Chương 3
Chương 3: Núi Chân Lý
Đăng ngày 06/10/2026
19
Sau đó, họ nói với tôi rằng chẳng tìm thấy gì cả, sống không thấy người, chết không thấy xác. Họ phát điên lên vì phẫn nộ, và tôi tin là cả vì sợ hãi, cuối cùng xông vào vách đá chưa từng có ai đặt chân tới. Thế nhưng, nghênh đón họ phía sau vách đá đã cách biệt với nhân gian vô số năm tháng ấy, chỉ có một mảnh tĩnh mịch chết chóc. Nhà cửa trống trơn, đất bằng không một ngọn cỏ. Đối mặt với cảnh tượng ấy, họ chán nản, hoang mang, sợ hãi rồi phát cuồng. Thế là, những người đến từ thung lũng đã kết liễu nơi này bằng phương thức nguyên thủy nhất mà biết bao nông dân hàng trăm năm qua từng dùng: phóng hỏa, biến tất cả thành tro bụi.
Tôi nghĩ, đó là cách giải quyết duy nhất của họ khi đối diện với những điều chưa biết. Về sau, khi cơn giận tan biến, hẳn họ sẽ hiểu ra rằng thực chất chẳng có gì bị hủy diệt. Dưới bầu trời sao lạnh lẽo lúc rạng đông, vách đá cháy đen trong mắt họ rốt cuộc vẫn lừa dối họ.
Dĩ nhiên, đội cứu hộ cũng đã vào núi. Trong số họ có những tay leo núi lão luyện, chẳng hề sợ hãi những tảng đá trần trụi nơi đỉnh cao, nhưng họ lùng sục khắp các sống núi, từ bắc sang nam, từ đông sang tây, vẫn chẳng thu được gì.
Đó là kết cục của câu chuyện. Những gì chúng tôi biết chỉ có bấy nhiêu.
Hai người trong làng giúp tôi khiêng thi thể Victor xuống thung lũng, chôn cất hắn dưới chân núi Chân Lý. Tôi nghĩ mình ghen tị với hắn, ghen tị vì hắn có thể an nghỉ ở nơi đó. Hắn đã giữ được giấc mơ của mình.
Thế chiến thứ hai lại khiến thế giới này một lần nữa chao đảo. Những ký ức xưa cũ lại ùa về bủa vây tôi. Giờ đây, tôi đã gần bảy mươi, chẳng còn ôm ấp những ảo tưởng viển vông, nhưng tôi vẫn thường nghĩ về núi Chân Lý, tò mò rốt cuộc đáp án cuối cùng là gì.
Tôi có ba phỏng đoán, nhưng có lẽ đều không đúng.
Phỏng đoán thứ nhất hoang đường nhất: Victor mới là người đúng. Hắn cố chấp tin rằng cư dân trên núi Chân Lý đã đạt tới một giai đoạn trường sinh kỳ lạ. Họ sở hữu một loại sức mạnh cho phép họ, vào lúc cần thiết, có thể biến mất khỏi cõi trần để bước vào thiên đường giống như những nhà tiên tri thời cổ đại. Người Hy Lạp cổ tin các vị thần làm được như vậy, người Do Thái tin tiên tri Elijah làm được như vậy, và người Cơ Đốc cũng tin đấng sáng lập của họ như thế. Nhìn lại chiều dài lịch sử của mê tín tôn giáo và sự cả tin, người ta vẫn thường tin chắc rằng có người có thể đạt được sự thánh khiết cùng sức mạnh đủ để chiến thắng cái chết. Niềm tin này thịnh hành ở phương Đông và châu Phi, chỉ có đôi mắt sáng suốt của thế giới phương Tây mới nhìn ra được: những vật thể hữu hình và thân xác máu thịt không thể nào bỗng dưng biến mất vào hư không.
Các bậc thầy tôn giáo luôn bất đồng ý kiến về ranh giới thiện ác: mật ngọt của kẻ này là thạch tín của kẻ khác; tiên tri lương thiện và phù thủy tà ác đều từng chịu hình phạt ném đá; điều báng bổ khi ấy lại là sự thần thánh lúc này; hôm qua còn là dị đoan tà thuyết, hôm nay đã được tôn làm tín điều.
Tôi không giỏi suy tư triết học, nhưng những trải nghiệm leo núi trong quá khứ cho tôi biết rõ điều này: bước đi giữa chốn non cao giúp ta đến gần nhất với đấng tể trị số phận của chính mình, nơi đã sinh ra biết bao lời răn vĩ đại. Các nhà tiên tri luôn lần từng bước lên cao, các vị thánh và đấng Messiah cũng hội ngộ cùng tiền nhân giữa ngút ngàn mây trắng. Tôi thành kính tin rằng đêm hôm ấy, một bàn tay ma thuật đã vươn xuống núi Chân Lý từ cõi cao xa, đưa những linh hồn đó tới chốn an toàn.
Đừng quên rằng, tôi từng tận mắt nhìn thấy vầng trăng tròn soi sáng ngọn núi ấy, cũng từng thấy mặt trời ban trưa nơi đó. Những gì nhìn thấy, nghe thấy, cảm nhận được đều không thuộc về thế giới này. Tôi nghĩ tới những tảng đá tắm mình trong ánh trăng, nghe thấy tiếng ngâm xướng vọng ra từ vách đá không lối vào, nhìn thấy khe nứt khổng lồ tựa như chén thánh giữa rặng Song Phong, nghe thấy tiếng cười, và thấy những cánh tay trần màu đồng hun vươn về phía mặt trời.
Nghĩ đến những điều đó, tôi sẽ tin vào sự trường sinh…
Thế nhưng, có lẽ vì những năm tháng leo núi của tôi đã chấm dứt, khi tứ chi ngày một yếu ớt, ma lực của ngọn núi cũng dần phai nhạt trong ký ức. Vì vậy, tôi tự nhắc nhở mình rằng, vào ngày cuối cùng trên núi Chân Lý, đôi mắt mà tôi nhìn chăm chú rõ ràng thuộc về một con người còn sống, người đó vẫn đang thở, và đôi bàn tay tôi từng chạm vào thuộc về một thân xác bằng xương bằng thịt.
Thậm chí những lời kia cũng thốt ra từ miệng một con người: "Anh đừng bận tâm đến bọn tôi nữa. Bọn tôi biết phải làm gì." Và rồi là câu nói đau lòng cuối cùng: "Hãy để Victor giữ lấy giấc mơ của anh ấy."
Thế là tôi có phỏng đoán thứ hai. Tôi thấy màn đêm, thấy những vì sao, thấy linh hồn ấy dũng cảm chọn lấy lộ trình tốt nhất cho bản thân và cho những người khác. Khi tôi quay lại bên Victor, người dưới thung lũng đều đã tập hợp chuẩn bị tiến lên, tấn công nhóm tín đồ nhỏ bé ấy, nhóm người cuối cùng đi tìm chân lý. Họ trèo về phía khe nứt khổng lồ của rặng Song Phong, rồi cuối cùng mất phương hướng.
Mỗi khi ra ngoài dùng bữa với vài người quen xã giao rồi một mình trở về căn hộ ở New York, tôi lại thấy chán ghét thói đời, càng lúc càng cô đơn. Lúc này, phỏng đoán thứ ba lại trồi lên trong tâm trí. Tôi nhìn ra ngoài cửa sổ, ngắm thế giới hiện thực muôn màu muôn vẻ, nó chẳng dịu dàng, cũng chẳng trang nghiêm. Đột nhiên, tôi khao khát sự bình yên, khao khát được thấu hiểu. Tôi tự nhủ, có lẽ cư dân núi Chân Lý đã sớm chuẩn bị sẵn sàng để rời đi. Giờ khắc đến, họ thu dọn hành lý lên đường, chẳng phải bước tới sự trường sinh, cũng không phải nghênh đón cái chết, mà là đi vào cõi trần. Họ lặng lẽ xuống thung lũng, trà trộn vào đám đông, mỗi người một ngả. Từ căn hộ nhìn xuống thế giới bận rộn ồn ã này, tôi bất giác tò mò liệu trên những con phố nườm nượp người qua lại và trong các ga tàu điện ngầm có bóng hình của họ hay không; nếu tôi bước ra phố, liệu có thể nhận ra họ giữa những gương mặt lướt qua vai mình, để từ đó có được câu trả lời chăng.
Đôi khi, gặp gỡ người lạ trong những chuyến đi, tôi lại nảy sinh ảo tưởng, cảm thấy một cái ngoái đầu, một ánh mắt của đối phương mang hàm ý sâu xa, trong khoảnh khắc khiến tôi vừa mê mẩn vừa thấy xa lạ. Tôi muốn lập tức bước tới bắt chuyện, nhưng chẳng rõ có phải do tôi tưởng tượng hay không, dường như có một trực giác nào đó đang nhắc nhở họ. Thế là họ dừng lại chốc lát, ngập ngừng do dự, rồi biến mất. Có lúc trên tàu hỏa, có lúc giữa phố xá đông đúc, chỉ trong một khoảnh khắc, tôi nhìn thấy một người đẹp đẽ tao nhã đến mức không giống phàm nhân, tôi liền muốn vươn tay ra, khẽ cất lời thật nhanh: "Có phải tôi từng gặp bạn ở núi Chân Lý không?" Nhưng mọi thứ chỉ thoáng qua. Họ biến mất tăm, chỉ để lại một mình tôi cùng phỏng đoán thứ ba chưa từng được chứng thực.
Năm tháng thoi đưa, tôi đã gần bảy mươi. Thời gian đằng đẵng, ký ức xa xăm, những chuyện xảy ra trên núi Chân Lý càng lúc càng mờ mịt, càng lúc càng thiếu chân thực. Do đó, tôi tha thiết muốn viết lại thành lời trước khi trí nhớ hoàn toàn bỏ rơi mình. Có lẽ người đọc được những dòng này cũng sẽ yêu tha thiết những ngọn núi như tôi trước kia, từ đó sinh ra cách hiểu và cách lý giải của riêng mình về câu chuyện này.
Song tôi phải nhắc một câu: ở châu Âu có rất nhiều núi, ngọn núi mang tên "núi Chân Lý" có lẽ nhiều không đếm xuể. Thụy Sĩ, Pháp, Tây Ban Nha, Ý, rồi vùng Tirol của Áo đều có. Ngọn núi Chân Lý mà tôi nói cụ thể nằm ở đâu, tôi sẽ không tiết lộ. Cho đến hôm nay, sau hai cuộc đại chiến, dường như chẳng còn đỉnh núi nào mà con người không thể đặt chân tới. Ngọn núi nào cũng có thể trèo lên. Chỉ cần cẩn thận kỹ càng thì sẽ không gặp hiểm nguy. Ngọn núi Chân Lý tôi nói từng hiếm bóng chân người, nhưng không phải vì núi cao hiểm trở hay băng tuyết trơn trượt. Thực tế, ngay cả vào lúc cuối thu, chỉ cần có người biết đường thì vẫn tìm thấy lối mòn dẫn lên đỉnh. Thứ khiến những người leo núi chùn bước không phải là hiểm nguy, mà là sự kính sợ và khiếp hãi.
Ngày nay, ngọn núi Chân Lý này chắc chắn cũng giống như những dãy núi khác, đã được đánh dấu trên bản đồ. Điểm này tôi không hề nghi ngờ. Gần đỉnh núi có lẽ đã dựng trại nghỉ ngơi, thậm chí ngôi làng trên sườn dốc phía đông có thể đã mọc lên khách sạn, du khách có thể đi cáp treo lên rặng Song Phong một cách dễ dàng. Dù vậy, tôi vẫn tin ngọn núi này chưa từng bị báng bổ. Lúc nửa đêm, khi trăng tròn nhô lên, đỉnh núi vẫn không biến sắc, bất khả xâm phạm. Vào mùa đông, khi băng tuyết, cuồng phong và mây mù ngăn cách con người ngoài ngọn núi, rặng Song Phong của núi Chân Lý vẫn vươn thẳng tới mặt trời, vách đá sừng sững, trong tĩnh lặng rủ lòng thương xót nhìn xuống thế giới mù quáng này.
Tôi và Victor quen nhau từ thuở nhỏ, khi cả hai còn là hai thằng nhóc đầu xanh. Ban đầu chúng tôi đều sống ở Marlborough, rồi cùng vào Cambridge trong một năm. Tôi là bạn thân nhất của hắn. Sau khi tốt nghiệp đại học, chúng tôi không gặp nhau thường xuyên, nhưng điều đó hoàn toàn là do mỗi người bước vào một thế giới khác nhau: tôi vì công việc thường phải ra nước ngoài, còn hắn bận rộn chăm lo cho bất động sản ở Shropshire. Thế nhưng, chỉ cần gặp nhau, chúng tôi lập tức thân thiết trở lại, chẳng hề thấy xa cách.
