Chương 1
Chương 1: Đàn chim
Đăng ngày 06/10/2026
19
Ngày mùng ba tháng Mười Hai, chỉ qua một đêm, hướng gió đã đổi. Mùa đông đã tới. Trước đó, tiết thu vẫn còn dịu, lá vàng đỏ đung đưa trên ngọn cây, sắc xanh còn nán lại nơi những hàng rào cây. Đất trên những thửa ruộng vừa cày xong còn màu mỡ.
Nat Hocken mang thương tật sau chiến tranh. Hắn có tiền trợ cấp, không cần làm việc toàn thời gian ở nông trang, một tuần chỉ làm ba ngày, công việc cũng tương đối nhẹ: dựng hàng rào, lợp mái tranh, sửa sang chuồng trại.
Dù đã lập gia đình, hắn vẫn giữ tính thích đi một mình, thích nhất là làm việc đơn độc. Nhận việc đắp bờ hay sửa cổng sắt tít tận bờ bên kia của bán đảo, hắn càng mừng. Ở đó, hai bên đồng ruộng đều có biển bao bọc. Tới trưa, hắn nghỉ tay một lát, ăn chiếc bánh nướng vợ làm rồi ngồi bên mép vực ngắm chim. Mùa thu ngắm chim là thích nhất, thích hơn cả mùa xuân. Mùa xuân, từng đàn chim từ biển bay vào đất liền. Chúng biết rõ hướng đi, mục tiêu rõ ràng, dứt khoát không do dự, nhịp sống và tập tính sinh tồn hối hả không thể chậm trễ. Mùa thu, những con chim không vượt biển di cư mà ở lại qua đông cũng bị cuốn vào cùng một cơn bốc đồng muốn bay, nhưng vì không thể thiên di, đường bay của chúng trở nên khác lạ. Chúng bay từng đàn tới bán đảo, bồn chồn, âu lo, không ngơi nghỉ phút nào; chốc chốc lại lượn vòng, đảo cánh trên không, chốc chốc lại sà xuống kiếm ăn trên nền đất vừa cày xới. Nhưng dù vậy, trông chúng dường như chẳng hề đói, không hề thèm ăn. Nỗi bất an lại hất chúng bay vút lên trời.
Quạ gáy xám và mòng biển, đen trắng lẫn lộn, nhập đàn bừa bãi, như muốn tìm một sự giải thoát nào đó, không thỏa mãn, không dừng lại. Những đàn chim sáo cũng bị cơn bốc đồng ấy thúc giục mà vỗ cánh rào rào như tiếng lụa ma sát, bay về phía những đồng cỏ tươi. Sẻ và sơn ca, những loài chim nhỏ hơn, thì như bị xua đuổi, bay tán loạn giữa những lùm cây và rào giậu.
Nat nhìn chúng, rồi nhìn sang lũ chim biển. Lũ chim biển đợi con nước bên vịnh trông kiên nhẫn hơn. Chim mò sò, choắt chân đỏ, choắt ba ngón, rẽ mỏ cong chực sẵn bên bờ; đợi nước biển từ từ nuốt trọn bãi đá rồi lại từ từ rút đi, để lại rong rêu cùng sỏi vụn, chúng mới ùa xuống bãi cát. Rồi cùng một cơn bốc đồng muốn bay ấy khiến chúng lướt qua mặt biển lặng sóng, kêu gào, rít lên, réo rắt rời khỏi bờ biển. Rời đi vội vã như thế, là muốn bay đi đâu, vì cớ gì mà bay? Cơn bốc đồng bất an của mùa thu, mang theo nỗi bất mãn và sầu muộn, như yểm bùa lên chúng, ép chúng phải tụ đàn, lượn vòng và kêu thét; ép chúng phải đập cánh bay đi trước khi mùa đông sụp xuống.
Nat ngồi bên vách đá, vừa nhai bánh nướng vừa nghĩ: có lẽ mùa thu đã phát tín hiệu cho bầy chim, như một lời cảnh báo rằng mùa đông sắp tới. Rất nhiều chim sẽ chết trong mùa đông. Người ta hễ sợ chết thì hoặc là liều mạng làm việc, hoặc dứt khoát hưởng lạc cho kịp. Người đã vậy, chim muông ắt cũng thế.
Mùa thu năm nay, lũ chim bồn chồn hơn hẳn mọi năm. Những chuỗi ngày tẻ ngắt lặp đi lặp lại càng khoét sâu thêm nỗi bất an ấy. Trên sườn đồi phía tây, chiếc máy cày trồi lên thụt xuống theo vệt bánh xe, bóng người nông dân in nghiêng trên ghế lái. Dưới vòng vây lượn lờ gào thét của đàn chim, cả chiếc máy cày lẫn người lái lúc ẩn lúc hiện. Nat chắc chắn năm nay chim nhiều hơn mọi năm. Thu nào chúng cũng bám theo sau lưỡi cày, nhưng chưa từng đông đúc và ồn ào đến mức này.
Hôm ấy, sau khi dựng xong hàng rào, Nat nhắc đến chuyện này. "Ừ," người nông dân nói, "năm nay chim nhiều hơn thật. Tôi cũng để ý thấy rồi. Mà có mấy con dạn dĩ kinh khủng, chẳng coi máy cày ra gì. Chiều nay có một hai con mòng biển suýt lao thẳng vào đầu tôi, làm tôi cứ sợ chúng giật mất mũ! Chúng bay ngay trên đầu, nắng lại rọi thẳng vào mắt làm tôi suýt nữa không thấy đường. Tôi thấy trời sắp trở gió rồi. Mùa đông năm nay không dễ nuốt đâu, thế nên lũ chim mới bồn chồn như vậy."
Rảo bước qua cánh đồng, men theo con đường mòn, Nat trở về căn nhà gỗ của mình. Trong vệt nắng tàn cuối cùng, hắn thấy bầy chim vẫn đang lượn vòng quanh sườn đồi phía tây. Bốn bề lặng gió, mặt biển đầy ắp nước, ánh lên sắc xám tro, phẳng lặng như tờ. Những bông hoa nhung tuyết nơi rào cây vẫn nở, không khí ấm áp. Nhưng người nông dân nói không sai, ngay đêm đó, trời trở gió. Phòng của Nat quay về hướng đông, vừa qua hai giờ sáng hắn đã bị đánh thức bởi tiếng gió thốc vào ống khói. Đó không phải cơn bão hay trận gió tây nam mang theo mưa, mà là luồng gió đông khô khốc và lạnh buốt. Âm thanh trong ống khói nghe trầm đục, một phiến ngói lỏng trên mái nhà bị thổi đập lách cách liên hồi. Nat lắng tai nghe. Hắn có thể nghe thấy tiếng sóng gầm gào ngoài vịnh. Đến cả không khí trong căn phòng nhỏ cũng lạnh đi: hơi lạnh luồn qua khe cửa, thốc về phía mép giường. Nat kéo chặt chăn, xích lại gần người vợ đang nằm quay lưng ngủ say. Hắn tỉnh hẳn, một nỗi bất an vô cớ dâng lên trong lòng.
Rồi hắn nghe thấy tiếng gõ vào cửa sổ, nhưng trên vách nhà gỗ làm gì có dây leo nào bung ra đập vào mặt kính. Hắn tiếp tục lắng nghe, cuối cùng bị âm thanh ấy làm cho bực bội, bèn trở dậy bước tới bên cửa sổ. Nhưng hắn vừa mở then, một vật gì đó đã sượt qua tay hắn, mổ mạnh vào đốt ngón tay, cào rách da. Rồi hắn thấy đôi cánh đập phành phạch, bay vọt lên mái nhà, vòng ra sau căn nhà gỗ rồi biến mất.
Là một con chim. Hắn không nhìn rõ là chim gì. Chắc vì gió lớn quá nên nó mới phải nép vào bậu cửa sổ.
Hắn khép cửa sổ, quay lại giường, thấy đốt ngón tay âm ẩm bèn đưa lên miệng ngậm. Là máu. Hắn đoán con chim bị hoảng loạn, không biết đi đâu, muốn tìm chỗ tránh gió nên mới vô tình làm hắn bị thương trong bóng tối. Nghĩ vậy, hắn lại thiếp đi.
Chẳng bao lâu sau, tiếng gõ lại vang lên. Lần này to hơn và dồn dập hơn. Vợ hắn bị tiếng động đánh thức, trở mình bảo: "Ra xem cửa sổ kìa, Nat, có tiếng gì đấy."
"Tôi xem rồi," hắn nói, "có con chim ngoài đó, muốn chui vào. Mình không nghe tiếng gió à? Gió thổi từ hướng đông, chim phải tìm chỗ nấp."
"Đuổi nó đi," cô nói, "làm em không ngủ được."
Hắn lại ngồi dậy đi ra cửa sổ. Hắn mở cửa. Lần này, trên bậu cửa sổ không chỉ có một con, mà có tới sáu bảy con. Chúng đồng loạt lao thẳng vào mặt hắn, tấn công dữ dội.
Hắn hét lớn, vung tay xua đàn chim tản ra. Giống như con đầu tiên, chúng bay vút lên mái nhà rồi biến mất. Hắn lập tức đóng cửa sổ, gài chặt then chốt.
"Mình nghe thấy chưa?" hắn nói. "Chúng lao thẳng vào tôi, đòi mổ vào mắt." Hắn đứng bên cửa sổ, nhìn trừng trừng vào màn đêm, chẳng thấy gì cả. Người vợ ngủ say chỉ ậm ừ hai tiếng.
"Tôi không nói bừa đâu," hắn khó chịu trước phản ứng của vợ, "tôi đã bảo với mình rồi, có chim trên bậu cửa, muốn xông vào nhà."
Đột nhiên, từ căn phòng đối diện bên kia hành lang nơi lũ trẻ ngủ vang lên tiếng khóc thét kinh hãi.
"Con Jill đấy," nghe thấy tiếng, người vợ bật dậy ngay khỏi giường, "mau sang xem có chuyện gì."
Nat châm một cây nến, nhưng vừa mở cửa bước ra hành lang, ngọn nến đã bị một luồng gió lạnh thổi tắt phụt.
Tiếng khóc thét kinh hoàng lại vang lên, lần này là tiếng của cả hai đứa trẻ. Mò mẫm bước vào phòng con trong bóng tối, Nat cảm thấy vô số đôi cánh quất tới tấp vào đầu vào mặt. Cửa sổ mở toang, đàn chim xông vào trước tiên đâm sầm vào trần nhà và tường, rồi quay ngoắt đầu lao bổ xuống lũ trẻ trên giường.
"Không sao, không sao, bố đây rồi." Nat hét lên, lũ trẻ vừa gào khóc vừa lao về phía hắn. Đàn chim trong bóng tối lại bay bổng lên, sà xuống, lao thẳng vào hắn lần nữa.
"Sao thế, Nat, chuyện gì vậy?" Vợ hắn gọi với sang từ phòng bên. Nat đẩy mạnh lũ trẻ ra khỏi phòng, nhanh tay đóng sập cửa lại. Giờ đây, trong phòng chỉ còn lại hắn và đàn chim này.
Hắn chộp lấy tấm chăn trên chiếc giường gần nhất làm vũ khí, quất mạnh sang hai bên trong không trung. Hắn cảm nhận được lũ chim bị quất rụng xuống đất, nghe thấy tiếng cánh đập dồn dập, nhưng đàn chim vẫn chưa chịu thua, chúng liên tục phát động tấn công, dùng những chiếc mỏ nhọn như chĩa sắt cắm ngập vào tay và đầu hắn. Hắn buộc phải quấn chăn quanh đầu để phòng thủ, rồi trong bóng tối dày đặc hơn, hắn dùng tay không đánh trả. Hắn không dám lảo đảo chạy ra mở cửa, sợ đàn chim sẽ bám theo hắn xông ra ngoài.
Hắn không biết mình đã giằng co trong bóng tối bao lâu, nhưng số chim tấn công dần ít đi, cuối cùng rút lui hoàn toàn. Ánh ban mai lọt qua tấm chăn trùm trên đầu, hắn biết trời sắp sáng. Hắn chờ đợi, lắng nghe, ngoài tiếng khóc nấc bồn chồn của lũ trẻ từ căn phòng đằng xa thì không còn gì khác. Tiếng vỗ cánh vù vù rợn ngợp đã im bặt.
