của côn trùng mẹ là hướng về tương lai. Chúng gây dựng gia đình, chuẩn bị sẵn thức ăn và nơi ở cho lũ con non sắp chào đời.
Ta có thể bắt gặp hành vi như vậy ở các loài côn trùng cánh màng và côn trùng ăn phân. Đó là biểu hiện hữu hiệu nhất mà bản năng côn trùng có thể khơi dậy. Thế nhưng một khi côn trùng mẹ chuyển sang vai trò của kẻ thuần túy đẻ trứng, biến thành một cỗ máy sinh sản phôi nang đơn giản, mọi kỹ năng chúng từng có liền tan biến không còn dấu vết.
Tháng Bảy, xén tóc mẹ cõng con đực trên lưng, dò dẫm một cách vô định trên thân cây sồi. Ống dẫn trứng của xén tóc mẹ không ngừng tìm kiếm chỗ đẻ thích hợp, có thể tự do luồn sâu xuống dưới những kẽ vỏ cây nứt nẻ. Khoảnh khắc trứng được đặt vào, nó gần như đã nhận được sự che chở chu toàn. Xong xuôi, xén tóc mẹ chẳng còn việc gì để làm nữa.
Tháng Tám, Kim Tượng Hoa kim quy vốn lấy hoa làm chốn nương thân bèn phá vỡ chiếc kén trong lớp đất mùn. Kế đó, nó bay lên những bông hoa để ăn uống, ngủ nghỉ; đây là chu trình tất yếu nhằm hồi phục thể lực. Giữa lớp lá cây mục rữa chồng chất, Kim Tượng Hoa kim quy mẹ tìm được một nơi ấm áp thuận lợi nhất để sinh nở, rồi đẻ trứng xuống đó. Ta không cần phải dõi theo hành vi tiếp theo của nó nữa, bởi mọi chuyện chỉ dừng lại ở đó mà thôi.
Tương tự, loài tùng thụ mang giác kim quy mang trên mình bộ cánh điểm xuyết hoa văn diễm lệ cũng thế. Nó dùng chóp bụng đào bới nền cát, ra sức khoan sâu xuống dưới cho đến khi đầu ngập hẳn. Sau đó, nó đẻ trứng ngay trong hang này. Giả như có ai vô tình quét nhẹ một nhát qua miệng hang, bao công sức của nó coi như đổ sông đổ biển.
Ngoại trừ việc biết mình phải đẻ trứng ra sao, côn trùng mẹ chẳng mảy may bận tâm đến ấu trùng. Lũ ấu trùng thường phải tự dựa vào sức lực và bản năng của bản thân để thích nghi với hoàn cảnh gian nan. Vỏ trứng của ấu trùng xén tóc còn kéo lê sau thân mình, vậy mà miếng cắn đầu tiên của nó lại là thứ chất gỗ chẳng thể tiêu hóa; nó nghiền nát lớp vỏ cây khô héo ấy thành mùn, rồi tiếp tục đào hang sâu hơn, bởi đường hầm này sẽ dẫn nó vào tận sâu trong thân cây.
Nơi đó có nguồn lương thực đủ cho nó ăn suốt ba năm ròng. Ấu trùng Kim Tượng Hoa kim quy vừa chào đời đã có sẵn thức ăn, hoàn toàn không cần phải lặn lội tìm kiếm, vì chúng sinh ra ngay trên lớp cỏ mục nát. Còn thứ mà ấu trùng tùng thụ mang giác kim quy tìm kiếm chính là những rễ cây mềm mại đang thối rữa dưới cát, bởi đó là nguồn sống của chúng.
Khác với sự ấm áp đầy tình mẫu tử ở bọ cánh cứng chôn xác, bọ hung, tò vò cùng một vài loài côn trùng khác, ở nhiều tộc loài hoang dã, ấu trùng vừa sinh ra đã rơi vào cảnh phiêu bạt. Chẳng có gia đình chở che, càng không có bất kỳ quyền lợi được nuôi dạy nào. Kim Tượng Hoa kim quy mang trọn vẹn tập tính thô lậu ấy.
Trái ngược với những loài côn trùng chan chứa yêu thương, việc tìm hiểu các giống loài thô lậu này khiến các nhà côn trùng học vô cùng thất vọng. Bởi những điều đáng ghi vào sử sách ở chúng thực sự quá ít ỏi, chẳng có tập tính nào thực sự đáng để đào sâu tìm tòi.