Công việc vắt kiệt phần lớn sức lực của chúng tôi, nhưng may sao cả hai đều không thiếu tiền, lại có thời gian rảnh rỗi, nhờ vậy có thể thỏa sức đắm mình vào thú tiêu khiển yêu thích nhất: leo núi. Trong mắt những tay nhà nghề trang bị chuyên nghiệp và được huấn luyện bài bản, hai chúng tôi cùng lắm chỉ được coi là những kẻ leo núi nghiệp dư. Những chuỗi ngày thảnh thơi đó là trước Thế chiến thứ nhất. Nhớ lại năm xưa, chúng tôi thực sự chỉ đạt đến trình độ nghiệp dư, hoàn toàn không dính dáng gì đến chuyên nghiệp. Chúng tôi chỉ là hai thanh niên trẻ tuổi, dùng cả tay lẫn chân trèo lên những mỏm đá nhô ra ở Cumberland và Wales, sau khi tích lũy được chút kinh nghiệm thì chạy sang Nam Âu thử sức với những ngọn núi hiểm trở hơn.
Chẳng bao lâu sau, chúng tôi không còn liều lĩnh nữa, mà ngày càng chú ý đến thời tiết, đồng thời học được cách tôn trọng những ngọn núi mình chinh phục. Ngọn núi không phải kẻ thù cần chúng tôi khuất phục, mà là đồng minh cần chúng tôi giành lấy. Những chuyến leo núi của tôi và Victor không phải để tìm kiếm kích thích mạo hiểm, hay muốn ghi tên việc lên đỉnh vào bảng thành tích của mình, chúng tôi leo núi chỉ vì khát khao trong lòng, vì chúng tôi yêu tất cả những gì mình đã giành được.
Tâm tính của ngọn núi còn khó lường hơn đàn bà. Nó khiến anh vui sướng, khiến anh sợ hãi, cũng mang lại cho nội tâm anh sự bình yên to lớn. Thôi thúc muốn trèo lên cao vĩnh viễn chẳng thể nói rõ, tả tường. Có lẽ vào thời cổ đại, trèo cao bắt nguồn từ ước nguyện với tay hái trăng sao. Nhưng ngày nay, bất kỳ ai muốn lên tới cõi cao, chỉ cần mua một tấm vé máy bay là có thể đổi lấy cảm giác cưỡi gió giữa trời. Thế nhưng, dù vậy, người đó cũng không thể đạp chân lên đất đá, để gió mát phả vào mặt, càng không thể thấu hiểu được sự tĩnh lặng chỉ có thể cảm nhận giữa chốn non ngàn.
Những khoảnh khắc đẹp nhất đời tôi chính là khoảng thời gian tuổi trẻ trải qua trên núi. Tâm trạng hận không thể trút hết toàn bộ năng lượng trên đỉnh núi, vắt kiệt mọi suy nghĩ, để trống rỗng bản thân và ngửa mặt đón bầu trời ấy, được Victor và tôi gọi là cơn sốt leo núi. Victor luôn nhanh chóng tỉnh táo lại sau cơn sốt leo núi, sau đó quan sát xung quanh, cẩn thận vạch ra lộ trình xuống núi đâu ra đấy, trong khi tôi vẫn không ngớt kinh ngạc, tiếp tục chìm đắm trong giấc mơ mà chính mình không hiểu nổi. Dù sức bền của chúng tôi đã vượt qua thử thách để rốt cuộc chạm tới đỉnh núi, nhưng vẫn có thứ gì đó khó gọi thành tên đang chờ chúng tôi giành lấy. Trong lòng tôi có một khao khát vẫn chưa được thỏa mãn, có một giọng nói bảo với tôi rằng vấn đề nằm ở chính bản thân tôi. Dẫu vậy, những tháng ngày đó thật đẹp đẽ, là những ngày tươi đẹp nhất của tôi…
Mùa hè, tôi vừa từ Canada đi công tác về tới London thì nhận được thư Victor gửi. Niềm vui toát ra từ bức thư lộ rõ trên từng con chữ: hắn đã đính hôn. Thậm chí, hắn sắp làm đám cưới đến nơi rồi. Hắn bảo cô ấy là người con gái tuyệt vời nhất hắn từng gặp, hỏi tôi có thể làm phù rể cho hắn không. Lẽ dĩ nhiên tôi viết thư hồi âm, bày tỏ niềm vui và gửi lời chúc phúc. Tôi là một gã độc thân, đối diện với việc người bạn thân nhất lấy vợ, nghĩ đến chuyện sau này hắn sẽ bị ràng buộc bởi đời sống gia đình, tôi cảm thấy mình lại mất đi một người bạn.
Vị hôn thê của hắn đến từ Wales, sống ngay sát Shropshire nơi Victor ở. "Cậu có tin được không," Victor viết trong bức thư thứ hai, "cô ấy thậm chí còn chưa từng đến núi Snowdon! Mình định sẽ chịu toàn bộ trách nhiệm dạy cô ấy leo núi." Tôi không thể tưởng tượng nổi có chuyện gì khiến tôi chán ghét hơn việc dắt díu một cô gái thiếu kinh nghiệm đi leo núi.
Trong bức thư thứ ba, Victor nói cho tôi biết hắn đã tới London, cô ấy cũng tới, họ đang ráo riết chuẩn bị cho hôn lễ. Tôi mời họ cùng dùng bữa trưa. Tôi không biết cô ấy trông như thế nào, trong tưởng tượng chắc vóc dáng không cao, da ngăm đen, người chắc nịch, sở hữu một đôi mắt đẹp. Nhưng tôi không ngờ người bước về phía tôi lại là một tuyệt sắc giai nhân, cô ấy chìa tay ra, nói với tôi: "Tôi tên là Anne."
Vào thời điểm đó, tức là trước Thế chiến thứ nhất, các thiếu nữ thường không trang điểm son phấn. Anne không thoa son môi, mái tóc xoăn vàng óng ả tuyệt đẹp che phủ đôi tai. Trong ký ức, tôi đã nhìn cô ấy không chớp mắt, nhìn vẻ đẹp tựa như thiên nhân giáng trần ấy. Victor bật cười, vui vẻ nói: "Mình đã bảo với cậu thế nào rồi?" Chúng tôi ngồi xuống cùng ăn trưa, ba người nhanh chóng trò chuyện một cách thoải mái, tự nhiên. Cô ấy có chút dè dặt, điều đó lại càng điểm thêm vài phần quyến rũ. Tuy nhiên, cô ấy biết tôi là bạn thân nhất của Victor, bởi thế tôi cảm thấy mình cũng được cô ấy đón nhận, được cô ấy quý mến.
Tôi thầm nghĩ, Victor thật may mắn. Những mối hoài nghi của tôi về cuộc hôn nhân của hắn tan biến sạch trơn ngay từ giây phút nhìn thấy cô ấy. Vì ở cạnh Victor, nên bữa trưa còn chưa đi được nửa chặng đường, chủ đề của chúng tôi đã không thể tránh khỏi việc chuyển sang chuyện leo núi.
"Cô sắp lấy một người mê leo núi rồi đấy," tôi nói với cô ấy, "vậy mà cô còn chưa từng trèo lên núi Snowdon ở quê mình."
"Vâng," cô ấy nói, "tôi chưa trèo bao giờ."
Sự ngập ngừng trong giọng nói của cô ấy khiến tôi tò mò, đôi mắt hoàn mỹ khôn cùng kia thoáng hiện một tia sầu muộn.
"Tại sao thế?" Tôi hỏi. "Là người Wales mà chưa từng leo lên đỉnh núi cao nhất xứ Wales thì quả thực là một cái tội đấy!"
Victor ngắt lời: "Anne sợ. Lần nào mình rủ đi leo núi, cô ấy cũng nghĩ ra được một cái cớ để từ chối."
Cô ấy lập tức quay sang phía hắn. "Không phải đâu, Victor," cô ấy nói, "không phải như thế. Anh không hiểu đâu. Không phải vì em sợ leo núi."
"Thế thì vì sao chứ?" Hắn nói.
Hắn vươn tay ra, nắm lấy bàn tay cô ấy đang đặt trên bàn. Tôi có thể nhận thấy hắn yêu cô ấy sâu đậm, họ sẽ trở thành một cặp vợ chồng hạnh phúc. Cô ấy nhìn sang tôi ở phía đối diện, dường như đang dùng đôi mắt để cảm nhận về tôi, bỗng nhiên, trực giác mách bảo cho tôi hiểu những gì cô ấy sắp nói.
"Non cao sẽ đòi hỏi ở anh," cô ấy nói, "anh phải đánh đổi tất cả. Người như tôi, tốt nhất là nên tránh xa."
Tôi hiểu ý cô ấy, ít nhất là tôi nghĩ mình hiểu. Thế nhưng, nhìn thấy Victor yêu cô ấy đến vậy, tôi nghĩ chỉ cần cô ấy vượt qua được sự kính sợ đối với non cao, hai người họ có lẽ sẽ có chung một sở thích, chẳng có gì tuyệt vời hơn điều đó.
"Nhưng cảm giác leo núi thì không gì sánh bằng," tôi nói, "cô vừa nói đúng đấy, leo núi đương nhiên phải đánh đổi tất cả, nhưng đi cùng Victor, cô có thể làm được. Cậu ấy sẽ không để cô thử những việc vượt quá giới hạn của mình đâu. Cậu ấy cẩn thận hơn tôi nhiều."
Anne mỉm cười, rút tay ra khỏi tay Victor.
"Hai người đều bướng bỉnh như nhau," cô ấy nói, "hai người đều không hiểu. Tôi sinh ra ở vùng núi, tôi biết rõ lời mình nói có ý nghĩa gì."
Lúc này, một người bạn chung của tôi và Victor bước tới chào hỏi, thế là chủ đề về leo núi của chúng tôi dừng lại ở đó.
Khoảng sáu tuần sau, họ kết hôn. Anne là cô dâu xinh đẹp nhất tôi từng thấy. Tôi nhớ rất rõ, hôm đó Victor căng thẳng đến mức mặt mày tái mét. Tôi thầm nghĩ, trách nhiệm đè nặng lên vai hắn to lớn biết bao, cả đời này hắn phải mang lại hạnh phúc cho cô gái này.
Trong sáu tuần trước khi họ tổ chức hôn lễ, tôi thường xuyên gặp cô ấy. Dù Victor chẳng hề hay biết, nhưng tôi cũng đã yêu cô ấy sâu đậm như hắn. Thứ thu hút tôi không phải nét duyên dáng, cũng chẳng phải nhan sắc của cô ấy, mà là một sự hòa trộn kỳ lạ giữa cả hai, một thứ ánh sáng rạng ngời toát ra từ bên trong. Nỗi lo lắng duy nhất của tôi về tương lai của họ là tính cách của Victor, hắn có phần quá vô tâm, vô lo vô nghĩ. Tôi lo rằng sự đơn giản, thẳng thắn của hắn có thể sẽ khiến cô ấy tự khép mình lại, không thể mở rộng cõi lòng. Cha mẹ Anne đều đã qua đời, nghi thức hôn lễ do người dì của cô ấy thay mặt tham dự. Đương nhiên, sau khi hôn lễ kết thúc, dáng vẻ họ lái xe rời đi vẫn khiến người ta cảm thấy đây là một cặp trời sinh. Tôi tha thiết mong mỏi có thể tới Shropshire tìm họ, làm cha đỡ đầu cho con của họ.
Ít lâu sau đám cưới, tôi lại đi công tác. Mãi đến tháng Mười Hai, tôi mới nhận được thư Victor mời tôi tới chỗ họ đón Giáng sinh. Tôi vui vẻ nhận lời.
Khi đó, họ đã kết hôn được tám tháng. Victor trông khỏe mạnh và hạnh phúc, còn Anne trong mắt tôi đẹp đến mức không gì sánh nổi, ánh mắt tôi gần như chẳng thể rời khỏi cô ấy. Họ nhiệt tình chào đón tôi. Trước đây tôi đã tới vài lần, rất quen thuộc với ngôi nhà cổ tinh xảo này. Tôi đã trải qua một tuần thanh bình ở đây. Tôi có thể khẳng định ngay rằng cuộc hôn nhân của họ vô cùng hòa thuận êm ấm. Nếu tạm thời chưa có con, họ vẫn có thể tận hưởng thế giới hai người thêm một thời gian dài.
Chúng tôi đi dạo trong vườn, đi săn, buổi tối thì đọc sách, ba người ở bên nhau vô cùng hòa hợp.