Hắn kéo chăn khỏi đầu, đưa mắt nhìn quanh. Ánh sáng xám xịt, lạnh lẽo buổi sớm rọi sáng căn phòng. Bình minh qua khung cửa sổ mở toang đã gọi những con chim còn sống trở về, những con chết thì nằm lại trên sàn. Nat bàng hoàng kinh hãi nhìn chằm chằm vào những cái xác ấy. Không ngoại lệ, toàn là chim nhỏ. Dưới sàn phải có tới năm mươi xác chim: cổ đỏ, chim sẻ ngô, sẻ nhà, sẻ ngô xanh, sơn ca, sẻ thông. Nếu theo quy luật tự nhiên, lũ chim này đáng lẽ phải đi theo đàn của mình, ở lại lãnh địa của mình, nhưng lúc này chúng lại lẫn lộn vào nhau, mang theo cơn bốc đồng muốn cắn xé không thể kiềm chế, hoặc lao vào tường phòng, hoặc kịch chiến với hắn, cuối cùng bỏ mạng. Vài con rụng gãy lông cánh sau cuộc chiến, vài chiếc mỏ vẫn còn dính máu, máu của Nat.
Nat buồn nôn, bước tới bên cửa sổ. Tầm mắt hắn vượt qua khoảng sân, nhìn đăm đăm ra cánh đồng.
Trời rét cắt da cắt thịt, sương muối trên mặt đất cứng và đen ngòm. Không phải lớp sương trắng lấp lánh trong nắng sớm, mà là sương đen do gió đông mang lại. Đợt sóng đổi hướng khiến biển trở nên dữ tợn hơn, cuộn bọt trắng xóa, sóng gầm đập vào bờ đá. Lúc này, bóng chim tăm cá. Ngoài rào cây trước sân không thấy một con sẻ nào, trong đám cỏ cũng chẳng có hoét xám hay hoét đen tới kiếm ăn. Ngoài tiếng gió đông và tiếng sóng biển gầm rú, không nghe thấy bất cứ âm thanh nào khác.
Nat đóng cửa sổ và cửa căn phòng nhỏ, băng qua hành lang trở về phòng mình. Vợ hắn đang ngồi trên giường, đứa con lớn ngủ cạnh cô, đứa nhỏ mặt quấn băng gạc nằm ngủ trong lòng mẹ. Rèm cửa được kéo kín mít. Dưới ánh nến trong phòng, mặt cô sáng rõ. Cô lắc đầu, ra hiệu cho Nat nói nhỏ.
"Nó ngủ rồi," cô nói khẽ, "nhưng mới ngủ thôi. Chắc chắn có thứ gì đó cào rách mặt nó, em thấy đuôi mắt có máu. Con Jill bảo là chim. Nó bảo lúc tỉnh dậy thấy trong phòng toàn chim."
Vợ ngước nhìn Nat, mong nhận được câu trả lời khẳng định từ gương mặt hắn. Trông cô hoảng loạn, vẻ mặt thất thần. Hắn không nỡ để cô biết rằng chuyện xảy ra mấy tiếng qua cũng khiến hắn kinh hãi đến mức suýt mất hồn.
"Trong phòng đó có chim," hắn nói, "chết rồi, gần năm mươi con. Có cổ đỏ, có tiêu liêu, toàn là mấy loài chim nhỏ quanh vùng này. Gió đông dường như làm chúng phát rồ rồi." Hắn ngồi xuống cạnh vợ, nắm lấy tay cô. "Là vì thời tiết," hắn nói, "chắc chắn thế. Thời tiết độc quá. Mấy con chim này cũng có thể không phải ở đây, mà từ phương bắc tràn xuống."
"Nhưng mà Nat," vợ hắn thì thào, "đêm qua trời mới trở gió mà. Trước đó đâu có tuyết rơi, lũ chim cũng không bị đói. Chúng kiếm được thức ăn ngoài đồng mà."
"Là vì thời tiết," Nat lặp lại, "đã bảo với mình rồi, chỉ tại thời tiết thôi."
Gương mặt hắn cũng kiệt quệ y như cô. Họ nhìn nhau, không nói thêm lời nào.
"Tôi xuống nhà pha ấm trà." Một lúc sau hắn bảo.
Cảnh tượng trong bếp giúp hắn thở phào đôi chút. Chén đĩa xếp ngăn nắp trong chạn, bàn ghế trật tự, cuộn len của vợ để trên ghế mây, đồ chơi lũ trẻ cất gọn gàng trong tủ góc tường.
Hắn quỳ xuống, xúc hết tro nguội rồi nhen lại bếp lửa. Ánh lửa đưa mọi thứ trong nhà trở về bình thường. Chiếc ấm đun nước bốc khói nghi ngút cùng ấm trà gốm màu nâu khiến lòng người ấm lại, tràn ngập cảm giác an toàn. Uống trà xong, hắn mang một tách lên lầu cho vợ. Rửa xong chén đĩa, hắn xỏ ủng vào chân rồi mở cửa sau.
Bầu trời u ám như đổ chì, những ngọn đồi hôm qua còn bừng sáng dưới ánh mặt trời nay trông xám xịt và trơ trụi. Gió đông phạt qua ngọn cây sắc như dao cạo. Lá cây bị gió thổi khô giòn, kêu răng rắc, run rẩy rụng lả tả trong gió. Nat lấy gót ủng nện xuống đất. Đất đã đông cứng lại. Hắn chưa từng thấy sự thay đổi nào lại nhanh chóng và đột ngột đến thế. Chỉ trong một đêm, mùa đông đen tối đã ụp xuống.
Lũ trẻ đã thức dậy. Jill ríu rít trên lầu, bé Johnny lại khóc. Nat nghe thấy tiếng vợ dịu dàng dỗ dành. Giờ thì họ đã xuống nhà. Hắn đã chuẩn bị xong bữa sáng, một ngày mới lại bắt đầu.
"Bố đuổi hết chim đi rồi ạ?" Jill hỏi. Ngọn lửa trong lò sưởi gian bếp, ánh sáng ban mai và bữa điểm tâm đã giúp con bé lấy lại bình tĩnh.
"Ừ, chúng đi hết rồi," Nat nói, "gió đông thổi chúng tới đấy. Chúng sợ hãi, lạc đường nên muốn tìm chỗ nấp thôi."
"Chúng định mổ tụi con," Jill nói, "chúng nhào vào mắt Johnny."
"Vì chúng sợ quá đấy," Nat bảo, "trong căn phòng tối om, chúng chẳng biết mình đang ở đâu."
"Con mong chúng đừng tới nữa," Jill nói, "nếu mình để ít bánh mì trên bậu cửa, có khi chúng ăn xong sẽ bay đi."
Ăn sáng xong, con bé lấy áo khoác, mũ trùm, sách và chiếc cặp nhỏ. Nat không nói gì, nhưng người vợ ngồi đối diện nhìn hắn qua bàn ăn. Cả hai ngầm hiểu ý nhau.
"Tôi đưa con bé ra bến xe," hắn nói, "hôm nay tôi không tới nông trang."
Nhân lúc đứa trẻ đang đứng ở bồn rửa mặt, hắn dặn dò vợ: "Khép chặt tất cả các cửa sổ lại, cửa chính cũng đóng vào. Cẩn thận một chút vẫn hơn. Lát nữa tôi ghé qua nông trang xem đêm qua những người khác có nghe thấy gì không." Rồi hắn cùng con gái bước ra ngoài. Con bé dường như đã ném chuyện đêm qua ra sau đầu, vừa nhảy chân sáo phía trước hắn vừa đuổi theo những chiếc lá, dưới chiếc mũ trùm nhọn hoắt lộ ra đôi má ửng hồng vì lạnh.
"Bố ơi, có tuyết rơi không bố?" Con bé hỏi. "Trời lạnh quá rồi."
Hắn ngước nhìn bầu trời chết chóc, cảm nhận từng cơn gió rít rát qua vai.
"Không," hắn nói, "không có tuyết đâu. Mùa đông năm nay là mùa đông đen, không phải mùa đông trắng."
Hắn vẫn không ngừng tìm kiếm dấu vết của lũ chim. Tầm mắt hắn lướt qua những hàng rào cây, rồi vượt qua bờ giậu nhìn ra cánh đồng xa, nhìn lên những ngọn cây của nông trang, nơi quạ mỏ trắng và quạ gáy xám vẫn thường tụ tập. Nhưng không có lấy một bóng chim.
Ở bến xe đã có vài đứa trẻ khác đứng đợi. Chúng đeo khẩu trang, cũng đội mũ trùm giống Jill, mặt mũi trắng bệch, run lẩy bẩy vì rét.
Jill vẫy tay chạy lại. "Bố tớ bảo không có tuyết đâu," con bé reo lên, "mùa đông năm nay là mùa đông đen."
Con bé không hề nhắc tới chuyện lũ chim, bắt đầu chơi trò xô đẩy đùa nghịch với một bé gái. Chiếc xe buýt ì ạch bò lên dốc, Nat nhìn con bé bước lên xe rồi quay người đi về hướng nông trang. Hôm nay vốn không phải ca làm của hắn, nhưng hắn muốn xác nhận xem mọi sự có bình yên hay không. Jim, người chăn bò, đang làm việc trong sân.
"Ông chủ có nhà không?" Nat hỏi.
"Đi chợ rồi," Jim đáp, "hôm nay không phải thứ Ba à?"
Nói xong, gã liền vòng ra góc lán gỗ. Gã không ưa Nat, cho rằng hắn ngày thường hay đọc sách báo này nọ, làm ra vẻ thanh cao. Nat quên mất hôm nay là thứ Ba, đủ thấy chuyện đêm qua đã khiến hắn kinh hồn bạt vía tới mức nào. Hắn đi tới cửa sau nông xá, nghe thấy bà Trigg đang vừa nghe nhạc trên radio vừa hát theo trong bếp.
"Bà có trong đó không, bà Trigg?" Nat cất tiếng gọi.
Bà bước ra cửa, mặt mày tươi rói, là một người đàn bà xởi lởi.
"Kìa, ông Hocken," bà nói, "ông có biết cái luồng khí lạnh này từ đâu tới không, Liên Xô à? Tôi chưa từng thấy trời trở lạnh nhanh đến thế bao giờ. Đài bảo thời tiết này còn kéo dài nữa, có liên quan tới vùng Bắc Cực đấy."
"Sáng nay chúng tôi chưa nghe đài," Nat nói, "nói thật thì đêm qua nhà tôi gặp rắc rối."
"Lũ trẻ quấy à?"
"Không phải..." Hắn gần như không biết phải giải thích thế nào. Giữa ban ngày ban mặt mà đi kể chuyện đánh nhau với chim thì nực cười quá.
Hắn cố kể lại tình hình đêm qua cho bà Trigg nghe, nhưng ánh mắt của bà cho hắn biết bà chỉ coi câu chuyện này như một cơn ác mộng của hắn mà thôi.
"Ông có chắc là chim thật không?" Bà cười nói. "Có đủ lông đủ cánh không đấy? Hay là mấy thứ quái dị mà người ta hay thấy sau khi uống đẫy ở quán rượu đêm thứ Bảy?"
"Bà Trigg à," hắn nói, "có năm mươi cái xác chim, cổ đỏ, tiêu liêu các thứ, giờ vẫn nằm trên sàn phòng lũ trẻ đấy. Chúng lao vào tôi, còn đòi mổ mắt bé Johnny nữa."
Bà Trigg nhìn hắn đầy vẻ nghi ngờ.
"Thôi được rồi," bà đáp, "tôi đoán là do thời tiết thôi. Mấy con chim bay vào phòng rồi không biết đường nào mà đi. Có khi từ nước ngoài tới, từ cái vùng Bắc Cực ấy."
"Không phải," Nat nói, "toàn là mấy giống chim quanh đây vẫn thấy cả."
"Lạ nhỉ," bà Trigg bảo, "kỳ quặc thật đấy. Ông nên viết thư hỏi The Guardian xem sao. Chắc họ biết chuyện này là thế nào đấy. Thôi, tôi phải làm việc tiếp đây."
Bà mỉm cười gật đầu rồi quay trở vào bếp.
