Chương 8
Chương 8: Long nhan chấn nộ
Đăng ngày 13/10/2026
19
Thời đầu Đường, Trung Thư Lệnh đứng đầu Trung Thư Tỉnh, Môn Hạ Thị Trung đứng đầu Môn Hạ Tỉnh và Thượng Thư Lệnh đứng đầu Thượng Thư Tỉnh cùng nhau nghị bàn quốc chính, thảy đều là Tể tướng. Tể tướng là quan viên phò tá hoàng đế thống lĩnh đại chính thiên hạ.
"Tân Đường Thư - Bách Quan Chí" chép: "Giúp thiên tử thống lĩnh bách quan, trị vạn sự, trọng trách ấy nặng nề thay."
Về sau, vì Đường Thái Tông trước khi tức vị từng giữ chức Thượng Thư Lệnh, quần thần né tránh không dám nhận chức này, bèn lấy Bộc Xạ làm quan trưởng Thượng Thư Tỉnh, cùng Môn Hạ Thị Trung và Trung Thư Lệnh xưng là Tể tướng.
"Sách Phủ Nguyên Quy - Tể Tướng Tổng Tự" có ghi, từ thời Tùy trở đi, đã có lệ "hoặc lấy quan khác cùng nắm việc cơ mật và chuyên quản triều chính, thảy đều làm phụ bật". Triều Đường cũng vì phẩm vị Tể tướng tôn sùng, đấng quân vương không chịu khinh suất trao cho người khác, nên thường lấy quan chức khác giữ việc Tể tướng, mượn danh hiệu của chức đó. Như thời Đường Thái Tông, Đỗ Yêm lấy Thượng thư Bộ Lại tham nghị triều chính, Ngụy Trưng lấy Bí Thư Giám tham dự triều chính; về sau hoặc xưng là "Tham nghị đắc thất", hoặc xưng là "Tham tri chính sự", danh xưng bất nhất, nhưng thực chất đều là Tể tướng.
"Văn Hiến Thông Khảo - Chức Quan Tứ" chép: "Trung Thư ra chiếu lệnh, Môn Hạ nắm phong bác, ngày ngày tranh luận, phân vân không quyết, cho nên sai hai tỉnh trước hết phải nghị định tại Chính Sự Đường, sau đó mới tấu văn."
Những năm đầu triều Đường, quan trưởng Tam tỉnh nghị sự tại Môn Hạ Tỉnh. Nơi nghị sự này được gọi là Chính Sự Đường.
Thời kỳ này, Tể tướng đều do quan trưởng Tam tỉnh kiêm nhiệm, mà quan trưởng Tam tỉnh vẫn còn việc thường vụ của tỉnh mình, nên thông thường buổi sáng họ nghị sự ở Chính Sự Đường, buổi chiều lại về tỉnh của mình làm việc. Vì vậy không cần thiết phải lập riêng nha môn làm việc cho Tể tướng.
Đại sự quân quốc trải qua hội nghị Chính Sự Đường bàn định, tấu thỉnh hoàng đế tài quyết sau cùng; đại sự cơ mật cùng việc thăng giáng nhậm miễn quan viên từ ngũ phẩm trở lên chỉ bàn bạc tại Chính Sự Đường, quan viên khác không được dự thính.
Như vậy, Chính Sự Đường trở thành cơ quan quyết sách phụ tá hoàng đế thống trị toàn quốc thời đầu Đường, là "trái tim đế quốc" đích thực.
***
Trận đại tuyết mùa đông năm Trinh Quán thứ mười hai phủ kín toàn bộ Quan Trung. Tuyết lớn chặn đường, nhà dân đổ sập, lê dân và gia súc chết rét không đếm xuể, dân chịu tai khóc than vang trời, văn thư cáo cấp từ các huyện Quan Trung bay về Trung Thư Tỉnh tựa hoa tuyết.
Tân nhiệm Trung Thư Xá Nhân Mã Chu xoa xoa đôi mắt đỏ hoe khô khốc, đặt bút lông trong tay xuống, ngẩng đầu nhìn tuyết lớn ngoài hiên vẫn bay lả tả không hề có dấu hiệu ngưng nghỉ, bất đắc dĩ thở dài.
Liên tục dốc sức hai ngày hai đêm, thời gian nghỉ ngơi cộng lại chưa đầy hai ba canh giờ, phê thị và quy sao đủ loại văn thư, thống kê phát chẩn vật tư cứu nạn, dẫu là Mã Chu đang độ tráng niên cũng khó lòng chống đỡ.
