Chương 6
Chương 6: Bản vẽ được cung phụng
Đăng ngày 13/10/2026
19
Thời Hán, các gia đình dù ở chốn thôn dã hay nơi thành thị đều có thói quen nuôi gà, nhưng phần lớn chỉ nuôi một hai con, thường là nuôi gà trống để gáy báo canh.
Những nhà dưới quê có ruộng đất, thóc lúa dư dả thì họa chăng nuôi thêm ba bốn con, song cũng không quá mười con. Bởi lẽ lương thực quá quý giá, người ta thường chỉ dùng chút cám bổi lót dạ cho qua, rồi đuổi chúng ra ngoài tự bới tìm thức ăn.
Huống chi ngay cả cám bổi, trong mắt dân thường bách tính, đó cũng là thứ giữ mạng. Lúc giáp hạt đứt bữa, có được hớp cám này là cứu được một mạng người.
Cho nên Triệu quản gia nghe nói muốn nuôi ngần ấy gà mới thất kinh như vậy. Đừng nói dân thường coi cám bổi như lương thực, Phùng gia dẫu có chút ruộng, có lúa ăn dư, không đến mức phải nuốt cám, nhưng cũng đâu đủ để nuôi bấy nhiêu gà, rốt cuộc chẳng phải vẫn phải đổ thóc lúa ra sao? Thế thì tốn kém biết chừng nào? Đây chẳng phải là làm càn ư?
"Triệu thúc cứ yên tâm, yên tâm đi, đàn gà này của ta không cần cho ăn lương thực đâu." Phùng Vĩnh thấy Triệu quản gia dường như sắp phát chứng đau tim đến nơi, vội vàng ra lời trấn an.
"Không dùng lương thực thì còn dùng..." Giọng Triệu quản gia bỗng the thé cất cao, chẳng biết nghĩ tới điều gì mà mắt chợt trợn trừng, nhìn Phùng Vĩnh với vẻ khó tin, đoạn ngó quanh quất bốn phía rồi lấm lét ghé sát lại, hạ giọng hỏi: "Chẳng lẽ chủ quân nắm được thuật Chúc Kê Ông?"
Thời Hán thuật vu cổ thịnh hành, truyền thuyết về thuật sĩ thần tiên nhiều không đếm xuể. Triệu quản gia mới tới Phùng gia vài tháng, cùng lắm chỉ biết nhà Phùng Vĩnh là dân ngụ cư từ nơi khác đến, còn trước khi vào Thục gia đình này làm nghề gì thì hoàn toàn mờ mịt.
Chúc Kê Ông gì chứ? Phùng Vĩnh nhìn quản gia với vẻ ngơ ngác. Chúc Anh Đài thì ta biết, chứ Chúc Kê Ông là cái giống gì?
"Hóa ra chủ quân thực sự có thần thuật bực này, xem ra lão bộc đã hiểu lầm, xin chủ quân chớ trách." Triệu quản gia chẳng biết đã tự suy diễn ra điều gì, nét mặt đầy vẻ hưng phấn: "Lão bộc đi thu xếp ngay đây!" Dứt lời bèn sải bước đi lên trước hai bước, bấy giờ mới chợt nhớ ra mình đã bỏ rơi Phùng Vĩnh ở phía sau, vội quay người tạ tội: "Lão bộc nhất thời mừng quá hóa thất thố, xin chủ quân chớ trách."
Tuy chẳng rõ vì cớ gì mà viên quản gia này lại phấn khích đến vậy, nhưng có được sự ủng hộ của ông ta thì việc đã thành một nửa. Phùng Vĩnh xua tay nói: "Triệu thúc cũng là lo cho Phùng gia, ta trách phạt làm gì?"
"Chỉ là thưa chủ quân, nuôi ngần ấy gà thì phải có người trông nom chứ? Nhà ta có cần mua thêm người hầu không?" Qua cơn hào hứng, Triệu quản gia liền nêu ra mối bận tâm đầu tiên.
"Tạm thời chưa cần thêm đâu. Trông gà cũng chẳng phải việc nặng nhọc gì, trong số tá điền cày cấy ruộng nhà ta chẳng phải có mấy đứa chưa thành đinh đó sao? Bảo chúng qua phụ việc là được, đứa trai hay đứa gái đều xong, đến lúc ấy phát cho nhà chúng ít thóc lúa là xong chuyện."
"Nhưng mà sắp đến vụ gieo cấy mùa hạ rồi, gặt lúa mì xong là phải cấy lúa nước, đám trẻ choi choi trong mấy nhà nông ấy cũng coi như nửa suất lao động sai bảo được, nhỡ đâu chậm trễ việc đồng áng thì tính sao?" Triệu quản gia lộ vẻ khó xử: "Hay là đợi qua vụ cấy mùa hạ rồi hãy tính?"
"Vốn dĩ ta đâu có bảo nuôi ngay bây giờ, tự nhiên phải đợi qua vụ cấy rồi. Nhắc đến việc cày cấy, này Triệu thúc, thúc có biết quanh đây có thợ rèn nào không?"