Nat không mấy hài lòng, quay lưng đi về phía cổng nông trang. Nếu không phải trên sàn phòng vẫn còn đống xác chim đang chờ hắn nhặt đi chôn, có lẽ chính hắn cũng thấy câu chuyện của mình quá đỗi hoang đường.
Jim đang đứng bên cổng.
"Anh có gặp lũ chim không?" Nat hỏi.
"Chim á? Chim gì?"
"Đêm qua chim bay vào nhà tôi. Hàng chục con, bay vào tận phòng lũ trẻ. Hung dữ lắm."
"Thế à?" Đầu óc Jim muốn hiểu hay tiêu hóa chuyện gì cũng phải mất một hồi. "Chưa từng nghe chim lại hung dữ bao giờ," một lát sau gã mới nói, "chúng nó hiền khô mà. Thỉnh thoảng tôi vẫn thấy chim sà xuống bậu cửa sổ xin mẩu bánh mì đấy thôi."
"Lũ chim đêm qua chẳng hiền chút nào."
"Vậy à? Chắc là vừa lạnh vừa đói đấy. Ông cho chúng ít vụn bánh mì là được."
Sự quan tâm của Jim đối với chuyện này chẳng mảy may nhiều hơn bà Trigg. Nat thầm nghĩ, chuyện này chẳng khác nào những trận không kích thời chiến. Người ở đầu này đất nước làm sao biết được dân chúng ở Plymouth đang sống trong nước sôi lửa bỏng. Lúc này chỉ đành một mình cắn răng chịu đựng.
Hắn men theo con đường mòn quay về, bước qua mấy bậc thềm vào nhà. Vợ hắn và bé Johnny đang ở trong bếp.
"Anh có gặp ai không?" Cô hỏi.
"Bà Trigg, với lại Jim," hắn đáp, "tôi nghĩ họ chẳng tin lời tôi đâu. Dù sao thì bên họ không có chuyện gì."
"Anh dọn đống chim đó ra ngoài đi," cô nói, "không thì em chẳng dám vào dọn giường đâu. Em sợ lắm."
"Giờ không có gì phải sợ nữa," Nat nói, "chết hết cả rồi."
Hắn xách một chiếc bao tải lên lầu, nhặt từng con chim đã cứng đờ ném vào trong. Đúng vậy, tròn năm mươi con, toàn là những loài chim nhỏ thường thấy nơi bờ rào, ngay cả một con to cỡ chim hoét cũng không có. Đêm qua chắc chắn chúng làm vậy là do sợ hãi. Thật khó mà tưởng tượng mỏ của những con sẻ ngô xanh hay tiêu liêu lại sắc khỏe đến mức cào rách cả mặt và tay hắn như đêm qua. Hắn vác chiếc bao tải ra sân, nhưng lại vấp phải một vấn đề mới: đất cứng ngắc không đào nổi. Trời không hề có tuyết, vậy mà mặt đất đã bị đông cứng như đá tảng. Mấy tiếng đồng hồ vừa qua, ngoài trận gió đông thổi tới thì chẳng có chuyện gì khác xảy ra. Mọi thứ đều quá đỗi bất thường, quá đỗi kỳ quái. Chắc hẳn người dự báo thời tiết nói đúng, trận trở trời này có liên quan tới vùng Bắc Cực.
Gió lạnh thấu xương, hắn cầm bao tải mà chẳng biết phải làm sao. Hắn nhìn ra mặt biển đang cuộn bọt trắng xóa đập vào vịnh, bèn quyết định mang đống chim này ra bờ biển chôn.
Tới bãi biển dưới chân mũi đá, gió đông thổi mạnh khiến hắn đứng không vững, thở thôi cũng thấy buốt rát, hai bàn tay lạnh ngắt tím tái. Từ lúc sinh ra tới giờ, hắn chưa từng nếm trải cái rét nào ghê gớm đến vậy. Thủy triều đang rút, hắn giẫm lên lớp đá kêu lạo xạo, đi tới chỗ cát xốp hơn, quay lưng lại với ngọn gió lạnh, dùng gót chân khoét một cái hố trên cát. Hắn định dốc lũ chim từ bao tải xuống hố, nhưng vừa mở miệng bao, cơn gió lốc đã hất tung xác chim lên. Năm mươi cái xác chim như thể bay lượn lần nữa, nhẹ bẫng tựa lông vũ, bị thổi dạt khắp bãi cát, rơi vãi ngổn ngang. Cảnh tượng trước mắt trông thật chướng mắt, hắn không thích chút nào. Gió cứ thế cuốn xác lũ chim ra xa khỏi người hắn.
"Nước lên, sóng sẽ cuốn chúng đi thôi." Hắn lẩm bẩm.
Hắn nhìn ra biển, ngắm những con sóng ánh sắc xanh lục dập dềnh nối tiếp nhau. Sóng dâng lên thật cao, cuộn lại, rồi lại đập vào bờ. Vì đang lúc triều rút, nước biển cuộn trào ở tít ngoài xa, không rầm rộ dữ dội như lúc triều cường.
Rồi hắn nhìn thấy chúng — lũ mòng biển. Ngay ngoài đó, đang cưỡi trên những con sóng.
Hóa ra thứ ban nãy hắn nhìn thấy không phải bọt trắng bắn lên từ đầu sóng, mà là mòng biển. Hàng trăm, hàng ngàn, hàng vạn con... Chúng nhấp nhô theo từng đáy sóng, đối mặt với cuồng phong, tựa như một hạm đội hùng hậu đang thả neo, chực chờ giữa làn sóng dữ. Nhìn về phía đông, nhìn về phía tây, đâu đâu cũng thấy bóng dáng mòng biển, trải dài ngút tầm mắt hắn. Chúng duy trì đội hình ken dày, hàng nối tiếp hàng. Nếu trời không có gió, lũ chim ép sát vào nhau này sẽ phủ kín cả vịnh biển tựa như một đám mây trắng. Chỉ vì gió đông khuấy đảo từng lớp sóng nên đứng từ bờ nhìn ra mới không sao thấy rõ được.
Nat quay người rời khỏi bãi biển, trèo lên con dốc cheo leo để về nhà. Phải báo cho ai đó biết mới được, phải nói cho người ta hay rằng gió đông và thời tiết đã gây ra những chuyện không thể nào hiểu nổi. Hắn không biết có nên tới bốt điện thoại ở bến xe để báo cảnh sát hay không. Nhưng cảnh sát thì làm được gì? Những người khác thì làm được gì? Nếu báo cảnh sát rằng có hàng ngàn con mòng biển đang cưỡi sóng ngoài biển vì bão tố, vì đói khát, họ sẽ nghĩ hắn mất trí, hoặc nghĩ hắn say rượu, bằng không cũng chỉ bình thản nghe xong câu chuyện rồi bảo: "Cảm ơn anh. Vâng, đã có người phản ánh tình hình này rồi. Thời tiết xấu đã thổi bạt lượng lớn chim chóc vào đất liền." Nat đưa mắt nhìn quanh, vẫn không thấy bóng dáng con chim nào. Có lẽ cái rét buốt giá đã xua chúng từ phương bắc xuống đây? Gần về tới cửa nhà, vợ hắn đã chạy ùa ra đón, kích động gọi lớn: "Nat," cô nói, "đài phát thanh đưa tin rồi. Họ vừa đọc một bản tin đặc biệt. Em ghi lại rồi này."
"Đài nói gì?" Hắn hỏi.
"Lũ chim," cô bảo, "không chỉ ở đây mà khắp mọi nơi. Ở London cũng thế, cả nước đều bị. Lũ chim thực sự đã bị thứ gì đó tác động rồi."
Hai người cùng bước vào bếp. Hắn cầm tờ giấy trên bàn lên đọc.
"Bộ Nội vụ phát đi thông báo lúc mười một giờ trưa nay. Trong vài giờ qua, các nơi trên toàn quốc liên tục ghi nhận tình trạng chim chóc xuất hiện với số lượng lớn tại các thị trấn, làng mạc, vùng ven đô, gây ách tắc, phá hoại, thậm chí đã xảy ra các vụ chim tấn công người. Nhận định sơ bộ cho thấy luồng khí lạnh Bắc Cực hiện đang bao trùm quần đảo Anh đã khiến lượng lớn chim di cư xuống phía nam, có thể do quá đói khát nên chúng mới có hành vi tấn công người. Người dân cần chú ý kiểm tra cửa sổ, cửa ra vào, ống khói, bảo đảm an toàn cho trẻ nhỏ. Thông tin tiếp theo sẽ được phát sau."
Nat kích động khôn xiết, hắn đưa mắt nhìn vợ với vẻ đắc thắng.
"Tốt quá rồi," hắn nói, "chỉ mong người ở nông trang cũng nghe được tin này, để bà Trigg biết tôi không hề nói hươu nói vượn. Đúng là có chuyện đó thật, cả nước đều bị. Cả buổi sáng tôi cứ tự bảo mình chắc chắn có vấn đề gì đó. Mới vừa rồi, ngoài bãi biển tôi thấy trên mặt biển có hàng ngàn hàng vạn con mòng biển, đông nghìn nghịt, một mũi kim cũng không chen lọt. Chúng đều ở ngoài đó, cưỡi trên những con sóng mà chờ đợi."
"Chúng chờ cái gì thế, Nat?" Cô hỏi.
Hắn nhìn trừng trừng vào vợ, rồi lại cụp mắt nhìn xuống tờ giấy.
"Tôi không biết," hắn chậm rãi đáp, "trên này bảo lũ chim đang rất đói."
Hắn bước về phía ngăn kéo đựng búa và đồ nghề.
"Anh định làm gì thế, Nat?"
"Làm theo bản tin bảo, đi kiểm tra cửa sổ với ống khói."
"Cửa sổ đều đóng chặt cả rồi, chúng còn xông vào được sao? Mấy con sẻ với cổ đỏ ấy à? Sao lại thế? Chúng làm sao mà chui vào được?"
Hắn không trả lời. Thứ hắn đang nghĩ tới không phải cổ đỏ hay chim sẻ, mà là mòng biển...
Hắn bước lên lầu, khoảng thời gian còn lại của buổi sáng hắn đều bận rộn ở trên đó. Hắn lấy ván gỗ đóng chặt các cửa sổ phòng ngủ, lại còn chèn kín cả chân ống khói. Cũng may hôm nay không phải đi làm ở nông trang. Hắn nhớ lại những ngày xưa cũ. Đó là dạo chiến tranh vừa mới bắt đầu, hắn còn chưa lấy vợ, tại nhà mẹ hắn ở Plymouth, mọi tấm chắn sáng đều do một tay hắn làm. Hắn còn dựng cả hầm trú ẩn phòng khi bất trắc. Hắn tự hỏi không biết bên nông trang có thực hiện các biện pháp phòng vệ này hay không. Hắn hơi ngờ rằng họ sẽ chẳng làm gì cả, bởi Harry Trigg lẫn vợ ông ta đều là những kẻ quá tùy tiện, họ có thể chỉ cười trừ cho qua rồi lại kéo nhau đi khiêu vũ hoặc đánh bài.
"Cơm trưa xong rồi." Vợ hắn gọi với lên từ dưới bếp.
"Được rồi! Xuống ngay đây."
Những khung nẹp vừa làm xong khít khao ôm lấy khung kính cửa sổ và bệ ống khói, hắn rất hài lòng với tay nghề của mình.
Sau bữa trưa, trong lúc vợ rửa bát, Nat vặn radio sang bản tin một giờ, lúc này đài đang nhắc lại tin tức buổi sáng mà vợ hắn đã chép ra, nhưng có diễn giải chi tiết hơn. "Chim muông đã gây ra hỗn loạn trên khắp cả nước," phát thanh viên cất giọng, "mười giờ sáng nay, bầu trời London ken đặc chim chóc, cả thành phố dường như chìm dưới một đám mây đen."
"Chim chóc đậu la liệt trên mái nhà, bậu cửa sổ, ống khói, trong đó có hoét đen, hoét hoa, chim sẻ nhà thông thường, cũng có cả những đàn bồ câu và chim sáo thường thấy ở các đô thị lớn, cùng với mòng biển đầu đen ở sông London. Hiện tượng này quá đỗi bất thường, khiến nhiều tuyến phố lớn bị tắc nghẽn, các cửa hàng không thể mở cửa buôn bán bình thường, nhân viên công sở không thể đi làm, trên đường phố và vỉa hè chật kín những người đứng xem chim."
