Chương 2
Chương 2: Đàn chim 2
Đăng ngày 06/10/2026
19
Dưới đất là xác của Jim... đúng hơn là phần còn lại của cái xác. Bầy chim đã rỉa, rồi đàn bò giẫm qua. Khẩu súng của anh ta rơi ngay bên cạnh. Cửa nhà khóa chặt, nhưng cửa sổ đã vỡ, lũ chim chui vào rất dễ dàng. Xác của Harry Trigg nằm gục bên cạnh máy điện thoại. Chắc hẳn lúc đó ông ta đang cố gọi cho tổng đài, nhưng bầy chim đã lao vào. Ống nghe bị giật tung, máy điện thoại trên tường cũng vỡ nát. Không thấy bà Trigg đâu. Chắc bà ấy ở trên lầu. Có nên lên xem không? Nat thấy buồn nôn, hắn biết mình sẽ phải chứng kiến cảnh tượng gì.
"Tạ ơn trời đất," hắn tự nhủ, "không có đứa trẻ nào."
Hắn gượng bước lên lầu, nhưng mới được nửa đường đã quay xuống. Hắn thấy đôi chân của bà thò ra từ cánh cửa phòng đang mở, bên cạnh là xác mấy con mòng biển lưng đen và một chiếc ô gãy.
"Giờ thì chẳng cứu vãn được gì nữa," Nat nghĩ, "chỉ còn chưa đầy năm tiếng đồng hồ. Vợ chồng Harry Trigg sẽ thông cảm cho mình thôi. Mình phải lấy tất cả những gì tìm được."
Hắn lê bước nặng nề trở lại chỗ vợ con.
"Anh sẽ chất đầy đồ lên chiếc xe này," hắn nói, "chất than củi với dầu hỏa. Mình chở một chuyến về nhà trước, rồi quay lại chở thêm chuyến nữa."
"Vợ chồng ông bà Trigg sao rồi anh?" vợ hắn hỏi.
"Chắc họ sang nhà bạn rồi," hắn đáp.
"Em vào phụ anh một tay nhé?"
"Thôi. Trong đó lộn xộn lắm. Bò cừu chạy tán loạn khắp nơi. Chờ một chút, anh lái xe qua rồi em vào ngồi."
Hắn lúng túng lùi chiếc xe từ trong sân ra lối đi nhỏ. Chỗ này không nhìn thấy xác của Jim.
"Cứ ở yên đây," hắn dặn, "khoan hẵng bận tâm đến xe đẩy em bé, lát nữa mình quay lại lấy sau. Giờ anh chất đồ lên trước."
Mắt vợ nhìn chằm chằm vào hắn. Hắn tin cô đã hiểu chuyện gì xảy ra, nếu không cô đã nhất quyết đòi vào phụ tìm bánh mì và đồ dùng rồi.
Họ đi đi về về giữa nhà và trang trại tổng cộng ba chuyến, cuối cùng cũng gom đủ đồ thiết yếu. Hắn ngạc nhiên vì hóa ra lại cần nhiều đến thế. Quan trọng nhất là các thanh gỗ dùng để gia cố cửa sổ. Hắn sục sạo khắp nơi tìm gỗ vụn, định đóng kín lại toàn bộ cửa sổ căn nhà gỗ của mình. Nến, dầu hỏa, đinh, đồ hộp, những thứ cần dùng dường như vô tận... Ngoài ra, hắn còn vắt sữa cho ba con bò, mấy con khốn khổ còn lại chỉ biết gầm gừ vì căng sữa.
Đến chuyến cuối cùng, hắn lái xe tới ga xép, bước xuống và đi về phía bốt điện thoại. Hắn liên tục nhấc ống nghe lên rồi dập xuống, chờ vài phút, vẫn không có tín hiệu. Đường dây đã đứt. Hắn trèo lên bờ đê nhìn quanh quất, nhưng xung quanh chết chóc đến rợn người. Cánh đồng trống trơn, chỉ có bầy chim đang đậu đó quan sát và chờ đợi. Vài con trong số chúng đang ngủ, rúc mỏ sâu vào lớp lông vũ.
"Nhìn thế này cứ tưởng chúng đang kiếm ăn," hắn lẩm bẩm một mình, "hóa ra chỉ đứng trơ ra đó."