Nhấp một ngụm trà nóng, khẽ cử động bờ vai mỏi nhừ vì cầm bút quá lâu, Mã Chu nhìn quanh bốn phía, không khỏi cười khổ.
Biên chế của Trung Thư Tỉnh vốn đã tinh giản, lại vì đợt nạn tuyết này mà văn thư dồn ứ ngập đầu, việc lật xem phê duyệt dài ngày khiến hai vị Trung Thư Xá Nhân lớn tuổi phải cáo bệnh về nhà, giờ đây trong phòng trực chỉ còn ba bốn người làm việc.
Đúng lúc này, gã tùy tùng thân cận bước vào, đưa cho hắn một khối ngọc bội.
Chất ngọc ôn nhuận, óng ả trắng ngần, là một miếng ngọc hạt Điềnền thượng đẳng.
Nét khắc cũng khéo, chỉ vài đường dao đơn giản đã tạc nên hình tượng một con cá chép sống động như thật.
Trông có vẻ quen mắt...
Tùy tùng ghé vào tai hắn, thấp giọng nói: "Chu Huyện lệnh Chu Phó phái người tới cầu kiến, nói là có việc hệ trọng cần thương lượng."
Mã Chu ừ một tiếng. Hắn với Chu Phó là đồng khoa, bình nhật quan hệ rất thân thiết, không thể không gặp, bèn cáo lỗi một tiếng với đồng liêu trong phòng trực rồi bước ra ngoài.
Bên cạnh phòng trực có gian phòng chuyên dành cho quan viên nghỉ ngơi, Mã Chu vừa uống trà nóng, vừa nghe mạc liêu của Chu Phó kể cặn kẽ đầu đuôi câu chuyện, nhưng đôi mày dần nhíu lại, trong lòng dấy lên vẻ bất mãn.
Trước mắt tuyết lớn thành tai họa, các huyện Quan Trung bận rộn đến tối tăm mặt mũi, trên dưới các huyện hận không thể học được thuật phân thân, thế nhưng thân là Huyện lệnh Trường An như Chu Phó lại bỏ bê công vụ trong huyện, chỉ chăm chăm vào một vụ ẩu đả...
Dẫu cho huyện Trường An nằm trong thành, tình hình thiệt hại có nhẹ hơn ngoài thành, nhưng chí ít về mặt thái độ cũng phải tỏ ra coi trọng.
Chỉ là một vụ ẩu đả, lại không chết người, có đáng để phải đích thân mời mình tương trợ?
Theo Mã Chu thấy, xử lý chuyện này là dễ dàng nhất.
Gói gọn trong một câu: chỉ duy công chính mà thôi!
Thân phận hai bên đều không thể đắc tội, vậy thì cứ xử cho thật công bằng, trách nhiệm thuộc về ai thì phạt người đó, nên giải quyết thế nào thì giải quyết thế ấy. Cứ chiếu theo luật pháp mà làm, ai còn bới móc ra được nửa điểm sai sót?
Đằng này Chu Phó lại giở tâm cơ, đi đường ngang ngõ tắt, gặp chuyện không dám gánh vác, chỉ mong đẩy bớt trách nhiệm...
Mã Chu thở dài một tiếng, người bạn đồng khoa này học vấn tài hoa đều đủ cả, chỉ có tính tình là quá mức khôn lỏi trơn tuột, mà không biết rằng đó chính là đại kỵ chốn quan trường.
Nhưng trong lòng dẫu bất mãn, dẫu sao tình giao hảo vẫn còn đó, không thể mặc kệ.
Mã Chu bưng chén trà, nói với mạc liêu kia: "Việc này ta đã nắm rõ, phiền báo lại với Chu huynh, hãy cứ bình tâm đừng nóng vội."
Mạc liêu kia hiểu ý, thở phào một hơi, thi lễ cáo từ.
Mã Chu quay về phòng trực lấy một bản tấu sớ, bước ra ngoài ngước nhìn bầu trời u ám, rồi quay người đi về phía Chính Sự Đường.
***
Vén tấm rèm dày nơi cửa Chính Sự Đường, một luồng khí ấm lập tức ùa ra.
Khi Mã Chu bước vào, bên trong Chính Sự Đường đang có tiếng người trò chuyện.
"Đế vương sáng nghiệp cùng thủ thành, việc nào khó hơn?"
Giọng nói trầm hùng vững chãi, trung khí mười phần.
Mã Chu trong lòng khẽ kinh ngạc, bệ hạ sao lại tới đây?