"Thợ rèn ư? Ý chủ quân là người biết làm đồ sắt chứ gì? Thợ thuyền đều làm việc cho quan phủ, phần lớn đều có tên trong tượng tịch của nha môn. Kẻ không thuộc tượng tịch mà có ngón nghề rèn thì cũng chỉ thấy ở trong thành thôi. Ngày thường người nhà nông lúc rảnh rỗi cũng tự tay làm chút đồ đạc, việc rèn hay việc mộc thì phần nhiều đều biết làm đôi chút. Đinh Nhị trên trang ấp tổ tiên từng làm thợ thủ công, quanh vùng này thì tay nghề nhà hắn là cừ nhất."
Nhìn xem, thế mới gọi là quản gia thạo việc, mới tới Phùng gia được bao lâu mà gốc gác đám trang hộ xung quanh đã bị ông ta nắm trong lòng bàn tay.
"Thế thì được, đợi cơm nước xong xuôi, Triệu thúc bảo hắn tới gặp ta một chuyến, ta có vài món đồ cần nhờ hắn làm giúp."
"Ôi chao, chủ quân chớ có nói lời ấy, người ngoài nghe thấy lại chê cười cho. Giúp với đỡ cái gì, hắn được bước chân vào phủ đã là phúc phận của hắn rồi. Đợi đến khi xong việc, nếu chủ quân thật lòng thương tình thì thưởng cho hắn một hai đồng tiền là xong, hoặc lão bộc bốc cho hắn vài nắm kê là hắn đã đội ơn đội đức rồi."
Cho nên nói lương tâm của thúc để đâu rồi? Nghe lời nói đầy vẻ đương nhiên của Triệu quản gia, Phùng Vĩnh không khỏi thầm lẩm bẩm trong bụng.
Hai người vừa đi vừa nói, chẳng mấy chốc đã bước vào Phùng phủ.
Phùng Vĩnh rửa tay trước, rồi ngồi xuống chiếc đình nghỉ mát ở hậu viện. Thị tỳ đã bày sẵn cơm canh còn bốc khói nghi ngút. Một bát cơm gạo hấp, một hũ canh gà, một đĩa dưa muối, sau cùng là một đĩa nhỏ rau dưa xào khô.
Nói cho rõ thì món xào khô này là đặt liễn gốm lên bếp lửa nung nóng, rồi trải rau lên đó nướng cho cạn nước, xong xuôi liền bưng thẳng lên bàn ăn.
Thế nên đó là lý do vì sao Phùng Vĩnh thích ra ngoài câu cá và dụng tâm muốn nuôi gà đến vậy. Ngoài chuyện câu cá có thể giết thời gian, thì trong điều kiện nấu nướng thế này, chỉ có canh cá và canh gà là không cần quá nhiều gia vị mà vẫn giữ được vị tươi ngọt.
Còn như cái món rau xào khô phản nhân loại kia... Phùng Vĩnh tự thấy không phải do mình kênh kiệu, mà thực sự là nuốt không trôi.
Còn về chuyện tại sao không rèn chảo sắt, thì một kẻ bị người đời coi là kẻ điên như hắn, nếu đi tìm thợ rèn làm một thứ đồ xưa nay chưa từng xuất hiện, lại tốn ngần ấy sắt thép, thì liệu có ai chịu làm cho?
Vả lại ở thời buổi này, sắt vẫn là thứ tương đối quý giá. Mãi đến lúc này, khi trong mắt người ngoài hắn đã dần trở lại bình thường, lại thêm có ban thưởng của hoàng đế, hắn mới dám hỏi Triệu quản gia tìm một người thợ rèn.
Cái gọi là "phủ" trong miệng quản gia, nếu so với diện tích kiến trúc đời sau thì đương nhiên là cực kỳ rộng lớn. Có tiền sảnh hậu sảnh, lại chia sảnh lớn sảnh nhỏ, có phòng chính, phòng sương, có cả mật thất, ngay đến hậu viện cũng có một cái ao, thậm chí người hầu kẻ hạ đều có chỗ ở riêng biệt.
Thế nhưng Phùng Vĩnh lại nghĩ thế thì có ích gì? Chủ tớ Phùng gia cộng hết lại cũng chỉ có bốn mạng người, quá đỗi quạnh quẽ. Từ lần đầu bước vào đây đi dạo một vòng, hắn đã chẳng còn hứng thú ngó ngàng tới nữa.
Trông thì to tát, song thực chất cũng chỉ đơn thuần là rộng mà thôi, ngoài ra chẳng có chỗ nào đáng khen ngợi, so với căn nhà ngói ở nông thôn lúc nhỏ hắn từng ở cũng không khác là bao.
Tất nhiên, đối với đám tá điền sống trong nhà tranh vách đất thì đây đã là một trời một vực. Bởi vậy Triệu quản gia mới bảo để Đinh Nhị vào phủ là phúc phận của hắn, ngặt nỗi chính Đinh Nhị cũng tự thấy mình được hưởng phúc, điều này khiến Phùng Vĩnh dở khóc dở cười.