Tôi nhận thấy Victor đã thích nghi với sự tĩnh lặng của Anne. Có lẽ từ "tĩnh lặng" không thể lột tả chính xác sự trầm lắng độc đáo của cô ấy. Nét trầm lắng khó tả này toát ra từ sâu thẳm cơ thể cô ấy, ếm một lời nguyền lên cả ngôi nhà. Trước đây, nơi này luôn là một chốn cư ngụ tiện nghi, phòng ốc rộng rãi, trần nhà cao ráo, kính khảm trên khung cửa sổ. Nhưng lúc này, chẳng hiểu sao bầu không khí thanh bình lại trở nên căng thẳng và nặng nề hơn. Mỗi căn phòng dường như đều chìm vào một sự im lặng kỳ lạ, có phần âm u, khiến người ta không thể không nhận ra. Nơi này đã không còn đơn thuần là tiện nghi như trước kia nữa.
Kỳ lạ là, khi nhớ lại tuần lễ Giáng sinh ấy, tôi chẳng tài nào nhớ nổi một chi tiết nào liên quan đến ngày lễ truyền thống này. Tôi không nhớ chúng tôi đã ăn gì, uống gì, cũng không nhớ chúng tôi có đi nhà thờ hay không. Đương nhiên, chắc chắn chúng tôi có đi, dù sao Victor cũng là thân sĩ địa phương. Tôi chỉ nhớ những đêm ấy, cửa chớp đóng chặt, chúng tôi ngồi trong phòng khách lớn sưởi lửa, trong không khí ngập tràn sự bình yên khôn tả. Ngồi ở đó, trong ngôi nhà của Victor và Anne, tôi mới nhận ra chuyến công tác vừa rồi đã vắt kiệt sức lực của mình, khoảnh khắc ấy tôi chẳng còn mong muốn gì, chỉ muốn thả lỏng, để bản thân thỏa sức tận hưởng sự yên bình có thể chữa lành tâm can lúc này.
Tôi tới đó vài ngày sau mới nhận ra ngôi nhà này còn có những thay đổi khác. Căn nhà chưa bao giờ trống trải đến thế, nhiều đồ đạc lặt vặt và một số món đồ gỗ gia truyền đều biến mất. Đồ đạc trong các phòng lớn bày biện thưa thớt, ngay cả phòng khách lớn nơi chúng tôi ngồi cũng chỉ có một chiếc bàn ăn dài và vài chiếc ghế đặt trước đống lửa. Mọi thứ dường như vốn dĩ phải như vậy. Nhưng nghĩ lại, một người phụ nữ tạo ra những thay đổi thế này cho ngôi nhà thì có phần hơi kỳ lạ. Thông thường, các cô dâu mới đều sắm sửa rèm cửa và thảm mới, điểm thêm vài nét nữ tính cho nơi ở của một kẻ độc thân. Thế là tôi đánh bạo hỏi Victor.
"Ồ, phải rồi," hắn khẽ đưa mắt nhìn quanh, "bọn mình dọn bớt khá nhiều đồ đi. Là Anne đề nghị đấy. Đối với cô ấy, mấy thứ này đều là vật ngoài thân. Không, bọn mình không bán, tặng hết đi rồi."
Căn phòng khách dành cho tôi ở vẫn là căn phòng cũ, mọi thứ bên trong gần như y nguyên. Bên giường có nước nóng, trà sớm, bánh quy, hộp thuốc lá xếp đầy thuốc, hệt như trước đây, thể hiện trọn vẹn sự chu đáo tỉ mỉ của nữ chủ nhân.
Nhưng có một lần, khi đi qua hành lang dài dẫn tới đầu cầu thang, tôi để ý thấy cánh cửa phòng thường ngày đóng chặt của Anne đang mở. Căn phòng này trước đây thuộc về mẹ của Victor, bên trong từng đặt một chiếc giường bốn cọc làm bằng gỗ tinh xảo cùng những đồ nội thất gỗ thịt nặng nề khác, đồng điệu với phong cách của cả ngôi nhà. Vì tò mò, khi đi ngang qua cánh cửa mở, tôi liếc mắt nhìn vào. Trong phòng gần như chẳng có đồ đạc gì, không treo rèm cửa, cũng không trải thảm, sàn nhà mộc mạc trần trụi. Trong phòng kê một chiếc bàn, một chiếc ghế, một chiếc giường đơn dài, bên trên không có vỏ chăn, chỉ có một tấm chăn len. Cửa sổ mở toang hướng về phía hoàng hôn. Tôi quay đầu bước xuống cầu thang, chạm mặt Victor đang đi lên lầu. Hắn chắc chắn đã nhìn thấy cái liếc mắt của tôi, tôi không muốn mình trông giống kẻ lén lút.
"Xin lỗi, tôi không có ý tò mò," tôi nói, "chỉ là tình cờ nhận thấy căn phòng đó trở nên khác hẳn so với hồi mẹ cậu còn sống."
"Ừ," hắn nói vẻ bâng quơ, "Anne không thích những thứ trang trí thừa thãi. Sẵn sàng ăn tối chưa? Cô ấy bảo mình lên gọi cậu."
Thế là chúng tôi không nói gì thêm, cùng nhau bước xuống lầu. Chẳng hiểu sao, tôi không thể quên được căn phòng bài trí đơn sơ ấy, so với nó, căn phòng tôi ở mới xa xỉ và tiện nghi làm sao. Trong lòng tôi dâng lên một cảm giác tự ti kỳ lạ. Anne chắc chắn nghĩ tôi là một kẻ không thể từ bỏ sự tiện nghi và kiểu cách, trong khi bản thân cô ấy chẳng cần đến những thứ đó mà vẫn có thể ung dung tự tại.
Đêm đó, tôi ngồi bên đống lửa nhìn cô ấy. Victor có việc ra ngoài, trong phòng khách lớn chỉ còn lại hai chúng tôi. Như thường lệ, trong tĩnh lặng, tôi cảm nhận sự bình yên mà sự hiện diện của cô ấy mang lại, trầm lắng và xoa dịu. Tôi được cảm giác ấy bao bọc, vây quanh, đây là trải nghiệm chưa từng có trong cuộc đời bình lặng đơn điệu của tôi. Nét trầm lắng toát ra từ người cô ấy không thuộc về thế giới này. Tôi muốn nói cho cô ấy biết cảm giác này, nhưng chẳng biết phải bắt đầu từ đâu. Cuối cùng, tôi nói: "Cô đã thay đổi ngôi nhà này đôi chút. Tôi không hiểu lắm."
"Anh không hiểu sao?" Cô ấy nói. "Tôi nghĩ anh hiểu chứ. Rốt cuộc thì, tất cả chúng ta đều đang tìm kiếm cùng một thứ mà."
Chẳng hiểu sao, tôi thấy sợ hãi. Sự trầm lắng trong không khí không hề thay đổi, nhưng lại mãnh liệt hơn, gần như muốn đè bẹp tôi.
"Tôi không hề cảm thấy mình đang tìm kiếm thứ gì cả," tôi nói.
Lời tôi nghe có vẻ ngớ ngẩn, nó rơi vào hư không rồi biến mất. Ánh mắt vốn đang hướng về đống lửa của tôi bất giác trôi về phía đôi mắt cô ấy, không sao kiềm chế được.
"Không sao?" Cô ấy nói.
Một nỗi buồn to lớn ập đến bủa vây tôi. Lần đầu tiên tôi cảm thấy mình là một kẻ vô dụng, nhỏ bé cùng cực, ngày ngày đi lại giữa nhân gian như một cái xác không hồn, cùng những kẻ vô dụng khác làm những việc làm ăn chẳng có gì quan trọng, chỉ để có cái ăn lót dạ, có manh áo che thân, có mái nhà nương náu, rồi cứ thế chết đi.
Tôi nghĩ tới căn nhà nhỏ mình mua ở Westminster, trước khi mua tôi đã suy tính kỹ càng, sau khi mua tôi dụng tâm bài trí. Trong nhà có sách vở tranh ảnh của tôi, có bộ sưu tập đồ sứ, lại có hai người hầu đắc lực, họ luôn dọn dẹp nhà cửa sạch không một hạt bụi, chờ đợi tôi trở về. Căn nhà của tôi cùng tất cả mọi thứ trong đó từng mang lại cho tôi niềm vui to lớn, nhưng vào khoảnh khắc này, tôi lại không chắc liệu chúng có giá trị gì hay không.
"Lời khuyên của cô là gì?" Tôi nghe thấy chính mình mở lời với Anne. "Tôi nên bán hết tất cả, từ bỏ công việc sao? Rồi sau đó thì sao?"
Nhớ lại cuộc trò chuyện đơn giản này giữa chúng tôi, thực ra cô ấy chẳng hề nói lời nào ám chỉ tôi hỏi câu hỏi đó. Cô ấy nói tôi đang tìm kiếm vài thứ, còn tôi không trực tiếp trả lời phải hay không, ngược lại còn hỏi cô ấy liệu có nên từ bỏ tất cả những gì mình đang có. Lúc đó tôi không nhận ra sự chuyển biến của mình đột ngột đến mức nào, chỉ biết mình vô cùng xúc động. Vài phút trước tôi còn cảm nhận được sự bình yên, giờ đây đã rơi vào phiền muộn.
"Đáp án mà tôi và anh tìm kiếm có lẽ không giống nhau," cô ấy nói, "tuy nhiên, tôi cũng không chắc về đáp án của chính mình. Rồi sẽ có một ngày tôi biết được."
Tôi chăm chú nhìn cô ấy, trong lòng nghĩ chắc chắn cô ấy đã tìm thấy câu trả lời. Cô ấy xinh đẹp, trầm lắng, thấu suốt đến thế, còn muốn mưu cầu điều gì nữa chứ? Trừ phi là hiện giờ cô ấy chưa có con, nên mới cảm thấy cuộc đời chưa trọn vẹn?
Victor quay lại. Sự xuất hiện của hắn dường như khiến bầu không khí có thêm một phần vững chãi và ấm áp. Hắn mặc một bộ đồ mặc nhà cũ kỹ, toát ra cảm giác thân thuộc và thoải mái.
"Lạnh quá," hắn nói, "mình ra ngoài xem rồi, nhiệt kế chỉ dưới độ âm. Nhưng đêm nay đẹp lắm, trăng tròn." Hắn kéo ghế lại gần đống lửa, âu yếm mỉm cười với Anne. "Lạnh gần bằng đêm chúng ta ở trên núi Snowdon đấy," hắn nói. "Chúa ơi, suýt nữa thì mình quên bẵng chuyện này." Hắn quay sang tôi, cười nói: "Mình chưa kể với cậu đúng không? Rốt cuộc Anne cũng chịu hạ mình đi leo núi cùng mình rồi đấy."
"Thật sao," tôi ngạc nhiên mừng rỡ, "tôi tưởng cô ấy sẽ không đi chứ."
Tôi nhìn Anne ở phía đối diện, nhận thấy đôi mắt cô ấy trở nên trống rỗng, vô hồn. Trực giác mách bảo tôi rằng cô ấy không muốn Victor nhắc tới chuyện này, nhưng Victor chẳng hề nhận ra, vẫn tiếp tục thao thao bất tuyệt.
"Cô ấy là một chú ngựa ô đấy," hắn nói, "cô ấy hiểu biết về leo núi chẳng kém gì cậu với mình đâu. Thậm chí suốt cả chặng cô ấy đều dẫn trước mình, về sau mình còn bị mất dấu nữa."
Hắn tiếp tục nửa đùa nửa thật kể chi tiết về chuyến leo núi lần đó. Lần leo núi ấy có thể nói là đầy rẫy hiểm nguy, bởi vì thời điểm họ xuất phát đã quá muộn.
Hôm họ khởi hành, buổi sáng thời tiết còn rất đẹp, đến trưa bỗng nhiên sấm chớp rền vang, cuối cùng một trận bão tuyết ập tới. Lúc xuống núi, họ bị mắc kẹt trong bóng tối, buộc phải qua đêm ngoài trời.
"Mình vẫn không hiểu nổi," Victor nói, "chẳng biết làm sao mà mình lại để mất dấu cô ấy. Vừa giây trước cô ấy còn ở bên cạnh mình, giây sau đã biến mất tăm. Mình nói cho cậu biết, một mình mình đã trải qua ba tiếng đồng hồ vô cùng khổ sở, xung quanh tối đen như mực, mình bị kẹt trong một trận cuồng phong."
Khi hắn kể câu chuyện này, Anne không nói một lời, dường như đã hoàn toàn tách biệt khỏi thực tại. Cô ấy ngồi trên ghế, bất động. Tôi cảm thấy bất an, lo lắng, muốn Victor dừng lại.
"Dù sao thì," tôi muốn hắn mau chóng kết thúc câu chuyện nên lên tiếng, "hai người vẫn xuống núi bình an vô sự, không xảy ra chuyện gì là tốt rồi."
"Đúng thế," giọng hắn mang vẻ bực bội, "xuống đến chân núi đã là năm giờ sáng, mình ướt như chuột lột, sợ đến phát khiếp. Anne bước về phía mình, trên người cô ấy thế mà chẳng ướt một giọt nào, thấy mình tức giận cô ấy còn rất ngạc nhiên. Cô ấy bảo mình trốn dưới một tảng đá suốt. Kỳ diệu thật đấy, cô ấy lại chẳng hề mảy may thương tích. Mình bảo với cô ấy, nếu lần sau lại cùng đi leo núi, cô ấy có thể làm người dẫn đường rồi."