Nhìn kỹ lại, Phòng Huyền Linh, Ngụy Trưng, Vương Khuê mấy vị lão thần đều có mặt.
Mã Chu vội rảo bước, liếc nhìn người đàn ông trung niên vận bào phục vàng sáng đang ngồi ngay ngắn trên chủ vị, khom mình hành lễ.
"Thần Mã Chu, bái kiến bệ hạ."
Người nọ khẽ phất tay, cười nói: "Miễn lễ đi. Đám xương già ở Trung Thư Tỉnh từng người từng người đều chịu không thấu, quả là làm khổ ái khanh rồi?"
Người này mày kiếm mắt hổ, mặt vuông miệng rộng, dưới cằm để chòm râu dài ba nhánh, vóc người cao lớn vạm vỡ, ngồi yên tại đó vững vàng như núi, mỗi cử chỉ đều toát ra khí độ hùng hồn, tự có một luồng khí khái bễ nghễ thiên hạ, uy áp đường hoàng ập tới khiến lòng người phải thu liễm kính sợ.
Chính là đương kim hoàng đế bệ hạ Lý Thế Dân.
Mã Chu cung kính đáp: "Đây là bổn phận của thần, không dám than khổ."
Lý Thế Dân vui vẻ nói: "Không cần tự khiêm, trẫm đều thấy cả. Ái khanh đang độ tráng niên, đương nhiên phải gánh vác nhiều thêm, sau này mới có thể trọng dụng."
Đế vương không nói lời thừa, câu "sau này mới có thể trọng dụng" dường như tùy tiện buốt miệng của Lý Thế Dân, trên thực tế gần như đã bảo đảm chắc chắn cho tiền đồ của Mã Chu.
Được ghi nhận tận đáy lòng đấng quân vương!
Lòng Mã Chu ấm lên: "Đa tạ bệ hạ."
Lý Thế Dân xua tay, quay đầu nhìn về phía một lão nhân ngồi phía dưới, chính là Phòng Huyền Linh.
"Nghi vấn ban nãy, Huyền Linh có lời gì chỉ giáo cho trẫm?"
Phòng Huyền Linh trầm ngâm một lát rồi nói: "Thuở đầu dấy binh, thiên hạ đại loạn, cùng quần hùng tranh đấu, bao phen vào sinh ra tử, bao nhiêu huynh đệ vùi thây nơi sa trường, mới có thể định đỉnh Trung Nguyên, quét sạch cõi trần. Theo vi thần thấy, sáng nghiệp muôn vàn khó khăn."
Lý Thế Dân trầm mặc, trong đầu không kìm được hiện lên từng bức họa, từng bóng người...
Binh quý thần tốc, chín ngày hạ thành Tây Hà!
Đẩy vào chỗ chết nơi Thiển Thủy Nguyên, phá tan vạn nhân địch Tiết Nhân Quả!
Cầm kích xông trận ở Hổ Lao Quan, ba ngàn phá mười vạn!
...
Một dải đường đi qua, gươm giáo đao kích tanh nồng mưa máu, quả thực khó khăn thay!
Ngụy Trưng lại nói: "Đế vương từ xưa, chưa ai không thành từ gian nan, mà bại do an dật. Thủ thành mới là việc khó."
Sống nhờ lo toan, chết bởi an lạc, ngàn đời vẫn là đạo lý bất di dịch.
Lý Thế Dân gật đầu tán đồng: "Huyền Linh cùng trẫm chung sức lấy thiên hạ, trải trăm phen chết mới được một phần sống, nên thấu cái khó của sáng nghiệp. Ngụy Trưng cùng trẫm chung lòng an định thiên hạ, thường nơm nớp lo kiêu xa sinh từ phú quý, mầm họa nảy nở từ chỗ lơ là, nên hiểu cái khó của thủ thành. Song cái khó của sáng nghiệp nay đã là dĩ vãng, cái khó của việc thủ thành, chính là điều trẫm cùng chư công phải hết sức cẩn trọng."
Phòng Huyền Linh, Ngụy Trưng, Mã Chu đồng thanh đáp: "Bệ hạ có lời ấy, quả là phúc của bốn bể."
"Ha ha ha..."
Có lẽ cảm giác làm một "minh quân" rất đỗi sảng khoái, Lý Thế Dân cất tiếng cười lớn đầy khoan khoái, đoạn nhìn sang Mã Chu hỏi: "Ái khanh công vụ bề bộn, sao lại có thời gian chạy tới đây, có việc gì chăng?"