Ngoài việc đẻ trứng vào tràng hoa cúc gai, cúc hoa tượng mẹ còn biết làm gì khác nữa chăng? Không hề. Ấu trùng của côn trùng thường có thể bù đắp lại khiếm khuyết của mẹ, bởi vừa ra đời chúng đã sở hữu những kỹ năng khéo léo do bản năng ban tặng. Ấu trùng cúc hoa tượng dựa vào bản lĩnh của mình để dựng nhà, cắt tỉa lông tơ làm nệm, thậm chí còn chế ra một thứ vũ khí phòng vệ tựa như túi da cừu, hệt như ngọn tháp canh kiên cố của một tòa lâu đài.
Những con ấu trùng sơ sinh chưa từng có chút kinh nghiệm nào, sau khi lột xác liền rời bỏ ngôi nhà do chính tay mình dựng nên, chuyển đến ngụ lại ở một đống đá vụn. Ấy là để tránh những đòn tấn công từ thời tiết khắc nghiệt mùa đông, bởi giá buốt bão bùng rất có thể sẽ phá hủy chốn dung thân cũ. Hành động này quả thực giàu tính dự liệu biết bao.
Loài người có niên lịch ghi chép quá khứ, dựa vào đó mà đoán trước được lịch trình tương lai. Thế nhưng côn trùng chẳng có bất kỳ bản ghi chép nào về sự đổi thay của mùa màng, chúng chỉ biết trông cậy vào bản năng. Côn trùng sinh ra giữa mùa hè oi ả ngột ngạt biết rằng những ngày tháng này sẽ không kéo dài mãi; còn những con chưa từng nếm trải cảnh nhà sập cũng hiểu rằng chốn ở của mình chẳng mấy chốc sẽ tan hoang.
Bản năng mách bảo chúng phải trốn chạy trước khi tổ ấm sụp đổ. Ở khía cạnh hành xử theo bản năng, họ bọ vòi voi làm tốt hơn cả. Ấu trùng của chúng có thể nhìn thấu tương lai và chuẩn bị trước từ sớm. Dù bọ vòi voi mẹ có vụng về đến đâu, dù là một con bọ vòi voi đần độn nhất, nó vẫn biết cân nhắc một vấn đề khá phức tạp. Nó cậy vào bản năng để chọn cho ấu trùng nơi chào đời lý tưởng nhất, nơi mọc lên những thức ăn hợp với khẩu vị của con non.
Bắp cải còn chưa trổ hoa, búp lá cuộn tròn sít sao. Bướm phấn trắng bay đến loài cây này mà chẳng biết có thể làm gì. Hơn nữa, những bông hoa màu vàng mộc mạc kia cũng chẳng hấp dẫn bướm bằng các loài hoa khác. Thế nhưng sâu bướm của nó lại phải nhờ vào bắp cải mới có thể lớn khôn. Vì sâu bướm giáp rất chuộng tầm ma, nên bướm mẹ liền bay đến đậu trên cây tầm ma. Tuy nhiên, trên cây tầm ma lại chẳng có thứ gì cho bướm trưởng thành ăn được. Hai loài bướm này sở hữu trí nhớ khá tốt, nơi chúng tìm đến tuy chẳng mang lại chút giá trị nào cho bản thân, nhưng đối với đàn sâu non, đó lại là kho dự trữ sơn hào hải vị.
Tùng thụ mang giác kim quy trưởng thành thích lượn quanh cái cây mình ưng ý để nhảy điệu múa cưới trong ánh hoàng hôn le lói ngày hạ chí. Nó tìm vài chiếc lá kim trên cây ăn tạm để phục hồi thể lực. Sau đó, nó rời khỏi cánh rừng, tìm đến một dải đất pha cát. Vùng đất ấy đối với tùng thụ mang giác kim quy mẹ vốn chẳng hề thích hợp để đẻ trứng. Thế nhưng nó vẫn đặt những quả trứng của mình vào đó.
Bởi lẽ rễ phụ của các loài thực vật họ Hòa thảo sẽ mục nát trong nền đất cát này. Hương nhựa thông nồng đượm cuốn hút côn trùng mẹ, những vạt thông bạt ngàn khiến người mẹ ấy vui sướng khôn xiết. Nó vùi nửa thân mình xuống đất rồi bắt đầu đẻ trứng. Tùng thụ mang giác kim quy mẹ dường như vẫn còn mang máng nhớ về thời thơ ấu bên lớp thực vật rữa mục này.