"Có lẽ," tôi liếc nhìn Anne, "sẽ không có lần sau nữa đâu. Một lần là quá đủ rồi."
"Không thể nào," Victor vui vẻ nói, "bọn mình đã chuẩn bị mùa hè năm sau lại xuất phát tiếp rồi. Có thể đi dãy Alps, Dolomites, hoặc Pyrenees, bọn mình vẫn chưa quyết định. Tốt nhất là cậu đi cùng bọn mình, chúng ta có thể làm một chuyến viễn chinh cho ra trò."
Tôi tiếc nuối lắc đầu.
"Tôi mà đi được thì tốt quá," tôi nói, "nhưng không có cách nào cả, tháng Năm tôi chắc chắn phải ở New York, phải ở lì đó đến tận tháng Chín mới về."
"Ồ, vẫn còn sớm mà," Victor nói, "biết đâu đến tháng Năm cậu lại đổi ý thì sao. Để đến lúc đó rồi tính."
Anne vẫn im lặng không nói một lời. Tôi rất tò mò tại sao Victor lại không nhận ra sự im lặng có phần kỳ quặc của cô ấy. Đột nhiên, cô ấy cất lời chúc ngủ ngon rồi đi lên lầu. Tôi biết rất rõ cô ấy không thích chủ đề này. Trong lòng tôi trỗi dậy một thôi thúc muốn phản bác Victor.
"Nghe này," tôi nói, "cậu phải suy nghĩ cho kỹ, mình dám chắc Anne không muốn đi đâu."
"Không muốn đi?" Victor kinh ngạc. "Sao lại thế, hoàn toàn là do cô ấy đề nghị đấy chứ."
Tôi sững sờ.
"Thật sao?" Tôi hỏi.
"Đương nhiên rồi. Bạn già à, mình nói cho cậu biết, cô ấy mê mẩn non cao đến mức không dứt ra được. Mình nghĩ đó là vì trong người cô ấy chảy dòng máu của người xứ Wales. Ban nãy nhắc tới đêm trên núi Snowdon, mình tỏ ra vẻ hờ hững thế thôi, nhưng khi chỉ có hai đứa với nhau, mình vô cùng kinh ngạc trước lòng dũng cảm và sự dẻo dai của cô ấy. Mình chẳng ngại thừa nhận đâu, trải qua đêm bão tuyết đó, lại thêm phần lo lắng sợ hãi cho cô ấy, sáng hôm sau mình đã kiệt quệ cả thể xác lẫn tinh thần, nhưng khi cô ấy bước ra từ màn sương sớm, trông cô ấy như một tinh linh đến từ thế giới khác vậy. Mình chưa bao giờ thấy cô ấy như thế. Cô ấy bước xuống từ ngọn núi đáng sợ đó, mà cứ như vừa trải qua một đêm trên đỉnh Olympus nơi các vị thần tụ hội, còn mình thì khập khiễng bước theo sau cô ấy, chẳng khác nào một đứa trẻ. Cô ấy thực sự rất khác thường. Cậu cũng nhận ra rồi đúng không?"
"Phải," tôi chậm rãi nói, "tôi đồng ý. Anne quả thực rất khác thường."
Chẳng mấy chốc, chúng tôi lên lầu đi ngủ. Tôi nhận thấy bộ đồ ngủ của mình đã được hơ ấm từ trước, trong bình giữ nhiệt trên bàn đầu giường vẫn còn sữa nóng để tôi có thể uống nếu mất ngủ. Tôi thay đồ ngủ, xỏ đôi dép lê mềm mại, đi đi lại lại trong căn phòng trải thảm dày, một lần nữa nhớ lại căn phòng trống trải đến kỳ lạ của Anne, nhớ tới chiếc giường đơn hẹp dài kia. Thế là, tôi hất tung tấm chăn lụa bên trên chiếc chăn len ra, rồi mở toang cửa sổ trước khi lên giường ngủ.
Thế nhưng, tôi bồn chồn lo âu, không tài nào chợp mắt. Lửa trong lò dần tàn, cái lạnh luồn vào trong phòng. Suốt cả đêm, tôi đều nghe thấy tiếng chiếc đồng hồ du lịch cũ kỹ sờn rách của mình kêu tích tắc tích tắc. Đến bốn giờ, tôi không thể chịu đựng thêm được nữa, nghĩ đến cốc sữa nóng đặt đầu giường mà thấy biết ơn khôn xiết. Trước khi uống sữa, tôi quyết định để bản thân dễ chịu hơn đôi chút, liền định đi đóng cửa sổ lại.
Tôi trèo xuống giường, run rẩy bước qua căn phòng. Victor nói không sai, mặt đất bên ngoài phủ đầy sương muối trắng xóa, trên trời treo một vầng trăng tròn vành vạnh. Tôi đứng trước khung cửa sổ mở toang một lúc, đột nhiên nhìn thấy dưới bóng cây có một bóng người bước ra, đứng trên bãi cỏ dưới lầu. Người đó không hề lén lút, cũng chẳng vụng trộm, không phải kẻ đột nhập, càng không phải phường trộm cắp, chỉ đứng bất động ở đó ngước nhìn mặt trăng, tựa như đang minh tưởng.
Tôi nhận ra đó là Anne. Cô ấy mặc một chiếc áo choàng tắm, thắt dây lưng, mái tóc buông xõa trên vai. Cô ấy đứng trên bãi cỏ phủ đầy sương muối, không phát ra một tiếng động nào. Điều khiến tôi kinh ngạc tột độ là cô ấy lại đi chân trần. Tôi túm lấy rèm cửa, đứng đó nhìn trân trân. Đột nhiên, tôi nhận ra mình đang nhìn lén sự riêng tư của người khác, bèn đóng cửa sổ lại, nằm về giường. Trực giác mách bảo tôi không được kể lại những gì nhìn thấy đêm nay cho Victor, cũng không được nói với chính Anne. Nghĩ đến đây, lòng tôi ngập tràn bất an, thậm chí chuyển thành nỗi lo âu.
Sáng hôm sau, trời nắng rực rỡ, chúng tôi dắt chó ra ngoài đi dạo. Anne và Victor trông tâm trạng rất tốt, chẳng có biểu hiện gì bất thường, tôi tự nhủ đêm qua là do mình lo xa quá. Cho dù Anne muốn đi chân trần lúc rạng sáng thì đó cũng là sự tự do của cô ấy, tôi không nên nhìn trộm. Mấy ngày tiếp theo đều trôi qua êm đềm, ba chúng tôi ở bên nhau vui vẻ và thỏa mãn, lúc rời đi tôi thấy vô cùng lưu luyến.
Mấy tháng sau, trước khi tôi lên đường sang Mỹ, tôi và họ có gặp nhau chốc lát. Tôi đến một cửa hàng bán đồ du lịch trên phố St. James mua vài cuốn sách để giết thời gian trong chuyến hải trình dài ngày dập dềnh trên Đại Tây Dương, dù sao khi đó thảm kịch tàu Titanic mới xảy ra chưa lâu, mọi người vẫn còn sợ hãi những chuyến đi biển. Còn Victor và Anne thì đang trải rộng bản đồ trong tiệm, chăm chú nghiên cứu.
Hôm đó gặp nhau chúng tôi gần như không trò chuyện được gì nhiều, sau đó ai nấy đều có việc riêng nên nhanh chóng chào tạm biệt.
"Bọn mình đang bận sắp xếp kỳ nghỉ hè, lịch trình đã lên xong xuôi rồi. Hay là cậu đổi ý đi, đi cùng bọn mình đi."
"Không thể nào," tôi nói, "đã thu xếp xong hết rồi, tháng Chín tôi mới về nhà. Vừa về là tôi sẽ liên lạc với hai người ngay. Đúng rồi, hai người quyết định đi đâu thế?"
"Nơi Anne chọn đấy," Victor nói, "cô ấy nghĩ suốt mấy tuần liền, cuối cùng cũng nghĩ ra nơi muốn đến. Ngọn núi đó trông có vẻ hoàn toàn không thể trèo lên được, cậu với mình chưa từng đến đó bao giờ."
Hắn chỉ tay vào tấm bản đồ trước mặt. Nhìn theo hướng ngón tay hắn, tôi thấy một vị trí được Anne đánh dấu.
"Monte Verità." Tôi đọc dòng chữ trên đó.
Tôi ngẩng đầu lên, Anne đang nhìn tôi.
"Theo tôi biết thì đây hẳn là một vùng đất chưa được khám phá," tôi nói, "trước khi leo núi nhất định phải lắng nghe lời khuyên của người khác, tìm một người dẫn đường địa phương hay đại loại thế. Tại sao cô lại chọn một ngọn núi như vậy?"
Anne mỉm cười, tôi bỗng thấy xấu hổ, cảm thấy mình thấp kém hơn cô ấy một bậc.
"Núi Chân Lý," cô ấy nói, "hãy đi cùng chúng tôi đi, thật đấy."
Tôi lắc đầu, bước vào chuyến hành trình của riêng mình.
Mấy tháng sau đó, tôi thường xuyên nghĩ về họ, cũng ghen tị với họ. Họ đang leo núi, đang được bao bọc bởi những ngọn núi mà tôi yêu tha thiết, còn tôi chỉ có thể bị bủa vây bởi công việc bộn bề. Tôi thường ước gì mình có thể gom đủ dũng khí để vứt bỏ công việc, từ biệt thế giới văn minh cùng những thú vui phù phiếm, cùng hai người bạn của mình đi tìm kiếm chân lý. Chỉ có điều, tôi bị trói buộc bởi thói đời tục lụy, bị trói buộc bởi cảm giác thành tựu trong sự nghiệp, cảm thấy việc tự tay chặt đứt con đường công danh là quá đỗi ngu ngốc. Cuộc đời tôi đã thành hình, giờ thay đổi thì đã quá muộn rồi.
Tháng Chín, tôi quay về nước Anh. Điều khiến tôi ngạc nhiên là trong đống thư từ chất cao như núi, lại chẳng có bức nào của Victor. Trước đó hắn từng hứa sẽ viết thư cho tôi, chia sẻ những điều tai nghe mắt thấy. Chỗ họ không có điện thoại nên tôi không thể liên lạc được, tuy nhiên, tôi tự nhắc mình sau khi xử lý xong đống thư từ công việc sẽ viết thư cho Victor.
Vài ngày sau, tôi ghé qua câu lạc bộ một chuyến, lúc bước ra thì gặp một người bạn mà cả tôi và Victor đều quen biết, anh ta hỏi tôi vài câu về chuyến công tác vừa rồi. Ngay khi tôi chuẩn bị bước xuống lầu, bỗng nghe thấy anh ta ngoái lại hỏi: "À này, tội nghiệp Victor quá, bất hạnh thật đấy. Anh có định đi thăm cậu ấy không?"
"Anh nói gì cơ? Cái gì mà bất hạnh quá?" Tôi hỏi. "Có chuyện gì xảy ra à?"
"Cậu ấy ốm nặng lắm, hiện giờ đang nằm trong một viện điều dưỡng ở ngay London này," anh ta đáp, "cậu ấy bị suy sụp tinh thần. Anh có biết vợ cậu ấy bỏ cậu ấy đi rồi không?"
"Chúa ơi, tôi không hề biết." Tôi kinh hãi kêu lên.
"Ồ, phải rồi. Thế nên cậu ấy mới ra nông nỗi này. Thân thể cậu ấy suy sụp hoàn toàn rồi. Anh biết cậu ấy yêu cô ấy đến nhường nào mà."
Tôi bàng hoàng tột độ, mặt cắt không còn giọt máu, trừng trừng mắt nhìn.
"Ý anh là," tôi nói, "cô ấy đi theo người khác rồi sao?"
"Không biết, tôi đoán thế. Victor chẳng nói nửa lời. Tóm lại là cậu ấy đã suy sụp tinh thần, nằm trong viện điều dưỡng mấy tuần nay rồi."
Tôi hỏi xin địa chỉ viện điều dưỡng, không chậm trễ một giây, lập tức nhảy lên xe taxi đi tới đó.
Ban đầu, phía bệnh viện thông báo Victor không tiếp khách. Tôi rút danh thiếp ra, viết một dòng chữ ở mặt sau, nhờ họ chuyển cho Victor. Hắn chắc chắn sẽ không từ chối gặp tôi chứ? Một lát sau, một cô y tá bước tới, dẫn tôi lên tầng hai.
Cô ấy mở cửa. Nhìn thấy khuôn mặt hốc hác khô khốc của Victor, tôi giật thót mình. Hắn ngồi trên chiếc ghế cạnh lò sưởi gas nhìn tôi, yếu ớt vô cùng, khác hẳn một trời một vực so với hắn trước đây.