Rồi hắn sực nhớ ra. Chúng đã no nê rồi. Đêm qua chúng vừa ngấu nghiến một bữa thừa mứa, hèn chi sáng nay mới bất động như vậy...
Ống khói của dãy nhà ở xã hội cũng không thấy khói bốc lên. Hắn nhớ lại những đứa trẻ chạy băng qua cánh đồng hôm qua.
"Lẽ ra mình phải nhận ra sớm hơn," hắn nghĩ, "lẽ ra mình nên dắt chúng về nhà cùng."
Hắn ngửa mặt nhìn lên trời. Bầu trời xám xịt, ảm đạm. Những thân cây trơ trụi như bị gió đông uốn còng lưng, phủ một màu đen sì. Cái rét cắt da cắt thịt chẳng hề ảnh hưởng đến bầy chim, chúng vẫn kiên nhẫn đợi trên cánh đồng.
"Lẽ ra họ phải tấn công bầy chim vào lúc này," Nat nói, "bây giờ chúng chỉ là những cái bia sống. Họ phải hành động trên quy mô cả nước. Sao máy bay không cất cánh ngay lúc này rồi phun khí mù tạt xuống? Mấy gã đó đang làm cái quái gì vậy? Họ phải biết chuyện này chứ, họ phải tận mắt nhìn thấy mới được."
Hắn trở lại xe, ngồi vào ghế lái.
"Lái nhanh qua cánh cổng thứ hai đi anh," người vợ thì thầm, "người đưa thư ngã gục đằng kia kìa. Em không muốn cho Jill nhìn thấy."
Hắn bắt đầu tăng ga. Chiếc xe Morris nhỏ bé nảy chồm chồm trên con đường mòn, phát ra những tiếng cọt kẹt, lũ trẻ cười phá lên.
"Lên rồi lại xuống, lên rồi lại xuống!" Johnny reo to.
Về đến căn nhà gỗ thì đã mười hai giờ bốn mươi lăm phút. Chỉ còn đúng một tiếng nữa.
"Anh ăn đồ nguội là được," Nat nói, "em hâm chút súp cho em với mấy đứa nhỏ đi. Anh không kịp ăn đâu. Phải dỡ đồ xuống xe ngay."
Hắn khuân toàn bộ đồ đạc vào trong nhà gỗ. Để lát nữa rồi phân loại sau, như vậy suốt đêm dài họ sẽ có việc để làm cho đỡ sốt ruột. Bây giờ hắn phải đi kiểm tra cửa lớn và cửa sổ.
Hắn đi một lượt quanh nhà, kiểm tra từng cánh cửa. Hắn còn trèo lên mái, dùng ván gỗ bịt kín tất cả các ống khói, chỉ chừa lại ống khói phòng bếp. Cái lạnh thấu xương khiến hắn gần như không chịu nổi, nhưng vẫn phải cắn răng làm. Thỉnh thoảng hắn lại ngước nhìn bầu trời tìm bóng dáng máy bay, nhưng tuyệt nhiên không thấy gì. Hắn vừa cặm cụi làm vừa nguyền rủa sự bất lực của chính quyền.
"Lúc nào cũng thế," hắn càu nhàu, "lúc nào cũng làm người ta thất vọng. Ngay từ đầu đã rối như canh hẹ, không kế hoạch, chẳng có tổ chức ra hồn gì cả. Họ chỉ coi mạng dân quê như cỏ rác, người thành phố mới có đặc quyền. Chắc chắn họ đã điều máy bay phun khí độc ở các thành phố rồi. Còn cái đám như tụi mình thì chỉ biết nằm chờ chết."
Hắn dừng tay. Ống khói phòng ngủ đã được bịt kín. Hắn nhìn ra phía biển. Ngoài kia có thứ gì đó đang chuyển động. Giữa những ngọn sóng thấp thoáng những đốm trắng xám.
"Là hải quân," hắn lẩm bẩm, "họ chưa bao giờ khiến mình thất vọng. Họ đang tiến vào từ eo biển, vòng qua vịnh rồi."
Hắn hướng mắt ra biển chờ đợi, gió tạt vào mắt cay xè làm nước mắt ứa ra. Nhưng hắn đã nhầm, đó không phải tàu bè, hải quân chẳng hề tới. Đó là bầy mòng biển đang bay vút lên từ mặt biển. Từng đàn chim ken dày đặc trên cánh đồng, lông dựng ngược, con nọ sát con kia xếp thành từng khối vuông vức, đồng loạt lao vút lên không trung, rợp kín cả bầu trời.