Đài phát thanh điểm qua rất nhiều sự việc liên quan, nhấn mạnh lại nguyên nhân có thể do chim chóc vừa đói vừa lạnh, đồng thời một lần nữa nhắc nhở người dân chuẩn bị sẵn các biện pháp phòng ngừa. Giọng phát thanh viên trầm ấm, khoan thai. Nat cảm thấy người này tiếp nhận toàn bộ sự việc như thể đang đứng trước một trò đùa được dàn dựng công phu. Có lẽ còn có hàng trăm kẻ giống như gã, hoàn toàn không biết cảm giác phải chiến đấu với bầy chim trong bóng tối là như thế nào. Tối nay có khi ở London người ta lại mở tiệc, như những bữa tiệc đêm bầu cử vậy. Mọi người tụ tập lại, cười nói ồn ào, uống say bí tỉ rồi gào lên: "Tới đây, tới ngắm chim nào!"
Nat tắt radio, đứng dậy bắt đầu xử lý các cửa sổ dưới bếp. Người vợ đứng bên cạnh nhìn hắn, bé Johnny lẫm chẫm bám sau lưng mẹ.
"Gì cơ? Cửa sổ dưới nhà cũng phải đóng nẹp gỗ à?" Cô nói. "Sao lại thế? Làm vậy thì chưa tới ba giờ đã phải thắp nến rồi. Em thấy chẳng cần thiết đâu."
"Cẩn thận vẫn hơn," Nat bảo, "tôi phải bảo đảm an toàn tuyệt đối."
"Đáng lẽ họ phải điều quân đội tới mà xả súng," cô nói, "làm thế lũ chim sẽ sợ mà bay đi ngay."
"Nếu họ làm thật," Nat nói, "thì biết bắt đầu từ đâu?"
"Ngoài bến cảng có quân đội đấy thôi," cô đáp, "hồi công nhân bến tàu bãi công, binh lính chẳng xuống tận thuyền để bốc dỡ hàng đó sao."
"Đúng," Nat bảo, "nhưng London có hơn tám triệu dân, mình thử nghĩ xem ở đó có bao nhiêu tòa nhà, bao nhiêu căn hộ, bao nhiêu ngôi nhà. Mình nghĩ lính có đủ đông để trèo lên từng nóc nhà mà xả súng không?"
"Em không biết. Nhưng chắc chắn phải làm gì đó chứ. Họ nên làm gì đó đi."
Nat thầm nghĩ, lúc này "họ" chắc chắn cũng đang đau đầu suy tính chuyện đó, nhưng bất kể "họ" quyết định xử lý vấn đề ở London và các đô thị lớn ra sao, cũng chẳng thể giúp ích gì cho cái nơi cách xa ba trăm dặm này. Người dân ở đây chỉ có thể tự cầu phúc cho mình thôi.
"Lương thực trong nhà còn đủ không?" Hắn hỏi.
"Sao lại hỏi thế, Nat, lại có chuyện gì à?"
"Không có gì. Trong chạn thức ăn còn những gì?"
"Mai là tới ngày mua sắm rồi, anh biết mà. Em đâu có tích nhiều đồ tươi, dễ hỏng lắm. Ngày kia người bán thịt mới tới. Nhưng mai em có thể lên thị trấn mua tạm ít đồ về trước."
Nat không muốn dọa cô sợ. Hắn cảm thấy ngày mai có khi cô chẳng lên thị trấn nổi đâu. Tự hắn đi lục lọi chạn thức ăn và chiếc tủ cô đựng đồ hộp. Mấy thứ bên trong đủ cầm cự được hai ba ngày. Bánh mì không còn nhiều.
"Thế còn thợ làm bánh?"
"Mai ông ấy cũng tới."
Hắn thấy vẫn còn bột mì. Nếu mai thợ làm bánh không tới, chỗ bột này cũng đủ cho cô nướng một ổ bánh mì.
"Vẫn là ngày xưa sướng hơn," hắn nói, "ngày xưa các bà nội trợ mỗi tuần nướng bánh hai lần, lại còn làm cá mòi ướp muối, lỡ gặp thời buổi bất trắc cũng đủ cho cả nhà ăn mấy tháng ròng."
"Em từng cho lũ trẻ ăn thử cá hộp rồi, chúng không thích." Cô nói.
Nat tiếp tục đóng nẹp gỗ lên cửa sổ nhà bếp. Nến cũng chẳng còn lại bao nhiêu. Hẳn là cô tính ngày mai đi mua nến. Đành chịu vậy, tối nay phải đi ngủ sớm thôi. Với điều kiện là, nếu...
Hắn đứng dậy đi ra cửa sau, đứng ngoài sân nhìn từ sườn dốc xuống biển. Suốt cả ngày hôm nay không hề có mặt trời, giờ mới ba giờ chiều mà xung quanh đã nhá nhem tối. Bầu trời nặng trĩu, tối tăm mù mịt. Hắn có thể nghe thấy tiếng nước biển va đập điên cuồng vào vách đá. Hắn bước xuống con đường mòn, đi về phía bãi biển. Đi được nửa đường, hắn khựng lại. Nước triều đã lên. Những tảng đá tầm mười giờ sáng còn thấy được, giờ đã bị nước biển nuốt trọn. Nhưng thứ khiến hắn thẫn thờ không phải là sóng biển, mà là lũ mòng biển ngoài khơi. Hàng trăm hàng ngàn con mòng biển đang lượn vòng trên mặt biển, ngược gió đập cánh. Chính bầy mòng biển đã che khuất ánh sáng ban ngày. Chúng im lặng, không phát ra một tiếng động nào, chỉ bay lượn đảo vòng, nhấp nhô trồi sụt, không ngừng đọ sức với cơn gió.
Nat quay ngoắt người, chạy thục mạng lên đường mòn, lao về nhà.
"Tôi phải đi đón con Jill," hắn nói, "tôi ra bến xe đợi nó."
"Sao thế?" Vợ hắn hỏi. "Mặt anh tái mét thế kia."
"Để Johnny ở trong nhà," hắn dặn, "đóng chặt cửa lại, thắp nến lên, kéo rèm xuống."
"Mới hơn ba giờ một chút thôi mà." Cô nói.
"Mặc kệ. Cứ làm theo lời tôi."
Hắn ra căn nhà kho đựng dụng cụ ngoài cửa sau ngó nghiêng. Chẳng có thứ gì dùng được. Xẻng thì nặng quá, chĩa ba thì vô dụng. Hắn cầm lấy cái cuốc. Chỉ có thứ này là may ra dùng được, vác đi cũng không quá nặng.
Hắn rảo bước về phía bến xe, chốc chốc lại ngoái đầu nhìn lại.
Lũ mòng biển lúc này đã bay cao hơn, đội hình trải ra lớn hơn, rộng hơn, vắt ngang bầu trời.
Hắn rảo bước nhanh hơn. Dù biết trước bốn giờ xe buýt sẽ không lên tới đỉnh dốc, hắn vẫn vô thức bước dồn dập. Trên đường không một bóng người, vừa đúng ý hắn, bởi hắn không có thời gian dừng lại tán gẫu.
Hắn đứng đợi trên đỉnh dốc. Hắn tới quá sớm, còn phải đợi nửa tiếng nữa. Gió đông từ vùng đất cao quất rát rạt qua những cánh đồng. Hắn giậm chân, hà hơi vào lòng bàn tay. Từ khoảng cách này, hắn có thể thấy những bờ đất trơ trọi, trắng bệch dưới bầu trời u ám nặng nề. Phía sau bờ đất, một mảng đen ngòm bốc lên, thoạt nhìn như một vết bẩn khổng lồ. Vết bẩn từ từ loang rộng ra, màu sắc càng lúc càng đậm, hóa thành một đám mây. Đám mây ấy lại tách làm bốn mảng, tản ra bốn hướng đông, tây, nam, bắc. Không, không phải mây, là chim. Hắn nhìn chúng bay xuyên qua không trung, lướt qua đỉnh đầu hắn ở độ cao hai ba trăm bộ. Từ tốc độ bay, hắn đoán ra đây là những đàn chim bay về phía đất liền phương bắc, chẳng mảy may liên quan gì tới bán đảo này, có quạ mỏ trắng, quạ đen, quạ gáy xám, ác là, giẻ cùi. Thường ngày chúng săn bắt những loài thú nhỏ hơn mình, nhưng chiều nay, chúng mang theo mục đích dứt khoát lao về một sứ mệnh khác.
"Các thị trấn mới là địa bàn của chúng," Nat thầm nghĩ, "chúng biết rõ mình phải làm gì. Chỗ này của ta đối với chúng chẳng đáng bận tâm. Nơi này là địa bàn của mòng biển, những đàn khác đều kéo về thị trấn cả rồi."
Hắn bước vào bốt điện thoại, nhấc ống nghe lên. Chỉ cần có điện thoại viên là được, họ sẽ giúp truyền tin đi.
"Tôi gọi từ phía đường cái," hắn nói, "ở ngay bến xe bên này. Tôi muốn báo cáo có một lượng lớn chim đang bay về hướng bắc. Ngoài vịnh bên này cũng tụ tập rất nhiều mòng biển."
"Được rồi." Một giọng nói mệt mỏi ở đầu dây bên kia cộc lốc đáp lời.
"Cô sẽ chuyển tin này cho cơ quan chức năng chứ?"
"Biết rồi... biết rồi..." Giọng nói giờ đây lộ rõ vẻ sốt ruột và chán ngấy, tiếp theo là tiếng tút tút báo bận sau khi gác máy.
"Lại thêm một người nữa," Nat nghĩ, "lại thêm một kẻ chẳng thèm bận tâm. Có khi cô ta phải trực điện thoại cả ngày, trong bụng chỉ mong tối nay được đi xem phim. Cô ta sẽ nắm tay một anh chàng nào đó, chỉ lên trời mà bảo: 'Kìa, toàn là chim kìa!' Cô ta chẳng hơi đâu mà bận lòng."
Chiếc xe buýt nặng nề bò lên dốc. Jill cùng ba bốn đứa trẻ bước xuống xe, rồi chiếc xe tiếp tục chạy về hướng thị trấn.
"Sao bố lại mang cuốc thế ạ?"
Lũ trẻ vây quanh hắn, chỉ vào cái cuốc cười toe toét.
"Tiện tay cầm theo thôi," hắn nói, "nào, về nhà thôi. Trời lạnh lắm, đừng la cà bên ngoài. Nào, mấy đứa kia, chú đứng đây nhìn mấy đứa chạy qua cánh đồng xem đứa nào chạy nhanh nhất nhé."
Hắn đang nói với mấy đứa bạn của Jill. Lũ trẻ này thuộc các gia đình khác nhau, đều sống trong khu nhà ở xã hội, có thể đi đường tắt qua cánh đồng để về nhà.
"Bọn cháu muốn chơi trên đường mòn một lát cơ." Một đứa phụng phịu.
"Không được, phải về nhà ngay, không chú mách mẹ cháu đấy."
Mấy đứa nhỏ tròn xoe mắt, thì thầm to nhỏ với nhau rồi ù té chạy biến qua cánh đồng. Jill nhìn trừng trừng vào bố, phụng phịu không vui.
"Ngày nào bọn con cũng chơi trên đường mòn mà." Con bé nói.
"Chiều nay thì không," hắn gắt, "đi mau, đừng lề mề nữa."
Hắn thấy lũ mòng biển đang lượn vòng trên cánh đồng, sắp sửa áp sát đất liền. Vẫn im lìm, vẫn không một tiếng động.
"Nhìn kìa bố, nhìn đằng kia kìa, toàn mòng biển thôi."
"Ừ. Đi nhanh lên, rảo bước lên."
"Chúng bay đi đâu thế bố? Đi đâu vậy ạ?"
"Chắc là bay về hướng bắc, mạn đó ấm hơn."
Hắn nắm chặt tay con bé, cứ thế kéo nó săm sắm bước đi phía trước.
"Bố đừng đi nhanh thế. Con theo không kịp đâu."
Hàng ngàn hàng vạn con mòng biển đang bắt chước quạ mỏ trắng và quạ đen, dàn trải đội hình trên không trung, chia nhau bay về bốn hướng đông, tây, nam, bắc.