"Người anh em thân mến," tôi bước lại gần hắn, "năm phút trước mình mới biết cậu ở đây."
Cô y tá khép cửa lại, chỉ để hai chúng tôi trong phòng.
Hai mắt Victor ngập tràn nước mắt, lòng tôi thắt lại đau đớn.
"Không sao đâu," tôi nói, "muốn khóc thì cứ khóc đi. Cậu biết mình hiểu cậu mà."
Hắn dường như không thốt nên lời, chỉ ngồi đó, cơ thể dưới lớp áo choàng tắm co còng lại, mặc cho nước mắt tuôn rơi. Chưa bao giờ tôi thấy mình bất lực đến thế. Hắn chỉ vào một chiếc ghế, tôi liền kéo lại ngồi xuống cạnh hắn. Tôi chờ đợi. Nếu hắn không muốn kể cho tôi nghe chuyện gì đã xảy ra, tôi cũng sẽ không gặng hỏi. Tôi chỉ muốn an ủi hắn, giúp đỡ hắn.
Cuối cùng, hắn cũng mở lời. Tôi gần như không nhận ra đó là giọng của hắn nữa.
"Anne đi rồi," hắn nói, "cậu biết chưa? Cô ấy đi rồi."
Tôi gật đầu, đặt tay lên đầu gối hắn, cứ như thể hắn đã biến thành một cậu bé con chứ không phải một người đàn ông ngoài ba mươi tuổi như tôi.
"Mình biết rồi," tôi khẽ nói, "nhưng sẽ ổn thôi, cô ấy sẽ quay về, cậu nhất định có thể khiến cô ấy đổi ý."
Hắn lắc đầu. Tôi chưa từng thấy sự tuyệt vọng và tin chắc đến mức ấy.
"Ồ, không đâu," hắn nói, "cô ấy sẽ không bao giờ quay về nữa. Mình hiểu cô ấy quá mà. Cô ấy đã tìm thấy thứ mình muốn rồi."
Nhìn thấy hắn hoàn toàn chấp nhận tất cả những gì đã xảy ra, lòng tôi dâng lên niềm xót xa. Victor luôn mạnh mẽ, luôn lý trí đến thế cơ mà.
"Đối phương là ai?" Tôi nói. "Cô ấy gặp anh ta ở đâu?"
Victor nhìn chằm chằm vào tôi, vẻ mặt mờ mịt.
"Cậu nói gì cơ?" Hắn nói. "Cô ấy không gặp ai cả, không phải như thế. Nếu là như thế thì mọi chuyện còn đơn giản hơn..."
Hắn dừng lại, tuyệt vọng buông thõng hai tay. Đột nhiên, tinh thần hắn lại sụp đổ một lần nữa, nhưng lần này không phải vì yếu đuối, mà là vì một thứ còn đáng sợ hơn, đó là cơn phẫn nộ bị đè nén, là cơn thịnh nộ bất lực, vô dụng phát tiết ra khi một người đàn ông phải đấu tranh với một thực thể hùng mạnh hơn mình. "Là ngọn núi đã cướp mất cô ấy," hắn nói, "ngọn núi chết tiệt, núi Chân Lý. Nơi đó có một giáo phái, họ lánh đời, cả đời tự nhốt mình ở đó, nhốt mình trong ngọn núi ấy. Mình chưa từng nghĩ sẽ có một nơi tồn tại như thế. Mình chưa từng biết đến. Giờ cô ấy đang ở đó, trên ngọn núi chết tiệt ấy, trên núi Chân Lý..."
Suốt cả buổi chiều, tôi ngồi trong viện điều dưỡng bầu bạn với hắn, hắn từng chút một kể lại toàn bộ câu chuyện cho tôi nghe.
Victor nói, cả chuyến đi ban đầu vốn rất dễ chịu, bình an vô sự. Cuối cùng, họ đến được khu vực trung tâm, chuẩn bị từ nơi này bắt đầu khám phá địa hình dưới chân núi Chân Lý. Nhưng chính tại nơi đó, họ đã gặp khó khăn. Victor rất xa lạ với vùng đất này, con người nơi đây trông ai nấy đều cô độc, không thân thiện. Hắn nói, trước đây chúng tôi đi leo núi, những người gặp được đều rất hoan nghênh chúng tôi, nhưng những người đó lại hoàn toàn trái ngược. Họ nói một thứ thổ ngữ khó hiểu, trông có vẻ ngu muội dốt nát.
"Ít nhất thì đó là cảm giác họ mang lại cho mình," Victor nói, "họ rất man rợ, dường như chưa được khai hóa, giống như những người bước ra từ thế kỷ trước. Cậu biết đấy, trước kia khi chúng ta cùng leo núi, dân địa phương đều rất sẵn lòng giúp đỡ, chúng ta luôn tìm được người dẫn đường. Nhưng ở đó thì khác. Anne và mình muốn tìm lộ trình leo núi tốt nhất, họ lại không nói cho bọn mình biết, chỉ ngơ ngác nhìn bọn mình rồi nhún vai. Có người nói ở đây không có người dẫn đường, ngọn núi nguyên sinh này chưa từng có ai đặt chân tới."
Victor dừng lại, nhìn tôi bằng ánh mắt tuyệt vọng như trước.
"Cậu thấy đấy," hắn nói, "mình đã phạm sai lầm ở chính chỗ này. Lẽ ra mình phải nhận ra việc chọn một nơi như vậy là một sai lầm. Lẽ ra mình phải đề nghị Anne quay về, cùng nhau làm việc gì đó khác, chí ít cũng đến một nơi văn minh hơn một chút, ít ra người địa phương sẽ thân thiện hơn, nơi chốn mình cũng quen thuộc hơn. Nhưng cậu biết đấy, người ta cứ lên núi là sẽ trở nên rất bướng bỉnh, tâm trạng phản nghịch trong lòng chẳng hiểu sao lại bị đánh thức."
"Hơn nữa núi Chân Lý nó..." Hắn đột nhiên ngập ngừng, nhìn chăm chú về phía trước, tựa như khoảnh khắc này đang một lần nữa ngước nhìn nó trong tâm trí, "Mình xưa nay vốn không giỏi việc bộc lộ cảm xúc, cậu biết mà," hắn nói, "trước đây khi leo núi, dù phong cảnh có đẹp đến mấy, mình vẫn rất thực tế, còn cậu mới là kẻ lãng mạn. Thế nhưng, mình thực sự chưa từng thấy ngọn núi nào tuyệt mỹ như núi Chân Lý. Mình và cậu cũng từng trèo lên những ngọn núi cao hơn, từng đến những nơi hiểm trở hơn, nhưng chẳng hiểu sao, núi Chân Lý... lại tôn nghiêm kỳ lạ."
Hắn im lặng một lúc, rồi tiếp tục kể tiếp: "Mình hỏi Anne: 'Bây giờ tính sao?' Cô ấy không ngần ngại đáp: 'Chúng ta phải tiến lên.' Mình không tranh cãi. Mình biết rất rõ đó là tâm nguyện của cô ấy. Nơi này dường như đã ếm ma thuật lên cả hai đứa mình."
Họ rời khỏi thung lũng, bắt đầu leo lên.
"Hôm đó thời tiết rất đẹp," Victor nói, "trời không một gợn mây, hầu như không có gió. Nắng chói chang, cậu biết thời tiết kiểu đó rồi đấy, không khí khô ráo và thanh lạnh. Mình đùa với Anne, nhắc lại chuyện lần trước đi núi Snowdon, bắt cô ấy hứa lần này không được bỏ rơi mình. Cô ấy mặc áo sơ mi mở cổ và váy xếp ly Scotland, tóc xõa buông dài, trông... đẹp lắm."
Lời trần thuật của hắn bình lặng chậm rãi. Tôi cảm thấy chắc chắn đã xảy ra tai nạn, chỉ là hắn vì tấn bi kịch này mà tinh thần rối loạn, không thể chấp nhận cái chết của Anne. Nhất định là như vậy. Anne trượt chân ngã xuống vách núi, hắn trơ mắt nhìn mà bất lực không thể cứu vãn. Thế là sau khi trở về, hắn suy sụp tinh thần, không ngừng tự nhủ rằng Anne vẫn còn sống, sống trên núi Chân Lý.
"Một tiếng trước khi mặt trời lặn, bọn mình đến một ngôi làng," Victor nói.
"Lúc đó bọn mình đã leo suốt cả ngày, nhưng mình ước chừng khoảng cách tới đỉnh núi vẫn còn khoảng ba tiếng đi đường nữa. Trong ngôi làng này có mười mấy nóc nhà, san sát nhau. Khi bọn mình bước tới gần căn nhà đầu tiên, một chuyện kỳ lạ đã xảy ra."
Hắn dừng lại, nhìn chằm chằm về phía trước.
"Anne đi trước mình một đoạn ngắn," hắn nói, "bước chân cô ấy sải dài, động tác thoăn thoắt, cậu biết đấy. Mình nhìn thấy hai ba người đàn ông dắt theo vài đứa trẻ và mấy con cừu đang đi trên con đường mòn đồng cỏ bên phải bọn mình. Anne giơ tay lên chào họ, nhưng họ vừa nhìn thấy cô ấy, cứ như thể nhìn thấy ma vậy, túm chặt lấy lũ trẻ, cắm đầu chạy thục mạng về cái lán rách gần nhất, đóng sầm cửa nẻo cài then chặt chẽ. Chuyện này thực sự quá kỳ dị. Đàn cừu trên đường mòn cũng bị dọa cho chạy tán loạn."
Victor nói, hắn đùa với Anne rằng cách chào đón này quả là thân thiện thật, nhưng cô ấy trông có vẻ ủ rũ không vui, không hiểu vì sao mình lại dọa họ sợ đến thế. Victor bước tới trước căn nhà đầu tiên gõ cửa.
Không có tiếng trả lời. Nhưng hắn nghe thấy trong nhà có tiếng thì thầm to nhỏ, cùng tiếng trẻ con khóc. Mất kiên nhẫn, hắn cất tiếng gọi lớn. Lần này bên trong mới có động tĩnh. Lát sau, một góc cửa chớp hé mở, khuôn mặt một người đàn ông lấp ló sau khe hở, chằm chằm nhìn hắn. Victor gật đầu, nở nụ cười hòa nhã. Người đàn ông từ từ mở hẳn cánh cửa chớp, Victor liền mở lời chào. Người đó lắc đầu, rồi dường như đổi ý, hắn tháo then cài cửa. Đứng bên ngưỡng cửa, gã căng thẳng nhìn Victor rồi chuyển ánh mắt sang Anne. Đột nhiên, gã lắc đầu nguầy nguậy, tay chỉ lên đỉnh núi Chân Lý, miệng bắn ra một tràng từ ngữ không ai hiểu nổi. Rồi từ bóng tối trong căn phòng nhỏ bước ra một ông lão chống nạng. Ông ra hiệu cho lũ trẻ đang sợ hãi né sang một bên, còn mình tiến về phía cửa. Ít ra lời ông nói còn có vài chữ nghe hiểu được.
"Người đàn bà kia là ai?" ông hỏi. "Cô ta tìm chúng tôi làm gì?"
Victor giải thích Anne là vợ hắn, họ chỉ là du khách đi nghỉ dưỡng từ dưới thung lũng lên, muốn leo núi và hy vọng có một chỗ tá túc qua đêm. Ánh mắt ông lão rời khỏi hắn, nhìn sang Anne trừng trừng.
"Vợ anh?" ông hỏi. "Cô ta không phải người từ núi Chân Lý xuống à?"
"Cô ấy là vợ tôi," Victor nhắc lại. "Chúng tôi từ Anh đến đây nghỉ dưỡng, trước giờ chưa từng đặt chân tới vùng này."
Ông lão quay sang thì thầm to nhỏ với người đàn ông trẻ. Sau đó, người đàn ông lùi vào trong, sâu trong nhà vang lên tiếng trao đổi. Một người phụ nữ xuất hiện, vẻ mặt còn kinh hãi hơn cả người đàn ông khi nãy. Victor kể, lúc bà ta nhìn Anne qua khung cửa, toàn thân run rẩy bần bật. Anne khiến họ thấy bất an.
"Cô ấy là vợ tôi," Victor nhắc lại một lần nữa. "Chúng tôi đi từ dưới thung lũng lên."
Cuối cùng, ông lão cũng làm cử chỉ chấp nhận và thấu hiểu.
"Tôi tin các người," ông nói. "Mời vào. Nếu đi từ thung lũng lên thì không sao. Chúng tôi chỉ cần thận trọng một chút."
Victor vẫy tay ra hiệu cho Anne. Cô chậm rãi bước lên từ con đường mòn, đứng cạnh hắn nơi ngưỡng cửa. Ngay cả lúc này, người phụ nữ kia vẫn sợ sệt nhìn cô, rồi dắt lũ trẻ lùi sâu vào buồng trong.