Dưới lớp đất mùn hoàn toàn không có thức ăn thích hợp cho Kim Tượng Hoa kim quy, song nó vẫn kiên quyết rời bỏ cụm hoa tán của tường vi và táo gai mà mình hằng yêu thích. Nó tự vùi mình vào đống rác rưởi mục ruỗng bẩn thỉu. Nó tìm đến chốn này là có lý do riêng, không phải để uống mật ngọt ngào, càng không phải để say sưa trong dòng nhựa thơm nồng. Sở dĩ chui vào lớp đất mùn là vì Kim Tượng Hoa kim quy vẫn còn ký ức lờ mờ về thuở trước, cái thời nó còn là một ấu trùng nằm cuộn mình giữa lớp cỏ mục.
Nếu con trưởng thành cũng có thói quen ăn uống như ấu trùng, thì rất có thể chúng lưu giữ ký ức về thời kỳ ấu trùng. Vấn đề thức ăn được giải quyết êm xuôi nhờ sự đồng nhất trong tập tính dinh dưỡng. Người ta khen ngợi hành vi của các loài côn trùng ăn phân: khi tự mình ăn phân, chúng không quên tích trữ một phần cho con cái trong gia đình. Cứ như thế, nguồn thức ăn của con trưởng thành và ấu trùng có sự giao thoa nhịp nhàng, sự giao thoa ấy lại làm nảy sinh mối liên tưởng và ký ức.
Thế nhưng ta lại chẳng biết giải thích ra sao về các loài côn trùng cánh màng săn mồi. Tựa như Kim Tượng Hoa kim quy vốn thưởng thức hoa tươi thanh nhã, còn ấu trùng của chúng lại ăn lá mục ti tiện. Diều của những loài côn trùng này chứa đầy mật hoa ngọt lịm, nhưng chúng lại dùng con mồi săn được để nuôi nấng đàn con. Phi Hoàng Nê Phong muốn hồi sức thì chọn hút mật trên cây cúc gai, song vừa lấy lại sức lực liền sốt sắng bay đi, bởi chúng nôn nóng muốn tàn sát lũ dế mèn. Tiết Phúc Nê Phong cũng vậy. Chúng rời bỏ những cụm hoa tán rực rỡ ngập tràn mật ngọt, quay sang hạ sát bọ vòi voi, bởi đó là lương thực cho con non của chúng.
Làm sao giải thích hợp lý cho những hành vi này? Sẽ có người viện dẫn đến vấn đề ký ức. Không, tuyệt đối không phải. Hành vi của côn trùng chẳng liên quan gì đến ký ức cả. Con người có tiếng nói nhất về mặt trí nhớ, thế nhưng chẳng một ai nhớ được cảnh tượng mình bú mớm trong lòng mẹ thuở còn ẵm ngửa. Người ta liên tưởng về cội nguồn sinh mệnh của mình chỉ vì nhìn thấy những đứa trẻ sơ sinh khác nằm trong lòng mẹ chúng. Chú cừu non quỳ gối, vẫy vẫy chiếc đuôi, ngậm lấy núm vú mẹ mà bú dòng sữa ngọt. Nhưng chẳng có bằng chứng nào cho thấy lúc lớn lên nó có thể nhớ lại cảnh tượng bú sữa năm xưa.
Thức ăn thời thơ ấu căn bản không thể nào nhớ lại được. Ngay cả chính chúng ta còn không tài nào hồi tưởng nổi cảnh tượng bú sữa thuở lọt lòng, cớ sao lại đi đòi hỏi điều đó ở loài côn trùng? Con người lớn lên một cách êm đềm mà không phải trải qua cuộc biến hình long trời lở đất, vậy thì côn trùng sau khi lột xác biến thái làm sao có thể nhớ được những hoạt động thuở còn là ấu trùng? Thật không thể tin nổi!