"Bố ơi, cái gì thế kia? Lũ mòng biển đang làm gì vậy?"
Chúng không có mục đích bay rõ ràng như quạ đen hay quạ gáy xám, cũng không bay cao như vậy. Mòng biển vẫn lượn lờ trên đỉnh đầu, dường như đang chờ đợi một hiệu lệnh nào đó, mà mệnh lệnh thì dường như vẫn lơ lửng, chưa thật rõ ràng.
"Bố cõng con nhé, Jill? Nào, lên đây."
Hắn ngỡ làm vậy sẽ đi nhanh hơn. Nhưng hắn đã lầm. Jill rất nặng, cứ trượt dần khỏi lưng hắn. Đã vậy con bé còn òa khóc. Cảm giác cấp bách và nỗi sợ hãi toát ra từ người hắn đã lây sang đứa trẻ.
"Con muốn lũ mòng biển bay đi cơ. Con ghét chúng nó. Chúng nó cứ sà xuống gần đường mòn kìa."
Hắn thả con bé xuống đất, bắt đầu chạy, Jill chạy theo sau. Khi tới chỗ rẽ vào nông trang, họ thấy người nông dân đang lùi xe ra khỏi gara. Nat gọi với lại.
"Cho chúng tôi đi nhờ một đoạn được không?" Hắn hỏi.
"Sao thế?"
Ông Trigg từ ghế lái nhìn trừng trừng hai bố con, nụ cười hiện rõ trên khuôn mặt hồng hào hớn hở.
"Xem chừng mọi chuyện bắt đầu vui rồi đấy," ông ta nói, "ông thấy lũ mòng biển chưa? Tôi với thằng Jim định đi bắn thử vài phát đây. Giờ thiên hạ chỉ bàn tán mỗi một chuyện, ai cũng bảo lũ chim phát rồ rồi. Nghe đâu đêm qua nhà ông cũng gặp rắc rối à. Cần súng không?"
Nat lắc đầu.
Trên chiếc xe nhỏ chất đầy đồ đạc, chỉ đủ nhét thêm một mình Jill, với điều kiện con bé phải co ro ngồi lên can xăng ở ghế sau.
"Tôi không cần súng," Nat nói, "nhưng nếu ông chở giùm con Jill về nhà thì tôi đội ơn ông quá. Con bé sợ lũ chim."
Hắn nói ngắn gọn, vì không muốn nói quá nhiều trước mặt Jill.
"Được thôi," người nông dân bảo, "tôi chở nó về. Ông có muốn ở lại làm một chân bắn chim không? Cùng đi quậy một trận cho vui."
Jill trèo lên xe, chiếc xe tăng tốc, quặt sang con đường mòn. Nat rảo bước theo sau, thầm nghĩ Trigg chắc chắn phát điên rồi, chim chóc rợp trời thế kia, súng ống phỏng có ích gì?
Giờ không có Jill bên cạnh, Nat mới có thể quan sát kỹ bốn phía. Đàn chim vẫn đang lượn vòng trên bầu trời cánh đồng. Đa phần là mòng biển bạc, nhưng cũng có cả mòng biển đầu đen. Thường ngày hai loài mòng biển này hoạt động riêng rẽ, nhưng lúc này một mối liên kết nào đó đã gom chúng lại với nhau. Hắn từng nghe nói mòng biển đầu đen tấn công chim nhỏ, thậm chí tấn công cả cừu non mới đẻ. Hắn chưa từng tận mắt chứng kiến, nhưng lúc này ngước nhìn bầu trời, hắn bỗng nhớ lại chuyện đó. Chúng đang bay về hướng nông trang, lượn lờ ở tầm thấp. Mòng biển đầu đen bay trước dẫn đường, nông trang chính là mục tiêu của chúng. Chúng đang lao về phía nông trang.
Nat rảo bước thật nhanh để về nhà. Hắn thấy xe của người nông dân quặt qua khúc quanh, chạy dọc theo con đường tới đây, rồi phanh kịt lại ngay cạnh hắn.
"Con bé chạy vào nhà rồi," người nông dân nói, "vợ ông đang trông nó. Nào, ông thấy thế nào? Người trên thị trấn bảo là do bọn Liên Xô giở trò đấy, chúng nó bỏ thuốc độc cho lũ chim."
"Sao họ làm thế được?" Nat hỏi.
"Đừng có hỏi tôi. Dù sao thì ông biết đấy, chuyện cứ đồn qua đồn lại thôi mà. Có vào bắn chim với bọn tôi không?"
"Thôi, tôi phải về nhà. Không thì vợ tôi lo."
"Bà nhà tôi bảo bắn hạ mà không ăn thì bắn làm cái thảm gì," Trigg nói, "lát nữa nhà tôi sẽ ăn mòng biển nướng, mòng biển đút lò, lại còn mòng biển muối nữa chứ. Ông cứ đợi đấy xem tôi cho lũ súc sinh này ăn đạn. Đảm bảo dọa chúng chết khiếp."
"Ông đã đóng nẹp gỗ lên cửa sổ chưa?" Nat hỏi.
"Chưa. Toàn chuyện nhảm nhí. Đài phát thanh chỉ giỏi dọa người. Hôm nay tôi bận tối mắt, hơi đâu mà đóng với chả nẹp."
"Là tôi thì tôi về đóng ngay bây giờ."
"Xì. Tôi thấy ông bị dọa cho mất mật rồi đấy. Tối nay có sang nhà tôi ngủ không?"
"Thôi, cảm ơn ông."
"Được rồi. Sáng mai gặp nhé. Chuẩn bị sẵn bữa sáng thịt mòng biển cho ông đấy."
Người nông dân toét miệng cười, lái xe quẹo vào cổng nông trang.
Nat rảo bước vội vã. Băng qua rặng cây nhỏ, băng qua kho thóc cũ, trèo qua cái thang trèo qua rào là bước vào đoạn cánh đồng cuối cùng.
Hắn vừa trèo qua thang thì nghe thấy tiếng cánh đập vù vù rợn ngợp. Một con mòng biển đầu đen lao bổ thẳng về phía hắn, trượt mục tiêu, nó liền quay ngoắt bay vút lên rồi lại lao xuống lần nữa. Những con mòng biển đầu đen khác lập tức ùa tới, sáu con, bảy con, rồi mười mấy con, lẫn trong đó còn có cả mòng biển lưng đen lớn và mòng biển bạc. Nat vứt phăng chiếc cuốc vô dụng, vội ôm chặt lấy đầu, cắm đầu cắm cổ chạy về phía căn nhà gỗ của mình. Bầy chim không chịu buông tha, tiếp tục từ trên không lao bổ xuống người hắn. Xung quanh tĩnh mịch đến rợn người, chỉ nghe thấy tiếng cánh vỗ phành phạch — tiếng đập cánh kinh hoàng. Hắn cảm nhận được cánh tay, cổ tay và cổ mình đang túa máu. Những chiếc mỏ chim mổ bổ nhào xuống hết lần này đến lần khác cắm sâu vào da thịt hắn. Hắn chỉ mong đừng bị mổ trúng mắt, những chỗ khác hắn không màng tới nữa, nhưng mắt thì tuyệt đối không thể để bị mổ trúng. Giờ chúng vẫn chưa biết cách quắp chặt lấy vai, xé rách quần áo để cả đàn lao thẳng vào đầu và thân mình hắn, nhưng mỗi đợt bổ nhào của chúng đều mang tính sát thương ngày một hung bạo hơn. Chúng liều mạng chiến đấu, không màng sống chết, nếu sà xuống quá thấp mà không trúng đích, chúng sẽ đâm sầm xuống đất, thương tích đầy mình, thậm chí nát bấy thịt xương. Nat vừa chạy thục mạng, chốc chốc lại vấp phải những cái xác chim nằm la liệt trên mặt đất phía trước.
Hắn chạy tới trước cửa, dùng đôi bàn tay bê bết máu đập cửa điên cuồng. Cửa sổ đã bị đóng nẹp gỗ, không một tia sáng nào lọt ra ngoài. Màn đêm đen kịt bao trùm lấy tất cả.
"Cho tôi vào," hắn gào lên, "tôi đây, mở cửa cho tôi vào!"
Hắn hét thật lớn, sợ tiếng mình bị nuốt chửng trong tiếng đập cánh rào rào của bầy mòng biển.
Đúng lúc ấy, hắn nhìn thấy một con chim điên đang chuẩn bị từ trên bầu trời bổ nhào thẳng xuống đầu mình. Lũ mòng biển lượn vòng, đón gió, từng con một lùi lại, bay lượn ra xa. Chỉ còn lại con chim điên đó, đơn độc bay ngay trên đỉnh đầu hắn. Đột nhiên, nó khép chặt đôi cánh, lao vút xuống như một tảng đá. Nat thét lên kinh hãi, cánh cửa bật mở. Hắn lảo đảo ngã nhào qua bậu cửa, người vợ lập tức dùng cả thân mình tông sầm cánh cửa lại.
Họ nghe thấy một tiếng "bịch" khô khốc vang lên ngoài cửa, con chim điên đập thẳng xuống đất nát bấy.
Vợ hắn băng bó vết thương cho hắn. Vết thương không sâu, mu bàn tay và cổ tay bị rách nặng nhất. Nếu không nhờ hắn đội mũ, bầy chim chắc chắn đã tấn công vào đầu hắn rồi. Còn con chim điên kia... suýt chút nữa đã bổ đôi đầu hắn ra làm hai mảnh.
Lũ trẻ đang khóc. Chúng nhìn thấy máu trên tay bố.
"Giờ không sao rồi," hắn bảo chúng, "bố không bị thương nặng đâu, chỉ xước da một tí thôi. Jill, con dắt Johnny đi chơi đi. Để mẹ rửa vết thương cho bố."
Hắn khép hờ cánh cửa chỗ bồn rửa để lũ trẻ không nhìn thấy. Vợ hắn mặt cắt không còn giọt máu, vặn vòi nước.
"Em thấy lũ chim rồi," cô nói khẽ. "Jill vừa theo ông Harry Trigg chạy vào thì chúng đã bắt đầu tụ lại. Em vội vàng dập mạnh cửa, thế là kẹt luôn, lúc nãy anh về mới không mở ngay được."
"Đội ơn trời, chúng đợi anh đến," hắn nói. "Nếu là Jill thì con bé ngã ngay rồi. Một con chim cũng đủ xô ngã nó."
Để không làm lũ trẻ sợ, lúc băng bó tay và sau gáy, hai người nói chuyện thì thào, giấu giếm.
"Chúng đang bay vào đất liền," hắn nói. "Hàng nghìn con. Có cả quạ gáy xám, quạ đen, toàn chim to bản. Ở nhà ga anh đã thấy rồi. Chúng đang bay về phía thị trấn."
"Nhưng chúng làm được gì chứ, Nat?"
"Chúng sẽ tấn công tất cả những ai trên đường, rồi tìm cách chui qua cửa sổ, ống khói để vào nhà."
"Sao chính phủ không làm gì đi? Sao không điều quân đội mang súng máy ra quét sạch chúng?"
"Bất ngờ quá, không ai trở tay kịp. Lát nữa nghe xem bản tin sáu giờ nói gì."
Nat quay lại bếp, vợ đi theo sau hắn. Johnny đang ngồi chơi ngoan ngoãn trên sàn. Chỉ có Jill là lộ vẻ âu lo.
"Con nghe thấy tiếng chim," con bé nói. "Nghe kìa, bố."
Nat lắng tai nghe. Từ cửa sổ và cửa ra vào vọng vào những tiếng uỵch nghẹt thở. Lũ chim đang cố tìm lối vào, cánh quẹt qua, cào rách, quẹt sượt lên mặt ván gỗ; xác chim chen chúc, lê lết trên bậu cửa sổ; chốc chốc lại nghe thấy tiếng lao vút xuống rồi đập mạnh xuống đất. "Thế này thì một số con sẽ chết," hắn nghĩ thầm, "nhưng phòng thủ thế này vẫn chưa đủ, không bao giờ là đủ."
"Không sao đâu," hắn nói lớn. "Jill à, cửa sổ bố đóng nẹp gỗ hết rồi. Chim không vào được đâu."