Ông lão ra hiệu mời họ vào. Phòng khách trống trải nhưng sạch sẽ, trong lò sưởi có củi đang cháy.
"Chúng tôi có mang theo đồ ăn," Victor đặt ba lô xuống, nói. "Cả nệm ngủ nữa. Chúng tôi không muốn làm phiền mọi người. Chỉ cần được ăn uống ở đây và ngủ dưới sàn là mãn nguyện lắm rồi."
Ông lão gật đầu. "Tốt lắm," ông nói. "Tôi tin anh."
Nói xong, ông cùng những người khác lui về buồng trong.
Victor bảo hắn và Anne đều thấy cách đón tiếp này thật khó hiểu. Họ không tài nào hiểu nổi tại sao ban đầu những người này lại khiếp sợ đến thế, rồi chỉ cần nghe nói hai người là vợ chồng đi từ dưới thung lũng lên thì lại đồng ý cho tá túc. Ăn uống xong, họ mở hành lý. Một lát sau, ông lão quay lại, mang cho họ ít sữa và phô mai. Người phụ nữ vẫn ở lại phía sau, nhưng người đàn ông trẻ đầy vẻ tò mò, đi theo sát bên ông lão.
Victor cảm ơn lòng hiếu khách của ông lão, bảo rằng họ chuẩn bị ngủ, sáng mai mặt trời vừa mọc sẽ tiếp tục leo lên đỉnh.
"Đường có dễ đi không?" hắn hỏi.
"Không khó đi," ông lão đáp. "Lẽ ra tôi nên tìm người đi cùng hai người, nhưng chẳng ai muốn đi cả."
Dáng vẻ ông co rúm lại. Victor bảo ông lại liếc nhìn Anne.
"Vợ anh ở lại đây sẽ không sao đâu," ông nói. "Chúng tôi sẽ chăm sóc cô ấy."
"Vợ tôi sẽ leo núi cùng tôi," Victor nói. "Cô ấy không chịu ở lại đâu."
Gương mặt ông lão thoáng vẻ lo âu.
"Vợ anh tốt nhất đừng trèo lên núi Chân Lý," ông nói. "Nguy hiểm lắm."
"Tại sao tôi lên núi Chân Lý lại nguy hiểm?" Anne hỏi.
Ông lão nhìn cô, nét mặt càng thêm bồn chồn.
"Với con gái," ông nói, "với đàn bà, nguy hiểm lắm."
"Nhưng tại sao chứ?" Anne gặng hỏi. "Tại sao? Ông vừa mới nói với chồng tôi là đường không khó đi mà."
"Nguy hiểm không nằm ở con đường," ông đáp. "Con trai tôi có thể chỉ đường cho hai người. Điều nguy hiểm là..." Victor kể ông lão dùng một từ mà cả hắn lẫn Anne đều không hiểu, nghe như "Sacerdotessa", hay "Sacerdochia" gì đó.
"Nghĩa là nữ tư tế, hoặc giáo sĩ," Victor nói. "Nhưng không thể là nghĩa đó được. Tôi tò mò không biết rốt cuộc ông ấy muốn nói gì."
Ông lão vừa vội vừa khổ sở, hết nhìn hắn lại nhìn sang Anne.
"Anh lên núi rồi xuống núi đều an toàn," ông nhắc lại với Victor. "Nhưng vợ anh thì không. Sacerdotessa có sức mạnh rất lớn. Người trong làng lúc nào cũng nơm nớp lo sợ cho con gái và đàn bà."
Victor nói nghe toàn bộ chuyện này cứ như một mẩu tin kỳ quái về chuyến thám hiểm châu Phi, kiểu mấy bộ lạc hoang dã trong rừng rậm đột ngột tấn công bắt cóc đàn bà rồi giam giữ lại.
"Anh chẳng biết ông ấy nói gì đâu," hắn bảo với Anne, "nhưng chắc họ tin sùng một thứ mê tín nào đó. Chắc em sẽ thấy hứng thú đấy, dù sao trong người em cũng chảy dòng máu Wales mà."
Hắn kể với tôi rằng lúc đó hắn đã cười, cốt để không khí bớt căng thẳng. Rồi cơn buồn ngủ ập đến, hắn trải nệm trước lò sưởi, chúc ông lão ngủ ngon rồi cùng nằm xuống với Anne.
Sau một ngày leo núi rã rời, hắn ngủ say như chết. Trước lúc rạng đông, tiếng gà gáy bên ngoài đánh thức hắn dậy.
Hắn quay người định xem Anne đã tỉnh chưa.
Tấm nệm đã bị lật tung, trống trơn. Anne đã đi mất...
Victor kể cả nhà vẫn chưa ai thức dậy, chỉ có tiếng gà gáy văng vẳng. Hắn ngồi dậy, xỏ giày, mặc áo khoác rồi bước ra ngoài cửa.
Mặt trời còn chưa mọc, sớm mai lạnh lẽo và tịch mịch, trên bầu trời còn sót lại vài vì sao lấp lánh le lói. Thung lũng cách hàng nghìn bộ phía dưới bị mây mù bao phủ, chỉ riêng nơi này, nơi sát đỉnh núi, mọi thứ mới quang đãng đến vậy.
Ban đầu, Victor không hề lo lắng. Hắn biết giờ đây Anne hoàn toàn có thể tự chăm sóc bản thân, không bao giờ để xảy ra sơ suất, thậm chí còn làm tốt hơn cả hắn. Cô sẽ không dại dột mạo hiểm. Hơn nữa ông lão cũng nói con đường này không khó đi. Dù vậy, hắn vẫn thấy chạnh lòng, vì Anne không đợi hắn, cô đã không giữ lời hứa mà lại tự ý tách ra leo núi một mình. Hắn không biết cô đã đi trước bao xa, điều duy nhất làm được lúc này là đuổi theo càng nhanh càng tốt.
Hắn quay vào nhà, mang theo phần lương khô mà Anne để quên. Hắn tính để lại hai chiếc ba lô ở đây, đợi khi xuống núi sẽ quay lại lấy, đến lúc đó có khi cả nể quá lại phải ngủ lại thêm một đêm.
Chắc tiếng động của hắn đã đánh thức chủ nhà. Ông lão bất chợt từ buồng trong bước ra, đứng sững sau lưng hắn. Ánh mắt ông rơi xuống tấm nệm trống không của Anne, rồi nhìn trừng trừng vào Victor, gần như là chất vấn.
"Vợ tôi xuất phát trước rồi," Victor nói. "Tôi tính đuổi theo cô ấy."
Sắc mặt ông lão vô cùng nghiêm trọng. Ông bước ra mép cửa mở toang, đứng đó nhìn về phía ngọn núi.
"Không nên để cô ấy đi," ông nói. "Anh không nên đồng ý." Trông ông rầu rĩ vô cùng. Victor kể ông cứ lắc đầu liên tục, miệng lẩm bẩm một mình.
"Không sao đâu," Victor nói. "Chắc tôi sẽ đuổi kịp cô ấy nhanh thôi, quá trưa chúng tôi sẽ quay lại đây."
Hắn đặt tay lên cánh tay ông lão, muốn làm ông yên lòng.
"Tôi e là không kịp nữa rồi," ông lão nói. "Cô ấy sẽ đi tìm họ, một khi gặp họ rồi, cô ấy sẽ không bao giờ trở về nữa."
Ông lại dùng từ "Sacerdotessa", nhắc đến sức mạnh của Sacerdotessa. Thái độ và nỗi âu lo của ông lúc này cũng lây sang Victor, khiến hắn bắt đầu cảm thấy sốt ruột và sợ hãi.
"Ý ông là trên đỉnh núi Chân Lý có người ở sao?" hắn hỏi. "Có ai đó sẽ tấn công, làm hại cô ấy à?"
Ông lão nói rất nhanh, tuôn ra một tràng dài khiến người ta khó mà bắt kịp ý tứ. Không, ông bảo, Sacerdotessa không làm hại cô ấy, họ không làm hại bất kỳ ai, nhưng họ sẽ thu nạp cô ấy làm một thành viên của họ. Anne sẽ đi tìm họ, cô ấy không thể kiềm chế nổi bản thân, sức mạnh của họ quá đỗi khủng khiếp. Ông lão kể hai ba mươi năm trước, con gái ông cũng đi tìm họ, từ đó ông không bao giờ gặp lại con nữa. Những người phụ nữ trẻ khác trong làng, cả phụ nữ dưới thung lũng, cũng từng bị Sacerdotessa triệu hồi. Một khi đã bị triệu hồi, họ tuyệt đối không bao giờ quay đầu lại. Từ đó về sau, chẳng ai còn thấy họ nữa, không một ai. Chuyện này đã xảy ra từ thời cha ông, thời ông nội ông, thậm chí còn sớm hơn thế nữa.
Giờ đây, không ai biết Sacerdotessa đến núi Chân Lý từ khi nào. Người còn sống chẳng ai từng thấy họ. Họ sống biệt lập sau những bức tường đá. Họ nắm giữ một nguồn sức mạnh mà ông lão quả quyết là ma thuật. "Có người bảo sức mạnh của họ đến từ trời cao, có kẻ lại nói đến từ quỷ dữ," ông nói. "Nhưng chúng tôi không biết, chúng tôi không tài nào biết được. Có lời đồn rằng Sacerdotessa trên núi Chân Lý không bao giờ già đi, họ mãi mãi trẻ đẹp, hút lấy sức mạnh từ mặt trăng. Họ thờ phụng mặt trăng và mặt trời."
Victor chắp vá được ngần ấy điều từ những lời mê sảng của ông lão. Hắn nghĩ đây chắc chắn chỉ là truyền thuyết, là sự mê tín dị đoan.
Ông lão lắc đầu, nhìn về con đường mòn trên núi. "Tối qua, tôi nhìn ra được từ trong mắt cô ấy," ông nói. "Tôi đã rất lo. Ánh mắt cô ấy hệt như ánh mắt của những người từng bị triệu hồi. Trước đây tôi từng thấy rồi. Con gái tôi, và những người khác nữa, đều như thế cả."
Lúc này, cả nhà đã thức giấc, lần lượt bước ra ngoài. Họ dường như đã lờ mờ đoán được chuyện gì xảy ra. Người đàn ông trẻ, người phụ nữ, thậm chí cả lũ trẻ con đều nhìn Victor bằng ánh mắt đầy lo âu, trong đó còn phảng phất một sự thương hại kỳ lạ. Hắn bảo không khí lúc đó không khiến hắn cảnh giác, mà chỉ làm hắn bực bội, khiến hắn liên tưởng đến những con mèo, chổi phù thủy và mấy trò ma thuật tà giáo từ thế kỷ mười sáu.
Mây mù dưới thung lũng chầm chậm tản ra. Bầu trời hắt xuống ánh ban mai dịu nhẹ, rọi sáng phương đông, lan tỏa khắp núi rừng, báo hiệu mặt trời sắp ló dạng.
Ông lão nói gì đó với người đàn ông trẻ rồi dùng nạng chỉ về phía trước.
"Con trai tôi sẽ đưa anh lên núi," ông nói. "Nhưng nó chỉ đi cùng anh một đoạn thôi, nó không muốn đi quá xa."
Victor kể lúc hắn xuất phát, ánh mắt của mọi người đều đổ dồn vào hắn, không chỉ gia đình ở căn nhà đầu tiên này mà cả những nhà khác trong làng cũng vậy. Hắn biết sau những cánh cửa chớp đóng kín, bên mép cửa khép hờ, có vô số cặp mắt đang lén lút nhìn ra. Cả làng đều đã thức dậy, họ vừa sợ hãi vừa không thể kiềm chế, dán chặt mắt vào bóng lưng hắn.
Người dẫn đường không hề có ý định bắt chuyện. Gã đi đằng trước, vai hơi khom, chỉ nhìn chăm chú vào con đường dưới chân. Victor cảm thấy gã chỉ vì nghe lệnh cha nên mới chịu ra dẫn đường cho mình.
Con đường gồ ghề đầy đá sỏi, có nhiều đoạn bị nứt toác, Victor đoán trước đây nơi này từng là một lòng suối, nếu có mưa sẽ hoàn toàn không thể đi qua. Nhưng lúc này đang là giữa hè, việc leo lên không mấy khó khăn. Sau một giờ leo núi suôn sẻ, cây cỏ, gai góc và bụi rậm đều đã bị bỏ lại phía sau. Đỉnh núi sừng sững ngay trên đầu, đâm thẳng lên trời cao, tách đôi sang hai bên như những ngón tay xòe ra. Vết nứt trên đỉnh núi nếu nhìn từ thung lũng, thậm chí từ ngôi làng kia, đều không thể nhận ra, đứng từ xa trông đỉnh đôi cứ như hợp lại làm một.