Tôi không biết côn trùng mẹ làm thế nào để chọn đúng thức ăn cho ấu trùng của mình, đó là câu hỏi mãi mãi không có lời giải đáp. Bản thân côn trùng mẹ cũng chẳng hề hay biết trái tim và dạ dày của nó ẩn chứa bí mật gì hay vận hành ra sao, nó hoàn toàn mù tịt. Cũng như thế, côn trùng trong thời kỳ sinh nở chẳng hiểu biết gì khi chọn nơi chào đời cho con non. Chính nhận thức mơ hồ ấy lại tạo điều kiện thuận lợi cho việc giải quyết vấn đề lương thực. Loài cúc hoa tượng mà ta vừa dày công nghiên cứu chính là một minh chứng tiêu biểu. Chúng sẽ chỉ cho ta thấy cách thức lựa chọn loài thực vật giàu dinh dưỡng, đồng thời cho ta biết chúng đã vận dụng sự nhạy bén tinh tế mang tính thực vật ra sao để làm điều đó.
Côn trùng họ Vòi voi dựa vào một khả năng phân biệt thực vật vô cùng nhạy bén và rõ ràng để chọn ra những bông hoa nhỏ thích hợp cho việc đẻ trứng. Chúng sở hữu tài năng chẳng khác nào một thầy thuốc thảo dược, thế nên ở đây xin hãy để ta miêu tả đôi chút về chúng. Không phải bất cứ bông hoa nhỏ nào cũng mang hương vị đặc thù, độ ổn định hay lớp lông tơ rậm rạp mà ấu trùng ưa thích, vì vậy chọn hoa để đẻ trứng tuyệt đối chẳng phải chuyện tùy tiện. Khả năng phân biệt thực vật tinh tường giúp côn trùng nhanh chóng nhận ra nơi nào thích hợp để đẻ trứng, nơi nào không.
Sắc ban cúc hoa tượng dành trọn tình cảm cho cây cúc gai xanh, chúng chẳng bao giờ bay đi khắp nơi tìm kiếm các loài thực vật khác để đẻ trứng. Chỉ có những khối hoa cầu màu xanh biếc của cúc gai xanh mới là miền đất để chúng khai khẩn, và cũng chỉ có côn trùng họ Vòi voi mới biết thưởng thức loài cây này. Tập tính ngàn đời bất biến của sắc ban cúc hoa tượng giúp hậu duệ của chúng dễ dàng kế thừa sản nghiệp.
Mùa xuân tới, côn trùng rời khỏi nơi chôn rau cắt rốn, chuyển tới một chốn ẩn náu nhỏ nhắn cách đó không xa. Tại đây, chúng có thể dễ dàng tìm thấy loài cây mình yêu thích. Cây cỏ đã đâm chồi nảy lộc, bầy côn trùng thoắt cái đã nhận ra sản nghiệp tổ truyền. Chúng vui mừng bò lên nô đùa, chẳng khác nào đôi lứa trong ngày tân hôn. Lũ bọ kiên nhẫn đợi những khối hoa cầu xanh biếc lớn dần đến độ chín muồi. Cây cúc gai xanh mang một sức hút bẩm sinh đối với sắc ban cúc hoa tượng, và chỉ có chúng mới biết thưởng thức lẫn nhau.
Khác với sắc ban cúc hoa tượng, những loài thực vật mà hùng bối cúc hoa tượng nhắm đến lại đa dạng hơn nhiều. Chúng vừa có thể khai mở giang sơn trên những cây phi liêm mang lá chi Lão Nha Xí mọc nơi sườn núi Vạn Đỗ Sơn, lại vừa có thể lập nghiệp trên cây phi liêm hoa hình tán nơi đồng bằng. Nếu ta không phân tích sâu sắc tỉ mỉ hai loài thực vật này mà chỉ nhìn vẻ bề ngoài, chắc chắn chẳng thể tìm ra bất kỳ điểm tương đồng nào giữa chúng. Ngay cả những người nông dân có đôi mắt sắc sảo phân biệt được từng ngọn cỏ, cũng chưa từng nghĩ đến việc dùng chung một cái tên để gọi hai loài cây ấy. Còn những người văn minh sống nơi đô thị lại càng không biết gì về chúng. Bằng chứng về bất cứ thứ gì nơi phố thị cũng nhiều hơn hẳn kiến thức thực vật học.