Ý nghĩ trong đầu Mã Chu xoay chuyển rất nhanh, giơ bản tấu sớ trong tay lên thưa: "Thần đang phê duyệt văn thư, chợt nghe tin Nhị công tử phủ Phòng tướng cùng Tề Vương điện hạ ẩu đả, đều bị huyện Trường An bắt giữ. Thần nhất thời sốt ruột nên vội tới bẩm báo, chẳng ngờ bệ hạ lại ngự ở đây, kính xin bệ hạ thứ tội."
Đây chính là chỗ cao minh của Mã Chu.
Hắn không nói thẳng Phòng Tuấn cùng Tề Vương đánh nhau bị bắt, mà áp dụng kế đi đường vòng, làm như bản thân tình cờ nghe được chuyện này, đến mức tấu sớ cầm trên tay còn chưa kịp đặt xuống đã vội vàng chạy tới thông báo.
Làm như vậy liền khéo léo xóa nhòa việc bản thân nhận lời gửi gắm của người khác.
Mã Chu không phải kẻ thiếu gánh vác, nhưng hắn khác với việc Chu Phó một lòng muốn đẩy trách nhiệm, hắn hiểu rõ đạo lý quyền biến uyển chuyển.
Nếu cứ bộc trực bước lên nói: "Phòng lão này, con thứ hai nhà ngài đánh nhau với hoàng tử thứ năm của bệ hạ rồi, ngài mau đi dắt thằng nhóc đó về đi, đừng để mất mặt xấu hổ nữa..."
Thì chẳng những Phòng Huyền Linh chưa chắc đã chịu ơn hắn, mà thậm chí bản thân hắn cũng bị cuốn vào rắc rối.
Ngươi là một Trung Thư Xá Nhân không lo làm chính sự, đi hóng hớt mấy chuyện này làm gì? Rỗi rãi lắm sao?
Nói xong một tràng, Mã Chu cúi đầu nhìn mũi giày, không hé thêm nửa lời.
Phòng Huyền Linh vẫn còn đang ngơ ngác, thằng nhóc thứ hai nhà mình sao lại đánh nhau với Tề Vương điện hạ rồi?
Lý Thế Dân thì đùng đùng nổi giận: "Phòng Di Ái xưa nay an phận, chưa từng gây sự, không cần nói cũng biết ắt là Lý Hựu khơi mào trước! Cái thứ nghiệt chướng này, tính tình bạo ngược ngang ngược càn rỡ, trẫm đã sắc phong nó làm Tề Vương, vậy mà dám cáo bệnh không chịu tới phong địa nhận chức, thật là càn rỡ quá mức! Người đâu, mau tới huyện Trường An lôi cái thứ nghiệt chướng ấy về đây cho trẫm, lão tử phải lột da nó ra!"
Ngoài cửa có tiếng người đáp lời, rồi tiếng bước chân vang lên dồn dập, hẳn là tức tốc chạy tới nha môn huyện Trường An.
Phòng Huyền Linh vẻ mặt đầy thảng thốt: "Bệ hạ, ngọn ngành còn chưa tra rõ, sao có thể trút hết lên người Tề Vương điện hạ? Nghịch tử nhà thần ắt hẳn cũng có lỗi..."
Lý Thế Dân phất tay, nghiến răng nói: "Huyền Linh không cần nói nữa, người xưa có câu hiểu con không ai bằng cha, cái thứ nghiệt súc nhà trẫm tính nết thế nào, trẫm lại không rõ hay sao? Đứa trẻ Di Ái kia chất phác ít lời, xưa nay không hề sinh sự thị phi, trách nhiệm không nghi ngờ gì ắt ở Lý Hựu. Khanh cứ yên tâm, trẫm tuyệt đối không dung thứ cho nó, nhất định sẽ cho khanh một lời công đạo!"
Nếu như Phòng Tuấn và Lý Hựu có mặt tại đây, cả hai ắt hẳn sẽ cùng phun ra một ngụm máu tươi.
Phòng Tuấn bực bội: Tiết tấu này sai rồi, ta là muốn kiếm chuyện để Lý Nhị bệ hạ nổi giận cơ mà, bệ hạ sao người không diễn theo kịch bản vậy chứ...
Lý Hựu thì sắp phát điên: Mẹ kiếp, Phòng Di Ái mà là đứa trẻ chất phác sao? Toàn bộ đều do lỗi của ta chắc? Bổn vương còn oan hơn cả Đậu Nga nữa...