Mặt trời lên cao dần theo từng bước chân của họ, lúc này đã tỏa ra muôn ngàn tia nắng rực rỡ. Sườn đông nam của ngọn núi tắm mình trong ánh nắng, chuyển sang sắc màu san hô. Những đám mây khổng lồ mềm mại cuộn tròn, bao phủ thế giới dưới chân. Người dẫn đường của Victor đột ngột dừng bước, chỉ tay về phía trước, nơi có một gờ đá nhô ra men theo mép sườn núi dốc đứng uốn lượn về phía nam rồi khuất khỏi tầm mắt.
"Núi Chân Lý," gã nói rồi nhắc lại một lần nữa. "Núi Chân Lý."
Sau đó, gã thoăn thoắt quay người, đi ngược lại con đường cũ.
Victor gọi với theo nhưng gã không đáp, thậm chí chẳng thèm ngoảnh đầu lại. Chẳng mấy chốc, gã đã biến mất. Victor bảo hắn chẳng còn lựa chọn nào khác ngoài việc một mình tiến về phía trước. Hắn men theo những phiến đá bên mép vực, tin rằng Anne đang đợi mình ở đầu bên kia.
Hắn leo mất nửa tiếng mới vòng qua được gờ núi nhô ra. Càng đi, nỗi bất an trong lòng càng lớn, bởi sườn phía nam của ngọn núi dốc đứng vô cùng, độ dốc tăng lên đột ngột, chẳng mấy chốc sẽ không còn chỗ đặt chân.
"Sau đó," Victor kể, "tôi đi men theo một khe núi hẹp bước ra, sườn núi ở đó chỉ cách đỉnh chừng ba trăm bộ. Đúng lúc ấy, tôi nhìn thấy nó. Đó là một tu viện, được xây giữa hai đỉnh núi trơ trọi. Bốn bề tu viện bị bao bọc bởi những bức tường đá dựng đứng, vách đá cao đến cả nghìn bộ, phía dưới nối liền với sống núi, phía trên ngoại trừ bầu trời và đỉnh đôi của núi Chân Lý ra thì chẳng còn gì khác."
Hóa ra là thật. Victor không hề mất trí. Nơi đó thực sự tồn tại. Chẳng có tai nạn nào xảy ra cả. Giờ đây, hắn đang ở trong viện điều dưỡng, ngồi trên chiếc ghế cạnh lò sưởi gas, thuật lại những gì đã thực sự xảy ra, chứ không phải ảo tưởng sau một bi kịch.
Sau khi nói với tôi chừng ấy chuyện, dường như hắn đã bình tĩnh lại, cảm xúc căng thẳng đã lắng xuống, đôi bàn tay cũng không còn run rẩy. Trông hắn không còn xa lạ như lúc đầu, giọng nói cũng vững vàng hơn nhiều.
"Chỗ đó chắc chắn đã tồn tại hàng thế kỷ," một lát sau, hắn cất lời. "Chúa ơi, ai mà biết phải mất bao nhiêu thời gian mới đục đẽo được những vách đá như thế chứ! Tôi chưa từng thấy nơi nào nguyên sơ hoang tàn đến vậy, nhưng lại mang một vẻ đẹp kỳ lạ đến khó tả. Nó cứ như lơ lửng ở đó, treo giữa núi cao và vòm trời. Trên tường đá có rất nhiều khe hẹp dài dùng để đón gió và ánh sáng, nhưng không hề giống cửa sổ theo cách chúng ta thường nghĩ. Một tòa tháp hướng về phía tây, sừng sững bên bờ vực dựng đứng. Những vách đá khổng lồ vây quanh toàn bộ khu vực, khiến nó vững chãi như một pháo đài bất khả xâm phạm. Tôi không thấy lối vào, cũng chẳng thấy bóng người, tuyệt nhiên không có gì. Tôi đứng đó nhìn, và những khe cửa sổ hẹp dài kia cũng như đang nhìn chằm chằm vào tôi. Tôi chẳng thể làm gì khác ngoài việc đứng đợi ở đó, đợi Anne xuất hiện. Bởi vì lúc bấy giờ, tôi đã tin những lời ông lão nói, tôi biết chắc chắn đã có chuyện xảy ra. Những kẻ sống ở nơi này đã nhìn thấy Anne qua khe cửa sổ hẹp và triệu hồi cô ấy. Giờ đây, cô ấy đã ở bên trong cùng bọn họ. Chắc chắn cô ấy đã thấy tôi đứng ngay ngoài vách đá, và sắp ra gặp tôi. Thế nên, tôi đứng đó đợi, đợi suốt một ngày ròng..."
Lời lẽ của hắn rất mộc mạc, chỉ là sự trần thuật bình thản. Bất kỳ người chồng nào có lẽ cũng sẽ làm vậy, họ sẽ kiên nhẫn đợi người vợ vừa mạo hiểm đi gặp bạn bè trong chuyến hành trình trở về. Hắn ngồi xuống bên vách đá, lát sau mang bữa trưa ra ăn. Hắn ngắm nhìn những đám mây bao phủ thung lũng, lúc tụ lại, lúc tan biến; hắn ngắm nhìn ánh mặt trời gay gắt giữa hè rọi thẳng xuống núi Chân Lý trơ trọi, rọi thẳng vào tòa tháp. Những khe cửa hẹp dài, những bức tường đá bao quanh, tất cả đều bất động, lặng ngắt như tờ.
"Tôi ngồi ở đó suốt cả ngày," Victor nói. "Nhưng cô ấy không đến. Nắng gắt làm tôi chói mắt, buộc tôi phải lùi vào khe núi. Tôi nằm dưới bóng râm của một tảng đá nhô ra, từ đó vẫn có thể nhìn thấy tòa tháp và những khe cửa. Tôi với cậu trước đây cũng từng nếm trải sự tĩnh lặng của núi rừng, nhưng không nơi nào sánh được với núi Chân Lý.
"Thời gian chầm chậm trôi qua, tôi vẫn cứ đợi. Trời bắt đầu trở lạnh. Tôi càng lúc càng bất an, nhưng thời gian lại trôi nhanh hơn, chớp mắt mặt trời đã ngả về tây. Mặt đá đổi màu, ánh sáng rực rỡ biến mất, tôi bắt đầu hoảng sợ. Tôi chạy đến bên vách đá gào thét thật lớn. Tôi dùng tay lần mò khắp bức tường đá nhưng không tìm thấy lối vào, chẳng có gì cả. Tôi nghe thấy tiếng vọng của chính mình dội lại hết lần này đến lần khác. Ngẩng đầu lên, tôi chỉ thấy những khe cửa sổ kia. Tôi bắt đầu nghi ngờ, nghi câu chuyện của ông lão, nghi ngờ mọi thứ. Nơi này căn bản không thể có người ở, không thể có ai sinh sống suốt cả nghìn năm qua. Người ta xây nó từ thuở xa xưa rồi bỏ hoang. Anne chưa từng đến đây. Cô ấy đã ngã xuống vực rồi, ngay tại phiến đá hẹp ở cuối đường mòn, ngay chỗ gã đàn ông kia bỏ rơi tôi. Chắc chắn cô ấy đã rơi xuống vực sâu trước khi kịp trèo tới gờ núi phía nam. Những người phụ nữ khác từng đi con đường này, con gái ông lão, những cô gái dưới thung lũng, thảy đều như vậy, tất cả họ đều đã rơi xuống vực thẳm, chưa từng tới được điểm cuối của vách đá, chưa từng đặt chân tới đỉnh đôi."
Nếu giọng Victor vẫn căng thẳng như lúc đầu, lúc nào cũng chực sụp đổ, thì sự im bặt lúc này đã không đến mức bức bối đến thế. Căn phòng trong viện điều dưỡng đơn sơ, lạnh lẽo. Hắn ngồi đây, cạnh chiếc bàn ngày ngày la liệt chai lọ thuốc men, tiếng xe cộ từ phố Wigmore vọng vào. Giọng hắn đều đều, không một gợn sóng, hệt như tiếng kim đồng hồ tích tắc. Nếu lúc này hắn đột nhiên mất kiểm soát mà gào thét lên, có khi trông lại tự nhiên hơn.
"Nhưng tôi không dám quay về," hắn nói. "Trừ phi cô ấy tới. Tôi buộc phải tiếp tục đợi dưới chân vách đá. Những tầng mây kéo đến vây quanh tôi, chuyển sang màu xám xịt. Bóng tối len lỏi vào bầu trời, báo hiệu màn đêm buông xuống, tôi hiểu điều đó quá rõ. Chẳng mấy chốc, mặt đá, tường thành, khe cửa sổ đều nhuốm một màu vàng kim. Rồi đột nhiên, mặt trời biến mất, hoàng hôn vụt tắt, cái lạnh ập đến, màn đêm bao trùm."
Victor kể với tôi rằng hắn thức trắng đêm, tựa vào vách đá cho tới tận lúc rạng đông. Để giữ ấm, hắn chỉ còn cách đi đi lại lại. Khi bình minh ló rạng, người hắn đã lạnh cóng đến tê dại, đầu óc váng vất vì đói lả. Hắn chỉ mang theo lượng lương khô đủ cho hai người ăn đến trưa hôm qua.
Lý trí mách bảo hắn không thể cứ tiếp tục đợi như thế này. Hắn phải quay về làng lấy đồ ăn và nước uống. Nếu có thể, phải nhờ dân làng cùng đi tìm kiếm cứu nạn với hắn. Sau khi mặt trời lên, hắn miễn cưỡng rời khỏi vách đá. Bốn bề vẫn tĩnh lặng như tờ, hắn tin chắc sau bức tường đá kia chẳng có ai sinh sống.
Hắn quay ngược trở lại, vòng qua gờ núi, ra tới đường mòn, rồi bước đi trong sương sớm hướng về ngôi làng.
Victor bảo, đúng như hắn dự đoán, họ đều đang đứng đó đợi hắn. Ông lão đứng trước cửa nhà, quanh ông tụ tập rất nhiều hàng xóm, hầu hết là đàn ông và trẻ con.
Câu hỏi đầu tiên của Victor là: "Vợ tôi đã về chưa?" Trên đường từ đỉnh núi xuống, hắn đột nhiên lại dấy lên hy vọng, nghĩ biết đâu cô không đi con đường này mà leo lên bằng đường khác, giờ đã quay về làng rồi. Thế nhưng, khi nhìn thấy khuôn mặt của họ, tia hy vọng liền vụt tắt.
"Cô ấy không về nữa đâu," ông lão nói. "Chúng tôi đã nói với anh từ trước rồi. Cô ấy đã lên núi Chân Lý tìm họ."
Victor vẫn còn đủ lý trí để biết phải xin đồ ăn và nước uống trước khi tranh cãi với họ. Họ đưa cho hắn thức ăn và nước, đứng quanh hắn, nhìn hắn bằng ánh mắt thương hại. Victor bảo, nhìn thấy ba lô, nệm ngủ, bình nước và con dao găm của Anne, hắn đau đớn tột cùng, những vật dụng tùy thân này cô đều không mang theo.
Hắn ăn xong, họ vẫn đứng đó, đợi hắn mở lời. Hắn kể hết mọi chuyện cho ông lão, kể việc mình đã đợi suốt một ngày một đêm ra sao, kể chuyện những khe cửa sổ trên vách đá núi Chân Lý không hề lọt ra một tiếng động nào, xung quanh không một bóng người. Thỉnh thoảng ông lão lại dịch lời hắn cho những người hàng xóm nghe.
Victor nói xong, ông lão mới cất lời.
"Đúng như tôi đã nói, vợ anh đang ở đó, ở cùng với họ."
Sợi dây lý trí của Victor đứt phựt trong chớp mắt, hắn gầm lên giận dữ.
"Làm sao cô ấy ở đó được? Nơi đó không có người sống. Chết rồi. Trống rỗng rồi. Nơi đó đã chết hàng mấy thế kỷ rồi!"
Ông lão nghiêng người về phía trước, đặt tay lên vai Victor: "Chưa chết đâu. Những lời anh nói trước đây nhiều người cũng từng nói rồi. Họ cũng giống như anh, từng lên đó đợi. Hai mươi lăm năm trước, tôi cũng làm đúng một chuyện như thế. Người này là hàng xóm của tôi, nhiều năm trước vợ ông ấy cũng bị triệu hồi. Thế là ông ấy đợi ròng rã suốt ba tháng trời, ngày trông đêm mong, cũng chẳng thể đợi được cô ấy trở về. Những ai bị núi Chân Lý triệu hồi, không một ai quay lại."
Thế thì cô ấy đã rơi xuống vực chết rồi, chỉ có thể như thế thôi. Victor khăng khăng giữ ý kiến của mình, cầu xin họ cùng hắn đi tìm xác.