Atisô núi là cái tên mà người dân Vạn Đỗ đặt cho loài cây phi liêm này. Hoa của nó rất nhiều thịt, bên trong ứa ra dòng nhựa mang hương vị hạt phỉ thơm ngon ngay cả khi ăn sống. Người Vạn Đỗ sau khi thu hái những bông hoa này về còn dùng chúng xào với trứng gà, tạo nên một mùi hương vô cùng độc đáo. Đôi khi, người Vạn Đỗ còn đóng đinh loài cây này lên cửa chuồng cừu để dùng làm máy đo độ ẩm. Gặp tiết trời khô ráo, hoa sẽ xòe rộng cánh, trông rực rỡ lộng lẫy hệt như vầng thái dương dát vảy vàng; còn khi không khí ẩm ướt, những cánh hoa ấy lại khép chặt vào nhau. Tập tính này vừa vặn trái ngược với Hoa hồng Jericho. Hoa hồng Jericho nở rộ trong không khí ẩm ướt và khép lại giữa chốn khô cằn. Tuy loài cây ấy có tiếng tăm hơn, nhưng nó cũng chỉ là một chiếc hộp con thô kệch. So với Hoa hồng Jericho, loài thực vật thuộc chi Phi liêm này mới là sản vật bản địa đích thực. Nếu nó đến từ dị quốc, rất có thể cũng được bà con coi trọng. Thế nhưng mức độ coi trọng dành cho nó hiện nay lại thua xa Hoa hồng Jericho.
Hoa hình tán của nó mọc rất thon dài, lá tương đối nhỏ và thân cũng cao. Đế hoa của nó còn chưa bằng nửa quả sồi, nhưng những bông hoa tầm thường lại kết tụ thành một bó hoa. Loài cây có tán lá rộng xòe tròn như đóa hoa và bò lan trên mặt đất chính là cây phi liêm mang dáng dấp của chi Lão Nha Xí. Loài phi liêm này không có thân, những chiếc lá bản rộng của nó trông hơi giống hoa văn trang trí trên cột trụ Corinth. Một đóa hoa rực rỡ nở bung giữa giỏ hoa kết bằng lá, bông hoa to như nắm tay, vô cùng tráng lệ.
Vào tháng Bảy và tháng Tám, trong những chuyến tản bộ, ta thường bắt gặp loài vòi voi bận rộn trên những cây Atisô núi, chúng hiểu rất rõ loài cây thuộc chi Phi liêm này. Cúc hoa tượng hiểu loài cây ấy không phải vì công dụng làm máy đo độ ẩm, bởi tác dụng đó chẳng có chút ý nghĩa nào với chúng. Cúc hoa tượng coi phi liêm là thức ăn và nguồn dưỡng chất. Bọ vòi voi đẻ trứng ngay dưới những bông hoa tươi tắm mình trong ánh nắng. Ta không biết liệu bọ mẹ có đẻ nhiều quả trứng trên cùng một đóa hoa hay không, bởi ta không rõ liệu nơi đó có đủ thức ăn cho vài ấu trùng cùng lúc hay không. Có lẽ bọ mẹ sẽ làm như trên cây phi liêm hoa hình tán, chỉ đặt lại một quả trứng duy nhất, vì chẳng có dấu hiệu nào cho thấy con bọ bé nhỏ này không biết tính toán chu đáo cho gia đình mình. Có lẽ bọ mẹ biết làm cách nào để tận dụng tốt nhất nguồn thức ăn hữu hạn nhằm nuôi nấng những quả trứng nó sinh ra. Tiếc thay, lúc đó ta không thể quan sát kỹ lưỡng hành vi của bọ vòi voi, bởi tâm trí ta đã chuyển sang hướng nghiên cứu thực vật học. Điều đó khiến ta vô cùng nuối tiếc.
Nếu vấn đề trên khiến ta hoang mang, thì điểm này ở hùng bối cúc hoa tượng lại làm ta thấy rõ ràng và đầy thú vị. Nếu không chuyên tâm nghiên cứu những loài thực vật này, chúng ta tuyệt đối không thể nhận ra hai loài cây kia thuộc cùng một họ. Thế nhưng hùng bối cúc hoa tượng lại biết rõ hai loài thực vật hoàn toàn khác biệt ấy đều thuộc họ Cúc gai, và đều là món mỹ vị của chúng. Hùng bối cúc hoa tượng đích thị là những thầy thuốc thảo dược có đôi mắt vô cùng tinh đời, chúng phân biệt được ngọn cúc gai thanh mảnh và loài thực vật có tán lá xòe hoa lộng lẫy kia thuộc về cùng một giống loài.