Hắn kiểm tra lại từng cửa sổ. Công việc sáng nay làm rất kỹ, khe hở nào cũng đã bít kín. Nhưng hắn vẫn muốn chắc chắn tuyệt đối. Hắn tìm nêm gỗ, tôn vụn, thanh gỗ và nẹp kim loại để gia cố quanh các khung cửa. Tiếng búa gõ át đi phần nào tiếng chim rơi, tiếng cánh đập lạch phạch, và cả một âm thanh gở mà hắn không muốn vợ con nghe thấy — tiếng kính nứt vỡ.
"Bật đài lên," hắn nói. "Chúng ta nghe radio đi."
Làm vậy cũng át bớt được những tiếng động kia. Hắn lên phòng ngủ tầng trên để gia cố cửa sổ. Giờ đây, hắn đã có thể nghe thấy động tĩnh của đàn chim trên mái nhà, tiếng chúng trượt đi, xô đẩy, tiếng móng vuốt cào sột soạt.
Hắn quyết định đêm nay cả nhà sẽ ngủ trong bếp, đốt lửa trong lò, kéo đệm xuống trải trên sàn. Hắn lo cho ống khói trên phòng ngủ, mấy thanh gỗ chặn ở đáy lò sưởi có thể sụp xuống. Dưới bếp có lửa, sẽ an toàn hơn. Hắn sẽ tìm cách nói sao cho vui vẻ, vờ như đang cùng lũ trẻ chơi trò cắm trại. Nếu điều tồi tệ nhất xảy ra, lũ chim phá được ống khói phòng ngủ tràn vào, chúng cũng phải mất hàng giờ, thậm chí vài ngày mới phá nổi cánh cửa phòng. Trong lúc đó chúng sẽ bị nhốt trong phòng ngủ, không làm hại ai được. Chen chúc nhau rồi chúng sẽ ngạt thở mà chết.
Hắn bắt đầu khiêng đệm xuống nhà. Thấy cảnh đó, mắt vợ hắn mở to đầy vẻ hoảng hốt. Cô tưởng tầng trên đã bị đàn chim chọc thủng.
"Nào," hắn vui vẻ nói. "Đêm nay cả nhà mình cùng ngủ trong bếp. Sưởi lửa ngủ sẽ ngon hơn. Khỏi phải nghe lũ chim ngốc nghếch đập cửa sổ nữa."
Hắn bảo lũ trẻ phụ một tay dọn đồ, rồi vợ hắn cùng hắn cẩn thận khiêng cái chạn bát kê chắn ngang cửa sổ. Vừa khít. Thế là thêm một lớp phòng vệ. Giờ có thể trải đệm ra rồi, từng chiếc sát nhau, dựa vào vách tường phía tủ bát.
"Bây giờ thì đủ an toàn rồi," hắn nhẩm tính. "Chỗ này vừa chắc vừa ấm, chẳng khác gì hầm trú ẩn thời không kích. Nhà mình sẽ vượt qua được. Mình chỉ lo về thức ăn, với than nhóm lửa. Lượng than hiện có chỉ đủ dùng hai ba ngày. Đến lúc đó..."
Không cần nghĩ xa đến thế, đài phát thanh sẽ có chỉ dẫn, bảo mọi người phải làm gì. Vấn đề lúc này là đài đang phát nhạc khiêu vũ, chứ không phải chương trình thiếu nhi như mọi khi. Hắn nhìn kim chỉ trên máy thu thanh. Đúng rồi, làn sóng nội địa. Nhưng chỉ có nhạc khiêu vũ. Hắn chuyển sang Kênh Giải trí Nhẹ của BBC. Hắn biết chỉ trong những dịp đặc biệt như ngày bầu cử, các chương trình thường nhật mới bị ngừng phát. Hắn cố nhớ lại hồi chiến tranh, khi London hứng chịu những trận không kích ác liệt, liệu có từng như thế này không. Nhưng rõ ràng hồi đó BBC không phát sóng từ London, mà qua các trạm phát lưu động khác. "Ở đây vẫn hơn," hắn nghĩ, "ở dưới bếp này vẫn hơn, cửa nẹp hết ván gỗ rồi. May mà mình không ở thị trấn phía bắc. Đội ơn trời, mình không sống ở thị trấn."
Đúng sáu giờ, nhạc khiêu vũ tắt ngấm, tín hiệu điểm giờ vang lên. Lúc này bất kể có làm lũ trẻ sợ hay không, hắn cũng phải nghe bản tin. Sau khoảng lặng ngắn ngủi điểm giờ, giọng phát thanh viên cất lên. Giọng người ấy trang nghiêm, trầm trọng, khác hẳn ban ngày.
"Đây là London," người đó nói. "Lệnh tình trạng khẩn cấp toàn quốc đã được ban bố lúc bốn giờ chiều. Các cơ quan hữu quan đã triển khai biện pháp bảo vệ tính mạng và tài sản của nhân dân, nhưng do cuộc khủng hoảng lần này chưa từng có tiền lệ và không thể lường trước, các biện pháp có thể chưa phát huy hiệu quả ngay lập tức. Toàn thể người dân cần chủ động phòng vệ, các hộ cùng sống trong khu chung cư cần đoàn kết, dốc sức ngăn chặn đàn chim đột nhập. Toàn thể người dân đêm nay nhất thiết phải ở trong nhà, không được lưu lại trên đường phố hay bất kỳ khu vực ngoài trời nào. Lũ chim số lượng lớn đang tấn công người đi đường và đã bắt đầu công kích các công trình. Nhưng nếu phòng thủ cẩn mật, các tòa nhà sẽ không thể bị phá vỡ. Mọi người cần giữ bình tĩnh, tuyệt đối không hoảng loạn. Do tính chất đặc biệt của tình trạng khẩn cấp lần này, toàn bộ chương trình phát thanh sẽ tạm ngừng cho đến bảy giờ sáng mai."
Tiếp theo đó là quốc ca vang lên, rồi không còn gì nữa. Nat tắt đài, nhìn vợ. Vợ cũng nhìn hắn.
"Thế là sao hả bố?" Jill hỏi. "Tin tức nói gì vậy?"
"Tối nay không có chương trình phát thanh nữa đâu," Nat nói. "Đài BBC tạm dừng rồi."
"Có phải tại lũ chim không?" Jill hỏi. "Chúng làm gì thế ạ?"
"Không phải," Nat nói. "Chỉ là mọi người đều đang bận, dĩ nhiên họ cũng phải xử lý lũ chim đang quấy rối thị trấn nữa. Không sao đâu, một đêm không nghe đài cũng chẳng chết ai."
"Giá mà có cái máy hát đĩa thì tốt," Jill nói. "Dù sao cũng đỡ hơn là im ắng thế này."
Con bé quay mặt về phía cái chạn bát đang chặn cửa sổ. Dù cố lờ đi những âm thanh bên ngoài, họ vẫn nghe thấy tiếng lũ chim cào kéo, mổ bập bập, cùng tiếng cánh không ngừng đập mạnh, quét sượt qua.
"Hôm nay ăn tối sớm đi," Nat đề nghị. "Ăn món gì ngon ngon ấy. Hỏi mẹ xem có phô mai nướng hay món gì cả nhà mình đều thích không."
Hắn nháy mắt gật đầu với vợ. Hắn mong nỗi sợ hãi và lo âu sẽ biến mất khỏi mặt Jill.
Trong lúc phụ nấu bữa tối, hắn huýt sáo, cất tiếng hát, cố ý nói cười thật to. Hắn cảm thấy tiếng cào kéo và đập cánh bên ngoài dường như không còn dữ dội như ban đầu. Hắn lên phòng ngủ tầng hai nghe ngóng, tiếng xô đẩy trên mái nhà cũng biến mất.
"Chúng cũng còn chút khôn ngoan," hắn nghĩ thầm. "Biết không xông vào được là bỏ đi nơi khác. Chúng sẽ không lãng phí thời gian dây dưa với mình."
Đúng lúc họ ăn xong bữa tối êm thấm và bắt đầu dọn dẹp, một âm thanh mới lại vọng tới, một tiếng vo ve quen thuộc mà ai cũng biết là gì.
Vợ hắn ngẩng lên nhìn hắn, nét mặt bỗng chốc rạng rỡ. "Máy bay," cô nói. "Họ cử máy bay tới rồi. Đấy, em đã bảo đó là việc họ phải làm mà. Thế là lũ chim sẽ bị khống chế thôi. Có tiếng súng không? Anh không nghe thấy à?"
Có thể là tiếng pháo từ ngoài biển. Nat không dám chắc. Pháo hải quân có thể xua đuổi mòng biển ngoài khơi, nhưng giờ chúng đã bay vào đất liền rồi. Sợ bắn trúng người nên pháo hải quân chẳng dám nã đạn vào bờ.
"Chuyện tốt mà, đúng không?" vợ hắn hỏi. "Nghe thấy tiếng máy bay là tốt rồi chứ gì?"
Jill thấy mẹ phấn chấn, liền cùng Johnny nhảy cẫng lên: "Máy bay sẽ bắt lũ chim. Máy bay sẽ bắn lũ chim."
Đúng lúc ấy, họ nghe thấy một tiếng ầm vang dội từ cách đó hai dặm, rồi tiếng thứ hai, thứ ba. Tiếng máy bay vo ve xa dần về phía biển.
"Tiếng gì thế?" vợ hắn hỏi. "Họ thả bom xuống đàn chim à?"
"Anh không biết," Nat đáp. "Chắc không phải đâu."
Hắn không muốn nói cho cô biết tiếng ầm ầm đó thực ra là máy bay rơi. Hắn tin chắc việc chính phủ cử máy bay trinh sát là một canh bạc liều mạng kiểu tự sát. Trước đàn chim lao thẳng vào cánh quạt và thân máy bay bất chấp cái chết, kết cục duy nhất của máy bay chỉ là rơi rụng. Hắn đoán khắp cả nước đều đang thử cách này và phải trả giá đắt. Mấy kẻ cấp cao đã bắt đầu cuống cuồng mất phương hướng.
"Máy bay đi đâu rồi hả bố?" Jill hỏi.
"Về căn cứ rồi," hắn nói. "Thôi, giờ đến lúc đi nằm rồi."
Thừa dịp vợ đang bận túi bụi cởi đồ và trải giường cho lũ trẻ trước lò sưởi, Nat kiểm tra lại toàn bộ căn nhà lần nữa để đảm bảo không sót chỗ nào. Giờ không còn nghe thấy tiếng máy bay và pháo hạm nữa. "Tốn công toi lại mất mạng," Nat lẩm bẩm một mình. "Làm thế giết được bao nhiêu con chứ. Cái giá quá đắt. Dùng hơi độc được mà. Có lẽ lát nữa họ sẽ phun hơi độc, phun khí mù tạc. Nếu thế, chắc chắn họ sẽ báo trước cho dân. Với lại, đêm nay những bộ óc ưu tú nhất nước chắc chắn đang ngồi lại tìm cách."
Nghĩ thế, trong lòng hắn bỗng thấy an ủi. Trong đầu hắn hiện lên hình ảnh các nhà khoa học, các nhà tự nhiên học, giới kỹ thuật và toàn bộ đội ngũ cố vấn hậu trường được triệu tập, nghĩ rằng giờ họ chắc chắn đang xử lý vấn đề. Chính phủ hay mấy ông chỉ huy làm sao giải quyết nổi việc này, họ sẽ làm theo lời các nhà khoa học thôi.
"Họ phải thật tàn nhẫn," hắn nghĩ. "Nếu dùng hơi độc, ở những vùng nghiêm trọng nhất sẽ phải hy sinh thêm nhiều sinh mạng. Còn ảnh hưởng đến gia súc, đất đai cũng sẽ bị nhiễm độc. Miễn là mọi người đừng hoảng loạn. Hoảng loạn mới sinh chuyện. Người ta dễ hoảng loạn, mất lý trí quá. Đài BBC cảnh báo trước là đúng."
Phòng ngủ trên lầu yên ắng, không còn nghe thấy tiếng cào cấu đập phá cửa sổ nữa. Tạm ngừng giao tranh, chấn chỉnh lại đội ngũ. Chẳng phải mấy tấm bảng tin thời chiến trước đây hay viết thế sao? Tuy nhiên gió vẫn chưa dịu đi. Hắn vẫn nghe thấy tiếng gió rít gầm trong ống khói. Sóng biển vẫn đập dữ dội vào bờ. Lúc này, hắn nhớ tới thủy triều. Thủy triều có lên có xuống, có lẽ đây mới chính là lý do trận chiến tạm ngừng. Đàn chim hẳn phải tuân theo một quy luật tự nhiên nào đó gắn liền với gió đông và con nước.