Ông lão nhẹ nhàng lắc đầu vẻ xót xa. "Trước đây chúng tôi cũng từng làm thế," ông nói. "Trong số những người đi cùng chúng tôi, có người dày dạn kinh nghiệm, họ quen thuộc từng tấc đất trên ngọn núi này, họ thậm chí còn lần xuống tận sườn phía nam, tới sát mép sông băng lớn, nơi mà vượt qua đó chẳng ai có thể sống sót, nhưng chúng tôi vẫn không tìm thấy xác. Những người phụ nữ bị triệu hồi không hề ngã xuống vực, họ không có ở đó. Họ đang ở cùng Sacerdotessa, trên núi Chân Lý."
Victor bảo lúc ấy hắn hoàn toàn tuyệt vọng. Tranh cãi tiếp cũng vô ích. Hắn biết mình phải xuống thung lũng cầu cứu, nếu ở đó cũng không ai chịu giúp, hắn sẽ đi xa hơn, đến những vùng đất hắn quen thuộc hơn ở đất nước này, nơi hắn có thể tìm được những người dẫn đường sẵn lòng đi cùng hắn.
"Xác vợ tôi đang ở một nơi nào đó trên ngọn núi này," hắn nói. "Tôi nhất định phải tìm ra. Nếu các người không giúp, tôi sẽ đi tìm người khác."
Ông lão ngoảnh lại, cất tiếng gọi một cái tên. Từ trong đám đông đang lặng lẽ đứng xem, một bé gái chừng chín tuổi bước ra. Ông lão đặt tay lên đầu cô bé.
"Đứa trẻ này," ông nói, "từng nhìn thấy Sacerdotessa, cũng từng nói chuyện với họ. Trước đây những đứa trẻ khác cũng từng thấy. Họ rất hiếm khi lộ diện, nếu có thì chỉ xuất hiện trước mặt con nít. Nó sẽ kể cho anh nghe những gì nó thấy."
Ánh mắt đứa bé nhìn thẳng vào Victor, rồi bắt đầu ngâm nga cất giọng the thé, trầm bổng lên xuống. Hắn kể, hắn nhận ra ngay câu chuyện này cô bé đã kể đi kể lại cho cùng một nhóm người nghe rất nhiều lần, đã thuộc làu như một bài thánh ca, một bài học thuộc lòng. Cô bé nói bằng tiếng địa phương, Victor không hiểu lấy một chữ.
Đứa bé dứt lời, ông lão bắt đầu dịch lại. Vì quá đỗi quen thuộc, ông cũng dùng đúng ngữ điệu trầm bổng ấy để đọc lại, hệt như đứa trẻ ban nãy.
"Hôm đó, cháu cùng các bạn ở trên núi Chân Lý. Trời đổ mưa rào, các bạn cháu đều chạy tán loạn. Cháu vừa đi vừa lạc đường, rồi đến một nơi có vách đá, có cửa sổ. Cháu sợ quá nên òa khóc. Cô ấy từ trong vách đá bước ra, người cao ráo và xinh đẹp lắm, đi cùng cô ấy còn có một người nữa cũng trẻ trung xinh đẹp không kém. Họ dỗ dành cháu. Cháu nghe thấy tiếng hát trên tòa tháp vọng xuống, cháu muốn cùng họ bước vào trong vách đá, nhưng họ bảo cháu không được vào, phải đợi đến năm mười ba tuổi mới được quay lại sống cùng họ. Họ mặc áo trắng dài đến đầu gối, để lộ tay chân, tóc cắt rất ngắn. Họ đẹp hơn bất kỳ ai trên cõi đời này. Họ dẫn cháu xuống núi Chân Lý, đưa ra tận con đường mòn mà cháu biết, rồi rời đi. Đó là tất cả những gì cháu biết."
Đọc xong, ông lão nhìn vào mặt Victor. Victor bảo sự quả quyết toát ra từ lời kể của đứa trẻ khiến hắn rúng động. Hắn cho rằng đứa bé này rõ ràng chỉ mơ một giấc mơ rồi coi nó là hiện thực.
"Tôi xin lỗi," hắn bảo với ông lão. "Tôi không thể tin câu chuyện của một đứa trẻ. Đó chỉ là tưởng tượng thôi."
Ông lão lại gọi tên đứa bé, dặn dò vài câu, cô bé liền co cẳng chạy biến ra khỏi nhà.
"Họ cho nó một chiếc thắt lưng bằng đá," ông lão nói. "Cha mẹ nó sợ có tà ma nên đã khóa lại cất đi. Giờ nó đi lấy đến cho anh xem."
Một lát sau, đứa bé quay lại. Nó đặt vào tay Victor một chiếc thắt lưng, vòng dây rất nhỏ, chỉ vừa vặn ôm lấy vòng eo thon hoặc quấn quanh cổ. Những viên đá trên đó trông như thạch anh, được gọt đẽo thủ công thành hình khối, gắn cẩn thận vào từng rãnh nhỏ trên bề mặt đai. Chiếc thắt lưng được gia công vô cùng tỉ mỉ, thậm chí có thể gọi là tinh xảo. Đây không phải tác phẩm của những người nông dân, không phải thứ đồ làm qua loa cho xong để giết thời gian trong những đêm đông dài. Victor lặng lẽ trả lại chiếc thắt lưng cho đứa trẻ.
"Có thể là con bé nhặt được trên núi," hắn nói.
"Đó không phải phong cách của chúng tôi," ông lão đáp. "Người dưới thung lũng cũng không làm thế, thậm chí ở những thành phố tôi từng đi qua trên đất nước này cũng chẳng ai làm vậy. Có người đã trao chiếc thắt lưng này cho đứa trẻ, đúng như lời nó vừa nói, là người sống trên núi Chân Lý trao cho nó."
Victor biết chẳng còn lý do gì để tranh cãi thêm. Họ quá ngoan cố, sự mê tín của họ đi ngược lại lẽ thường trên đời. Hắn hỏi ông lão liệu có thể cho hắn tá túc thêm một đêm nữa không.
"Mời anh cứ ở lại," ông lão nói, "cho đến khi anh hiểu ra sự thật."
Hàng xóm lần lượt tản đi, nơi đây lại trở về với vẻ tĩnh lặng thường ngày, cứ như chưa từng có chuyện gì xảy ra. Victor lại bước ra ngoài, lần này hắn đi về phía gờ núi phía bắc. Đi chưa được bao xa, hắn đã nhận ra rằng trong điều kiện thiếu thốn trang thiết bị lại không có người leo núi cừ khôi giúp đỡ, sống núi ở đây hoàn toàn không thể trèo lên nổi. Nếu Anne leo từ hướng này, cô chắc chắn sẽ bỏ mạng.
Hắn quay về làng. Ngôi làng nằm trên sườn núi phía đông, lúc này mặt trời đã lặn. Hắn bước vào phòng khách, thấy bữa tối đã được chuẩn bị sẵn, nệm ngủ cũng đã trải bên lò sưởi.
Hắn quá mệt mỏi, không nuốt nổi thứ gì, ngã vật xuống nệm rồi thiếp đi. Hôm sau, hắn dậy thật sớm, lại một lần nữa trèo lên núi Chân Lý. Hắn ngồi đó suốt cả ngày, đăm đăm nhìn vào những khe cửa sổ, kiên nhẫn đợi chờ. Mặt trời nung đốt vách đá, rồi vài tiếng sau lại ngả về tây. Không một tiếng động, chẳng một bóng người xuất hiện.
Hắn nhớ tới người dân làng từng ngày này qua ngày khác tới đây chờ đợi suốt ba tháng trời, tự hỏi giới hạn chịu đựng của mình là bao lâu, liệu có thể kiên định được như người đàn ông đó hay không.
Sang ngày thứ ba, vào giữa trưa, nắng gắt như thiêu như đốt, hắn không tài nào chịu nổi hơi nóng hầm hập bèn bước vào khe núi, nằm dưới tảng đá nhô ra, bóng râm nơi đó mang lại chút mát mẻ hiếm hoi. Đôi mắt mỏi nhừ, cộng thêm nỗi tuyệt vọng ngập tràn khắp cơ thể, hắn mệt mỏi thiếp đi.
Bất chợt, hắn giật mình tỉnh giấc. Kim đồng hồ chỉ năm giờ, trong khe núi đã trở lạnh. Hắn bò ra ngoài, nhìn về phía vách đá. Dưới ánh hoàng hôn muộn, mặt đá rực lên sắc vàng kim. Và rồi, hắn nhìn thấy cô. Cô đang đứng dưới chân vách đá, nơi đặt chân chỉ vẻn vẹn một khoảng nhỏ hẹp, ngay dưới là vực sâu thăm thẳm nghìn bộ.
Cô đứng đó, nhìn hắn. Hắn vừa chạy về phía cô vừa gào thét: "Anne... Anne..." Hắn bảo hắn nghe thấy tiếng nấc nghẹn của chính mình, cảm giác như tim sắp nổ tung lồng ngực.
Đến gần hơn, hắn mới nhận ra mình không thể bước qua được. Vực sâu chia cắt hai người. Khoảng cách giữa họ chỉ chừng vài bước chân, nhưng hắn không tài nào chạm tới cô.
"Tôi đứng chôn chân nhìn cô ấy," Victor nói. "Tôi không nói nên lời, như có thứ gì nghẹn ứ nơi cổ họng. Nước mắt tôi lăn dài trên má. Tôi gào khóc. Tôi vốn đã tin rằng cô ấy đã chết, tin rằng cô ấy đã rơi xuống vực sâu, nhưng giờ đây cô ấy đang đứng sờ sờ ngay trước mắt, bằng xương bằng thịt. Tôi không thốt nên lời. Tôi muốn hỏi: 'Chuyện gì đã xảy ra vậy? Em đã đi đâu?', nhưng vẫn không thốt ra được. Tôi nhìn cô ấy, và trong tích tắc, tôi tin hoàn toàn vào những lời ông lão và đứa bé đã nói. Dù có đáng sợ, dù có mù quáng đến đâu, tôi biết đó không phải tưởng tượng, không phải mê tín. Dù tôi chỉ nhìn thấy một mình Anne, nhưng nơi này bỗng chốc như sống dậy. Đằng sau những khe cửa sổ kia có vô số cặp mắt đang nhìn xuống tôi. Tôi có thể cảm nhận được họ đang ở rất gần, ngay sau bức tường đá đó. Mọi thứ đều kỳ dị, đáng sợ và chân thực đến rợn người."
Giọng Victor lại căng ra, tay hắn bắt đầu run rẩy. Hắn cầm cốc nước lên, uống ừng ực như người chết khát.
"Cô ấy không mặc quần áo của mình," hắn nói, "mà khoác một tấm áo choàng dài chấm gối giống như váy, thắt chiếc thắt lưng bằng đá, y hệt cái đứa bé kia cho tôi xem. Cô ấy đi chân trần, để lộ hai cánh tay. Điều làm tôi kinh hãi nhất là tóc cô ấy đã bị cắt rất ngắn, ngắn như tóc của tôi với cậu, điều đó khiến cô ấy trở nên khác lạ, trông trẻ hơn, nhưng ở một góc độ nào đó, lại khiến cô ấy trông vô cùng nghiêm nghị. Lúc này, cô ấy bắt đầu cất tiếng nói với tôi. Giọng cô ấy vẫn như mọi khi, cứ như chưa từng có chuyện gì xảy ra: 'Em mong anh hãy về nhà đi, Victor thân yêu, đừng lo lắng cho em nữa.'"
Victor kể với tôi thoạt đầu hắn gần như không dám tin cô lại có thể đứng đó nói ra những lời như vậy. Điều đó làm hắn liên tưởng tới mấy kẻ đồng cốt, những kẻ có thể gọi hồn người chết về trò chuyện. Hắn gần như không dám tin, không dám đáp lời. Hắn nghĩ, có lẽ cô đã bị thôi miên nên mới nói những lời trái với lòng mình.
"Tại sao lại muốn anh về nhà?" Giọng hắn rất dịu dàng, sợ làm kinh động đến tâm trí có lẽ đã bị hủy hoại của cô.
"Chỉ có thể như vậy thôi," cô đáp. Rồi cô mỉm cười, trông hoàn toàn bình thường, rất hạnh phúc, cứ như thể hai người đang ở nhà bàn bạc kế hoạch tương lai vậy. "Anh à, em không sao cả," cô nói, "em không phát điên, cũng không bị thôi miên, không hề trải qua những điều anh đang tưởng tượng đâu. Dân làng làm anh sợ hãi, em hiểu chứ. Sự hiện diện này mạnh mẽ hơn phần lớn nhân loại. Nhưng em luôn biết nó tồn tại ở một nơi nào đó trên thế giới này. Bao nhiêu năm qua, em vẫn luôn chờ đợi. Em biết khi có người dứt áo bước vào cõi tu, người thân của họ đều sẽ vô cùng đau đớn, nhưng rồi họ sẽ dần quen thôi. Em mong anh cũng vậy, Victor, xin anh đấy. Em mong anh cũng sẽ như thế, và nếu có thể, em mong anh hãy hiểu cho em."