Nhìn người nông phu đang lúng túng đứng trước mặt, Phùng Vĩnh đưa sang một tờ giấy, ôn tồn hỏi: "Xem hình vẽ trên này, ngươi có hiểu không?"
Đinh Nhị kích động đến mức người run bần bật, hai tay chùi vào vạt áo mấy bận, bấy giờ mới run rẩy chìa hai tay ra, cẩn cẩn dực dực đón lấy tờ giấy, tựa hồ tờ giấy kia là bảo vật nghìn năm. Hắn cẩn thận ngắm nghía nửa ngày, bấy giờ mới đánh bạo hỏi một câu: "Chủ nhà, cái này... cái này trông hơi giống cái cày? Nhưng sao nó lại cong queo thế này?"
Triệu quản gia đứng bên nghe vậy lấy làm lạ, cày mà cũng có loại cong queo ư? Ông ta rướn cổ nhìn sang, ồ, thì ra là cái cày cấy ruộng. Nhưng cái cày này vẽ sao mà kỳ quặc thế, sao lại khác hẳn loại cày thường dùng?
"Ừ, đúng là cong đấy. Trên giấy vẽ rất rõ ràng, ngươi cứ chiếu theo đó mà làm, chỉ có điều lưỡi cày này phải dùng sắt, hiểu chưa?"
May mà bản thân sinh ra ở chốn thôn dã, thuở nhỏ thường xuyên phụ giúp gia đình làm việc đồng áng. Trẻ con nhà nông sớm biết việc, mười mấy tuổi đã có đứa biết dắt trâu xuống ruộng cày xới.
Năm Phùng Vĩnh mười hai tuổi, ngoài việc cha dạy hắn cách cày ruộng, còn giảng giải cho hắn các bộ phận của cái cày cùng công dụng của chúng, hắn cũng từng một mình cày xong mấy mảnh ruộng. Cái cày khúc viên này kết cấu lại đơn giản, hắn vẫn còn nhớ khá rõ.
Dĩ nhiên, cày Bát Ngưu Lê của châu Âu hắn cũng từng tìm hiểu qua, nguyên do là luận văn tốt nghiệp đại học của hắn có một phần viết về môi trường, trong đó có đôi chỗ đề cập đến sự phát triển nông nghiệp thế giới. Nhưng nhà hắn chỉ có mấy trăm mẫu ruộng, dùng cày Bát Ngưu Lê làm cái cóc khô gì?
Hơn nữa hắn chỉ là hiểu biết trên lý thuyết, chứ không giống như cày khúc viên từng tận tay sử dụng, nếu muốn chế ra chắc phải tổn hao không ít tế bào não, huống hồ trong nhà cũng chẳng có nhiều trâu bò đến thế.
Lưỡi cày thời nay là loại cày đòn thẳng, vừa không thể cày sâu, lại vừa phải dùng hai con trâu cùng kéo, vừa lãng phí sức người vừa lãng phí sức vật, dùng lại chẳng thuận tay.
Còn cày khúc viên chỉ cần một con trâu là đủ, lại có thể tùy theo thửa ruộng mà điều chỉnh độ nông sâu khi cày, quan trọng nhất là thứ này có thể làm bằng gỗ, chỉ cần sau cùng bịt một miếng sắt vào mũi cày là xong! Đích thực là món thần khí giải phóng sức người, sức kéo, nâng cao năng suất sản xuất! Phải rồi, đối với thời đại Tam Quốc vẫn còn dùng cày đòn thẳng để canh tác thì đây chính là thần khí.
Đinh Nhị ngắm nghía bản vẽ hết lần này đến lần khác, lại hỏi thêm mấy chỗ khúc mắc nhỏ, bấy giờ mới lưu luyến không nỡ đưa trả tờ giấy.
Phùng Vĩnh nhíu mày: "Ngươi không cầm tờ giấy này, thì làm sao chiếu theo đó mà làm ra hình dáng ta muốn được?"
Đinh Nhị nghe vậy, dường như không dám tin mà hỏi lại để xác nhận: "Ý của chủ nhà là tiểu nhân có thể cầm tờ này sao?"
"Ngươi nói thừa thế? Cũng chẳng phải thứ quý giá gì, đưa cho ngươi cầm là để ngươi vừa ướm vừa làm." Phùng Vĩnh hít một hơi, cảm thấy có chút nhức răng, cho nên hắn vẫn không tài nào hiểu nổi người cổ đại rốt cuộc đang nghĩ cái gì. Tư tưởng có cách biệt thì chịu khó giao lưu là được, cớ sao cứ thích bảo hắn là kẻ điên?
"Vậy làm xong rồi, tiểu nhân có thể giữ lại đem về nhà phụng thờ, để lại cho con cháu làm kỷ niệm được không?"
Thế này thì hơi quá đà rồi đấy nhé!