Thủy triều lại lên.
Nat tụt xuống thang, bước vào bếp. Vợ con hắn đang ăn bữa trưa muộn. Mới hơn hai giờ một chút. Hắn cài then cửa, chèn thêm một lớp chắn bên ngoài rồi thắp đèn lên.
"Trời tối rồi," Johnny nói.
Người vợ lại bật đài radio, nhưng bên trong vẫn chỉ là sự im lặng tuyệt đối.
"Em dò hết tất cả các kênh rồi," cô nói, "cả các đài nước ngoài nữa, chẳng có gì hết."
"Có khi họ cũng gặp rắc rối tương tự," hắn nói, "có khi cả châu Âu đều bị như thế này."
Cô múc một đĩa đầy súp lấy từ nhà Trigg, cắt cho hắn một lát bánh mì dày cộp của họ, rồi quết lên đó lớp nước sốt thịt cũng mang về từ nơi ấy.
Họ ăn trong lặng lẽ. Một giọt nước sốt chảy dọc theo cằm Johnny, rơi xuống mặt bàn.
"Hư quá, Johnny," Jill nói, "em phải học cách tự lau miệng đi chứ."
Tiếng đập cánh bắt đầu rộ lên ngoài cửa sổ, ngoài cửa lớn. Tiếng sột soạt, tiếng chen lấn giành chỗ trên bậu cửa sổ, tiếng mòng biển lao đầu tự sát vào bậc thềm lại bắt đầu vang lên.
"Nước Mỹ không làm gì sao anh?" người vợ hỏi, "Họ luôn là đồng minh của chúng ta mà, phải không? Người Mỹ chắc chắn sẽ không khoanh tay đứng nhìn đâu nhỉ?"
Nat không trả lời. Những tấm ván trên cửa sổ rất chắc chắn, trên ống khói cũng vậy. Trong căn nhà gỗ dự trữ đầy ắp đồ, có nhiên liệu, có tất cả mọi thứ họ cần cho những ngày tới. Ăn xong, hắn sẽ sắp xếp đồ đạc lại cho gọn gàng, phân loại ra để tiện lấy. Vợ và các con có thể phụ giúp một tay. Cứ thế, trước khi thủy triều rút vào lúc tám giờ bốn mươi lăm phút tối, họ sẽ phải chật vật đối phó với bầy chim. Sau đó, trước ba giờ sáng, vợ con hắn có thể ngủ một giấc ngon lành.
Hắn nảy ra một sáng kiến mới: đóng thêm dây thép gai lên các thanh ván gia cố cửa sổ. Hắn có mang về một cuộn lớn từ trang trại. Nhưng phiền nỗi là hắn sẽ phải làm việc này trong bóng tối, tranh thủ khoảng thời gian lũ chim đình chiến từ chín giờ tối đến ba giờ sáng. Giá mà nghĩ ra cách này sớm hơn. Dù sao thì, chỉ cần vợ con ngủ ngon giấc là hắn đã thấy an ủi lắm rồi.
Lúc này bám trên cửa sổ là lũ chim nhỏ. Hắn nhận ra điều đó nhờ những tiếng gõ lách cách của mỏ chim và tiếng cánh cọ xát vào mặt kính. Lũ ó thì phớt lờ cửa sổ, chúng tập trung tấn công cánh cửa lớn. Nat lắng nghe tiếng gỗ bị xé toạc, tự hỏi không biết trong những cái đầu bé tí teo, nơi những chiếc mỏ sắc nhọn và dưới ánh mắt sắc lẹm kia rốt cuộc đã tích tụ ký ức của bao nhiêu triệu năm, mới tạo nên được thứ bản năng hủy diệt loài người với độ chuẩn xác và khéo léo như một cỗ máy thế này.
"Anh sẽ hút nốt điếu thuốc cuối cùng," hắn nói với vợ, "ngu thật, anh quên bẵng mất việc lấy ít thuốc lá từ trang trại về."
Hắn với tay lấy điếu thuốc, tiện tay bật chiếc đài radio câm lặng. Hắn ném bao thuốc rỗng vào ngọn lửa, nhìn nó cháy rụi.