Một loài cây mang cụm hoa đầu màu hồng thắm đã được sắc ban cúc hoa tượng nhận biết. Sắc ban cúc hoa tượng không vì sắc hoa của loài cúc gai hình kim này khác với loài có cụm hoa đầu màu trắng mà bỏ rơi nó. Nhờ thế, sắc ban cúc hoa tượng đã ghi thêm một tài sản mới vào lãnh địa của mình. Đây là loài gai góc đáng sợ hơn nhiều so với loài mang cụm hoa đầu màu trắng, nhưng phẩm chất lại vô cùng tuyệt hảo, chiều cao không quá một gang tay.
Sắc ban cúc hoa tượng không dựa vào kích thước tán hoa khác nhau của thực vật để phân biệt chúng. Bởi vì hoa đầu của ba loài cúc gai lớn hay cụm hoa đầu của phi liêm hoa nhỏ đều thường xuyên được sử dụng như nhau. Thực ra, sắc ban cúc hoa tượng không phân biệt thực vật dựa trên ngoại hình, mùi hương, màu sắc hay lá cây, mà là dựa vào loài cúc Centaurea lông mịn trổ hoa vàng. Đó là một loài hoa nhỏ bé đáng thương, vùi mình dưới lớp bụi đường lữ khách.
Một loài nhỏ bé khác mang tên Tư Kha Lệ Mễ cúc hoa tượng lại có năng lực phân biệt thực vật cao hơn sắc ban cúc hoa tượng một bậc. Chúng làm việc trên hai loài thực vật có vóc dáng khá đồ sộ là atisô và cúc gai dại, hai loài cây có tán hoa cầu xanh biếc cao chừng hai mét. Thậm chí người ta còn bắt gặp bóng dáng của Tư Kha Lệ Mễ cúc hoa tượng trên một loài cúc thỉ xa tương đối phổ biến. Đó là loài cây có cụm hoa đầu còn nhỏ hơn ngón tay út của con người, trườn sát trên mặt đất. So với sắc ban cúc hoa tượng, Tư Kha Lệ Mễ cúc hoa tượng sở hữu bản năng thực vật thâm sâu hơn nhiều. Chúng đã tự mở ra cho mình những địa bàn vô cùng quý giá, ngay cả loài cúc Centaurea lông mịn cũng là nơi hoạt động của chúng. Điều này khơi gợi bao mối suy tưởng miên man.
Những điều mà cúc hoa tượng bẩm sinh đã tỏ tường, ta lại chỉ có thể tiếp thu qua việc học hỏi về sau. Dẫu cho các loài cúc gai khác nhau đối với ta thật khó phân biệt, nhưng cúc hoa tượng suốt mùa hè lại chẳng chút ngần ngại bay từ loài cúc gai này sang loài cúc gai khác. Cúc hoa tượng biết rõ những cây cúc gai này cùng chung một họ, trực giác ấy của nó chưa từng sai sót. Trái lại, chúng ta lại hay ngập ngừng đứng trước quán trọ đáng ngờ. Bản lĩnh ấy của cúc hoa tượng chẳng cần qua thử nghiệm đã sẵn có tự bao giờ. Nó biết rõ đâu là đế hoa atisô, và biết điều gì là tốt nhất cho gia đình mình. Nếu bỗng nhiên bị ném vào một nơi xa lạ, không có bất kỳ thông tin nào về chốn ấy, ta tuyệt đối chẳng dám ăn bừa quả lạ nơi đây.
Thứ thúc đẩy cúc hoa tượng phân biệt thực vật chính là bản năng, bản năng ấy cung cấp cho chúng thông tin vô cùng xác thực, dẫu chỉ giới hạn trong một phạm vi nhất định. Cúc hoa tượng không cần học cũng nắm được cách phân biệt cây cỏ, nhưng con người lại phải cậy nhờ vào học hỏi. Nếu nói kim chỉ nam của cúc hoa tượng là bản năng, thì người dẫn đường cho ta chính là trí tuệ. Khác với bản lĩnh vốn có không cần rèn luyện của cúc hoa tượng, trí tuệ của ta cần phải trải qua quá trình học hỏi không ngừng mới thành. Sau khi lạc lối mới tìm lại được phương hướng, trải qua ngàn lần thử thách mới có thể tự do tung cánh lượn bay. Trí tuệ có thể thỏa sức vẫy vùng khắp chốn càn khôn vũ trụ, còn bản năng chỉ có thể loanh quanh ở một điểm nhỏ nhoi giữa cõi đời này.