Hắn nhìn đồng hồ, gần tám giờ. Một tiếng trước chắc chắn là lúc triều dâng. Nghĩa là lũ chim tấn công theo con nước lớn. Ở vùng nội địa phía bắc thì có thể không phải, nhưng ven biển thì dường như đúng là vậy. Trong đầu hắn nhẩm tính đợt triều tiếp theo, còn sáu tiếng nữa, trước lúc đó lũ chim sẽ không tấn công. Phải đến khoảng một giờ hai mươi phút sáng triều mới dâng trở lại, lúc ấy đàn chim mới có thể tấn công lần nữa...
Hắn có hai lựa chọn. Một là đi nghỉ cùng vợ con, cố ngủ một chút trước khi lũ chim ập tới lần nữa; hai là ra ngoài xem tình hình bên nông trang thế nào, xem điện thoại bên đó còn dùng được không, biết đâu qua tổng đài lại dò được chút tin tức.
Hắn gọi khẽ người vợ vừa dỗ lũ trẻ ngủ xong. Cô bước lên cầu thang, hắn nói nhỏ ý định của mình cho cô nghe.
"Đừng đi," cô nói ngay. "Đừng bỏ em với các con lại đây một mình. Em chịu không nổi đâu."
Giọng cô cao lên, có phần cuống cuồng mất bình tĩnh. Hắn vội vỗ về, bảo cô nói nhỏ lại.
"Được rồi," hắn nói. "Được rồi. Anh sẽ ở nhà đến sáng. Bảy giờ sáng đài cũng phát lại. Nhưng sáng mai lúc triều rút, anh vẫn phải sang nông trang một chuyến, biết đâu lúc đó họ cho mình ít bánh mì với khoai tây, cả sữa nữa."
Hắn lại bắt đầu tính toán nhanh trong đầu, lên kế hoạch ứng phó tình huống bất ngờ. Tối nay chắc chắn chủ nông trang chưa vắt sữa bò. Đàn bò hẳn đang đứng đợi bên cổng ngoài sân, còn ông ta thì cũng giống như nhà hắn, đang lo đóng ván nẹp cửa.
Với điều kiện là họ có thời gian làm mấy việc phòng vệ đó. Hắn nhớ lại nụ cười của Harry Trigg từ trên xe nhìn hắn. Tối nay chắc họ chẳng đi bắn chim đâu.
Lũ trẻ đã ngủ say. Vợ hắn vẫn mặc nguyên quần áo ngồi trên đệm. Cô nhìn hắn, trong mắt đầy căng thẳng.
"Anh định làm gì?" cô hỏi khẽ.
Hắn lắc đầu không nói, rón rén hé cửa sau nhìn ra ngoài.
Tối đen như mực. Gió chưa bao giờ mạnh như lúc này, từng cơn lạnh buốt từ biển thổi thốc vào. Hắn dằn bước bước ra ngoài. Dưới bậu cửa sổ, cạnh chân tường, xác chim chất đống khắp nơi. Lũ chim này đã lao đầu xuống tự sát, gãy cả cổ. Khắp nơi toàn là chim chết, không một con nào còn sống. Lũ chim sống sót đã bay ra biển khi triều rút. Giờ này chắc mòng biển đang cưỡi trên đầu sóng, như hồi đầu ngày.
Đằng xa, trên ngọn đồi nơi máy cày vừa chạy qua hai ngày trước, có thứ gì đó đang bốc cháy. Đó là ngọn lửa từ chiếc máy bay rơi, nương theo chiều gió lan ra, bén vào đống cỏ khô.
Hắn nhìn đống xác chim, chợt nghĩ nếu xếp chúng chồng lên nhau trên bậu cửa sổ, có thể tạo thành một lớp rào chắn phụ để chống đỡ đợt tấn công tiếp theo. Có lẽ chẳng tác dụng mấy, nhưng có còn hơn không. Làm vậy, lũ chim muốn bám vào bậu cửa, tấn công mặt kính thì buộc phải cào, mổ, kéo đống xác này ra trước. Hắn bắt đầu cặm cụi trong bóng tối. Cảm giác này thật kỳ quặc. Hắn kinh tởm khi chạm vào những cái xác còn ấm, máu me be bét. Máu dính bẩn lông vũ của chúng. Hắn thấy lợm giọng buồn nôn, nhưng tay không dừng lại. Hắn kinh hãi nhận ra kính của mọi ô cửa sổ đều đã vỡ vụn, nếu không có nẹp gỗ thì lũ chim đã tràn vào từ lâu. Hắn dùng những cái xác đẫm máu trám kín các lỗ hổng trên mặt kính.
Xong xuôi mọi việc, hắn quay vào nhà, dùng gỗ nẹp luôn cả cửa bếp cho thêm phần yên tâm. Băng gạc trên tay dính đầy máu, không phải máu của hắn mà là máu chim, hắn tháo ra thay miếng mới.
Vợ pha cho hắn một cốc ca cao nóng, hắn uống một hơi cạn sạch. Hắn kiệt sức rồi.
"Xong rồi," hắn cười nói. "Đừng lo nữa, nhà mình sẽ qua được thôi."
Hắn nằm xuống, nhắm mắt lại và thiếp đi ngay tức khắc. Hắn ngủ không yên, mơ thấy mình bỏ sót một hai chỗ, quên gia cố những vị trí đáng ra phải làm, quên mất những biện pháp mà rõ ràng mình thừa biết, nhưng trong mơ nghĩ mãi không ra là cái gì. Giấc mơ dính dáng đến ngọn lửa máy bay cháy và đống cỏ khô trên đồi bên kia. Nhưng hắn vẫn tiếp tục ngủ, không tỉnh dậy. Cuối cùng, người lay hắn dậy là vợ.
"Bắt đầu rồi," cô sụt sùi. "Bắt đầu từ một tiếng trước rồi, em nghe một mình sợ quá. Mà có mùi gì kinh lắm, cái gì đó đang cháy."
Hắn nhớ ra rồi, hắn quên tiếp củi vào lò. Lửa lò sưởi gần như đã tàn, chỉ còn khói đen. Hắn bật dậy thật nhanh, thắp đèn lên. Tiếng đập thình thình lại vang lên nơi cửa đi và cửa sổ, nhưng đó chưa phải điều hắn lo nhất lúc này, điều hắn lo nhất là mùi lông vũ khét lẹt đang ngập tràn gian bếp. Hắn hiểu ngay chuyện gì đang xảy ra. Lũ chim đã chui xuống ống khói, định theo đường ống khói lao thẳng vào bếp.
Hắn nhét giấy và cành khô vào đống tro, rồi vội vã đi tìm dầu hỏa.
"Lùi lại!" hắn hét lên với vợ. "Phải liều một phen thôi."
Hắn hắt dầu hỏa vào ngọn lửa, ngọn lửa bùng vụt lên, sặc vào đường ống khói, ngay lập tức những xác chim cháy đen thui rớt lộp bộp xuống đống lửa.
Lũ trẻ tỉnh giấc, òa khóc. "Cái gì thế ạ?" Jill hỏi. "Có chuyện gì vậy bố?"
Nat không còn thời gian trả lời. Hắn đang cào đống xác chim trong ống khói ra, hất xuống sàn. Lửa vẫn đang bốc cao, hắn buộc phải đánh cược với nguy cơ cháy ống khói để ngọn lửa đuổi những con chim còn sống ở phần trên ống khói đi. Nhưng rắc rối nằm ở phần dưới ống khói, nơi đó kẹt cứng những con chim bị lửa thiêu rụi, không lối thoát. Hắn gần như không còn tâm trí đâu để ý đến lũ chim đang cố phá cửa sổ và cửa ra vào: cứ để chúng gãy cánh gãy mỏ chết trong từng đợt va đập đi, chúng không vào được đâu. Hắn cảm tạ trời đất vì mình có được một căn nhà gỗ cũ với những bức tường kiên cố và cửa sổ nhỏ hẹp, chứ không phải mấy khu nhà ở xã hội mới xây. Những người sống trong mấy khu nhà rẻ tiền đó, chỉ có Chúa mới phù hộ nổi cho họ thôi.
"Đừng khóc nữa!" hắn hét lên với lũ trẻ. "Không có gì phải sợ đâu. Đừng khóc!"
Hắn tiếp tục cào những cái xác cháy đen rơi trên đống lửa ra ngoài.
"Làm thế này là tóm gọn được chúng," hắn lẩm bẩm một mình. "Có gió, lại có lửa. Không sao đâu, miễn là ống khói không bén lửa. Lẽ ra mình phải để ý chỗ này sớm hơn, lỗi tại mình cả, mình phải nhớ tiếp củi chứ. Rõ ràng mình biết chỗ này sẽ có chuyện mà."
Giữa những tiếng cào cấu và xé rách vang lên trên thanh nẹp cửa sổ, đồng hồ trong bếp điểm chuông. Ba giờ sáng. Còn hơn bốn tiếng nữa triều mới rút. Hắn không chắc chắn giờ nước lớn chính xác, nhưng đoán chừng trước bảy giờ rưỡi nước chưa rút đâu, có khi phải tầm bảy giờ bốn mươi.
"Thắp đèn dầu lên," hắn bảo vợ. "Pha ít trà đi, pha cho bọn trẻ cốc ca cao nữa. Ngồi không cũng chẳng giải quyết được gì."
Phải để vợ con có việc mà làm. Đi lại loanh quanh, ăn chút gì, uống chút gì, cứ bận rộn là tốt nhất.
Hắn đứng chờ bên mép lò sưởi. Lửa sắp tàn, nhưng không còn xác chim cháy xém nào rơi xuống nữa. Đã sạch rồi. Lũ chim trong ống khói đã bị dọn sạch. Hắn quệt mồ hôi trán.
"Jill, lại đây," hắn nói. "Lấy thêm cho bố ít cành cây khô. Mình đốt lửa cho thật to." Nhưng con bé không chịu lại gần hắn. Nó đang trố mắt nhìn đống xác chim cháy thui thủi.
"Kệ chúng nó," hắn nói. "Đợi bố nhóm lửa lên rồi mình dọn chúng ra hành lang."
Mối nguy từ ống khói đã được giải quyết. Chỉ cần lửa cháy liên tục ngày đêm, nguy cơ này sẽ không tái diễn.
"Ngày mai phải sang nông trang vác thêm ít chất đốt về," hắn nghĩ thầm.
"Chỗ này chắc chắn không đủ. Nhưng mình sẽ xoay xở được. Đợi triều rút mình sẽ ra ngoài giải quyết xong xuôi mọi chuyện. Không sao hết, đợi triều rút, mình sẽ đi lấy hết những thứ cần thiết về. Cả nhà chỉ cần giữ vững tinh thần là được. Thế thôi."
Họ uống trà và ca cao, ăn một ít bánh mì chan nước sốt thịt. Nat nhận ra chỉ còn lại nửa ổ bánh mì, hắn nghĩ thầm, không sao, vẫn chịu đựng được.
"Dừng lại mau," bé Johnny cầm thìa chỉ vào cửa sổ nói. "Dừng lại mau, đồ chim xấu xa."
"Đúng rồi," Nat cười nói. "Nhà mình không thèm mấy đứa xấu tính đó đâu nhỉ? Phát ngán với chúng nó rồi."
Nghe thấy tiếng những con chim lao đầu tự sát đập mạnh xuống đất, cả nhà reo lên.
"Bố ơi, lại một con nữa," Jill hét lên. "Nó toi rồi."
"Nó chết chắc rồi," Nat nói. "Đáng đời, đồ quái gở."
Phải đối mặt với vấn đề bằng cách này, bằng tinh thần này. Nếu có thể duy trì trạng thái này đến bảy giờ lúc đài phát thanh mở lại, tình cảnh của họ sẽ không đến nỗi quá tệ.
"Hút điếu thuốc đi," hắn bảo vợ. "Mùi khói thuốc sẽ át bớt mùi lông chim cháy."
"Chỉ còn hai điếu thôi," cô nói. "Em định bụng sang hợp tác xã mua thêm cho anh đấy chứ."
"Thế anh hút một điếu," hắn nói. "Chừa lại một điếu phòng khi cần kíp."
Bây giờ bảo lũ trẻ đi ngủ cũng chẳng ích gì. Giữa những tiếng cào cấu đập phá cửa sổ ầm ầm thế này thì ngủ làm sao được. Cả nhà trùm chăn ngồi trên đệm. Nat một tay ôm vợ, một tay ôm Jill, Johnny ngồi trên đùi mẹ.
"Phải công nhận là lũ này cũng đáng nể thật," hắn nói. "Chúng kiên trì ghê gớm. Cứ tưởng chúng sẽ chán trò này sớm muộn gì đó, nhưng không hề."
Thế nhưng lòng khâm phục tan biến rất nhanh. Bên ngoài cửa sổ tiếng đập cánh vẫn không ngừng vang lên, rồi một âm thanh sắc nhọn chưa từng nghe trước đó đâm xuyên vào tai Nat, như thể có một con chim với chiếc mỏ sắc bén hơn nhiều bắt đầu ra đòn tấn công. Hắn cố nhớ lại tên các loài chim, tự hỏi rốt cuộc đó là loài nào. Nghe không giống tiếng chim gõ kiến, nếu là gõ kiến thì tiếng sẽ nhẹ hơn và dồn dập hơn. Tình hình lúc này hẳn nghiêm trọng hơn nhiều. Nếu con chim này cứ tiếp tục tấn công, nẹp gỗ cũng sẽ nứt toác như kính vỡ. Đúng lúc này hắn nhớ đến chim ưng. Có phải lũ chim ưng đã thế chỗ mòng biển để tấn công không? Giờ đây trên bậu cửa sổ có phải lũ ó bẫy chuột đang dùng cả mỏ lẫn móng vuốt để phá không? Đại bàng, ó bẫy chuột, cắt lưng hung, chim ưng — hắn đã bỏ sót lũ chim săn mồi, bỏ sót móng vuốt của những loài ăn thịt hung dữ này. Còn ba tiếng nữa. Họ ngồi chờ đợi, cùng lúc đó tiếng móng vuốt xé toạc thanh gỗ rách toạc vang lên.
Nat đảo mắt nhìn quanh, xem có món đồ đạc nào chịu được hỏng hóc để đem ra chặn cửa. Chỗ cửa sổ đã có cái chạn bát nên an toàn rồi, nhưng hắn không dám chắc cánh cửa đi cũng an toàn. Hắn bước lên lầu, lên đến tầng hai thì dừng lại nín thở lắng nghe. Trên sàn phòng ngủ của lũ trẻ có tiếng đập cánh nhè nhẹ, đàn chim đã xông vào... Hắn áp tai vào cửa nghe. Đúng rồi. Hắn có thể nghe thấy tiếng cánh xào xạc, cả tiếng chân chim lạch cạch bước trên sàn. Phòng ngủ bên kia tạm thời chưa sao. Hắn bước vào, bắt đầu khiêng đồ đạc ra ngoài, chất đống ở hành lang trước phòng ngủ của lũ trẻ để phòng khi cửa phòng bị phá. Đây là phòng xa, có thể không dùng tới. Hắn không thể lấy đồ chặn cửa, vì cửa mở vào trong. Cách duy nhất là chất đống ngoài hành lang.
"Xuống đi, Nat. Anh làm gì trên đấy thế?" vợ hắn gọi với lên.
"Xong ngay đây," hắn đáp lớn. "Anh dọn dẹp xong là xuống liền."
Hắn không muốn cô đi lên, không muốn cô nghe thấy tiếng bước chân và tiếng lông vũ cọ vào cửa trong phòng lũ trẻ.
Đến năm giờ rưỡi, hắn đề nghị ăn sáng bằng thịt xông khói với bánh mì chiên, mong sao việc này xua bớt nỗi kinh hoàng trong mắt vợ, giúp lũ trẻ đang thấp thỏm được thả lỏng. Cô không biết trên lầu đã có chim lọt vào. Cũng may phòng ngủ không nằm ngay phía trên bếp, nếu không cô chắc chắn đã nghe thấy động tĩnh trên lầu: đàn chim đang đập vào thanh gỗ. Lũ chim mù quáng lao đầu tự sát đâm sầm xuống đất, lại có những con như đội cảm tử lao đầu vào tường nát vụn thân xác. Hắn rất hiểu loài mòng biển bạc, chúng không có não, nhưng mòng biển lưng đen thì khác, chúng biết rõ mình đang làm gì, tương tự là lũ ó, lũ chim ưng...
Hắn nhận ra mình đang nhìn chằm chằm vào mặt đồng hồ, dán mắt vào những chiếc kim nhích đi chậm chạp đến nghẹt thở. Nếu suy đoán của hắn không đúng, nếu lúc triều rút đàn chim không ngừng tấn công, hắn biết cả nhà sẽ cầm chắc cái chết. Không dưỡng khí, không giấc ngủ, không chất đốt, không có... Họ không thể chống đỡ nổi. Đầu óc hắn quay cuồng. Hắn biết muốn cầm cự cuộc bao vây này cần rất nhiều thứ, nhưng họ không chuẩn bị đầy đủ, không thể chống đỡ nổi. Có lẽ ở thị trấn vẫn an toàn hơn. Nếu hắn có thể sang bốt điện thoại nông trang gọi cho người anh họ, chỉ cần bắt chuyến tàu chạy về phía bắc, chẳng mấy chốc họ sẽ thuê được một chiếc xe. Làm cách đó sẽ nhanh hơn một chút, thuê được xe trước đợt triều cường tiếp theo...
Tiếng vợ gọi xua tan cơn buồn ngủ ập đến bất ngờ như sóng cuộn trong hắn.
"Sao thế? Tình hình thế nào rồi?" hắn sốt sắng hỏi.
"Đài phát thanh," vợ hắn nói. "Em cứ nhìn đồng hồ suốt, sắp bảy giờ rồi."
"Đừng đổi kênh," lần đầu tiên hắn tỏ ra mất kiên nhẫn. "Bây giờ là kênh của Bộ Nội vụ rồi. Họ sẽ phát thông báo từ Bộ Nội vụ."
Họ chờ đợi. Đồng hồ trong bếp chỉ đúng bảy giờ. Chiếc máy thu thanh câm bặt. Không tiếng điểm giờ, không có âm nhạc. Họ đợi mười lăm phút rồi chuyển sang Kênh Giải trí Nhẹ. Cũng y như vậy. Không có tin tức.
"Mình nghe nhầm rồi," hắn nói. "Chắc phải đến tám giờ mới phát."
Họ cứ để đài mở mà chờ. Nat nghĩ đến cục ắc quy, không biết còn cầm cự được bao lâu. Thường thì vợ hắn đi mua sắm ở thị trấn sẽ mang ắc quy đi sạc. Nếu hết điện, họ sẽ không nghe được chỉ dẫn từ đài phát thanh nữa.
"Trời sắp sáng rồi," vợ hắn nói khẽ. "Em không nhìn thấy, nhưng cảm nhận được. Giờ lũ chim đập cũng không mạnh bằng lúc trước nữa."
Cô nói đúng. Tiếng cào cấu, xé rách yếu dần đi, tiếng cọ quẹt, xô đẩy tranh chỗ trên bậc thềm và bậu cửa sổ bên ngoài cũng lắng dần xuống. Triều đã rút. Đến tám giờ, ngoài tiếng gió rít ra thì chẳng còn nghe thấy gì nữa. Lũ trẻ cuối cùng cũng chìm vào giấc ngủ giữa sự tĩnh lặng. Tám giờ rưỡi, Nat tắt máy thu thanh.
"Anh làm gì thế? Lỡ mất tin tức bây giờ," vợ hắn nói.
"Sẽ không có tin tức nào nữa đâu," Nat nói. "Chúng ta phải tự dựa vào mình thôi."
Hắn bước lại gần cửa, từ từ gỡ bỏ chướng ngại vật chắn trên cửa, vặn tay nắm, đá văng đống xác chim trên bậc thềm ngoài cửa rồi bước ra. Gió lạnh thấu xương. Giờ hắn có sáu tiếng đồng hồ, hắn biết phải giữ sức để làm những việc cần làm, không được lãng phí thời gian. Thức ăn, đèn thắp, chất đốt, đó đều là những thứ thiết yếu. Nếu gom đủ, đêm nay sẽ cầm cự được.
Hắn bước vào sân, trông thấy những con chim còn sống. Mòng biển lại túa ra biển như trước. Chúng tranh thủ kiếm ăn trước khi mở đợt tấn công mới. Lũ chim trên bờ thì không thế, chúng đang chờ đợi, đang rình xem. Nat nhìn thấy chúng rồi, từng hàng từng hàng đậu trên bờ giậu, trên mặt đất, trên cành cây, ngoài cánh đồng, lặng lẽ bất động, không làm gì cả.
Hắn bước đến cuối khoảng sân nhỏ. Đàn chim không hề nhúc nhích, tiếp tục dán mắt nhìn hắn.
"Mình phải đi kiếm chút đồ ăn," Nat tự nhủ. "Sang nông trang đằng kia kiếm ít thức ăn."
Hắn quay vào nhà, bắt đầu kiểm tra cửa sổ và cửa ra vào. Hắn lên lầu mở cửa phòng ngủ của lũ trẻ, bên trong chỉ còn xác chim chết, những con còn sống đã bay ra sân và đồng ruộng. Hắn đi xuống lầu.
"Anh sang nông trang đây," hắn nói.
Vợ nắm chặt lấy tay hắn. Qua cánh cửa mở toang, cô đã nhìn thấy những con chim còn sống.
"Cho mẹ con em đi cùng với," cô van nài. "Mẹ con em không thể ở lại đây một mình được. Thà chết chứ em không ở lại một mình đâu."
Hắn ngẫm nghĩ một lát rồi gật đầu.
"Vậy thì cùng đi," hắn nói. "Mang theo giỏ với xe đẩy của Johnny. Mình có thể chất đồ vào xe đẩy."
Họ mặc những bộ quần áo đủ sức chống chọi cơn gió lạnh buốt xương, đeo găng tay và quàng khăn. Người vợ đặt Johnny vào xe đẩy. Nat dắt tay Jill.
Con bé thì thào: "Lũ chim đều ở ngoài đồng kìa bố."
"Chúng không làm hại mình đâu," hắn nói. "Ban ngày thì không."
Họ băng qua sân, bước về phía bậc thềm, đàn chim không hề nhúc nhích. Chúng đón đầu ngọn gió, đứng chờ.
Rẽ qua khúc quanh đến nông trang, Nat dừng lại bảo vợ dắt hai đứa nhỏ nấp tạm trong bụi cây ven bờ giậu đợi hắn.
"Nhưng em muốn gặp bà Trigg," cô phản đối. "Nếu hôm qua họ đi chợ thì mình có thể mượn được bao nhiêu thứ, không chỉ bánh mì mà còn..."
"Đợi ở đây," Nat ngắt lời cô. "Anh về ngay."
Đàn bò sữa trong sân bồn chồn đi lại, rống lên từng hồi. Nat thấy bờ rào có một lỗ thủng, lũ cừu đã húc đổ rào, lọt vào khoảng sân trước nhà nông trang đi lại vơ vẩn. Ống khói không có khói bốc lên. Lòng hắn trĩu nặng âu lo, nên hắn không muốn vợ con bước chân vào nông trang.
"Đừng có chần chừ nữa," Nat gắt gỏng. "Làm theo lời anh đi."
Cô kéo chiếc xe đẩy nấp vào rặng cây. Bờ giậu che chắn gió cho cô và lũ trẻ.
Hắn một mình bước về phía nông trang. Bầu vú đàn bò sữa căng tức, chúng bực bội rống khẽ, đi quanh quẩn hết chỗ này đến chỗ khác. Nat len qua đàn bò. Hắn thấy chiếc xe hơi không đỗ trong nhà xe mà dừng ngay cạnh cổng lớn. Cửa sổ nhà nông trang đã vỡ nát. Quanh sân và quanh nhà rải rác xác mòng biển. Lũ chim còn sống đậu trên mái nhà, trong lùm cây phía sau nông trang, lặng ngắt như tờ, trừng trừng nhìn hắn.
