Chương 4
Chương 4: Núi Chân Lý 2
Đăng ngày 06/10/2026
19
Nàng vô cùng bình tĩnh, điềm đạm, mỉm cười nhìn xuống hắn.
"Ý em là," hắn nói, "em muốn ở lại nơi này cả đời?"
"Phải," nàng đáp, "duyên trần của em đã dứt. Anh phải tin điều đó. Em muốn anh về nhà, tiếp tục cuộc sống trước đây, trông nom nhà cửa đất đai. Nếu anh yêu ai đó, hãy cưới cô ấy, sống thật hạnh phúc. Anh yêu, em sẽ không bao giờ quên tình yêu, lòng tốt và sự hy sinh của anh, em cầu phúc cho anh. Nếu em chết, hẳn anh sẽ mong em được an nghỉ nơi thiên đường. Nơi đây, với em, chính là thiên đường. Nếu bắt em phải rời khỏi núi Chân Lý để trở về cõi trần, em thà nhảy xuống ngay bây giờ, gieo mình xuống vực sâu vạn trượng này."
Victor kể hắn cứ nhìn nàng chằm chằm. Toàn thân nàng tỏa ra thứ ánh sáng hắn chưa từng thấy, ngay cả vào những thời khắc hạnh phúc nhất giữa hai người cũng chưa từng có.
"Cậu và tôi," hắn nói với tôi, "đều từng đọc câu chuyện Chúa biến hình trong Kinh Thánh. Tôi chỉ có thể dùng cụm từ đó để miêu tả gương mặt nàng. Tôi không phát điên, cũng chẳng phải do xúc động, nàng thực sự như thế. Một thứ không thuộc về thế giới này đã chọn nàng. Cầu xin vô ích, ép buộc cũng chẳng xong, Anne thà gieo mình xuống vực chứ dứt khoát không về lại cõi trần. Tôi bất lực."
Hắn bảo hắn biết mình không thể làm gì, cảm giác bất lực sâu sắc đè bẹp hắn. Hắn và nàng như đang đứng nơi bến cảng, nàng sắp sửa bước lên con tàu không rõ sẽ chạy về đâu. Tiếng còi tàu sắp sửa vang lên, nhắc hắn rằng chỉ vài phút nữa, cầu tàu sẽ rút lại, nàng buộc phải rời đi.
Hắn hỏi nàng ở đây có đủ ăn đủ mặc không, nếu ốm đau có chỗ chữa trị không. Hắn muốn biết nàng có thiếu thứ gì không. Nàng mỉm cười, bảo trong vách đá có đủ mọi thứ nàng cần cho kiếp này.
Hắn nói với nàng: "Năm nào vào đúng dịp này tôi cũng sẽ quay lại đây để gọi em về. Tôi sẽ không bao giờ quên."
Nàng đáp: "Nếu anh làm thế, cũng chẳng khác nào năm nào cũng đến đặt hoa trước mộ, chỉ tổ khiến anh đau lòng thêm. Em mong anh tránh xa nơi này."
"Tôi không thể," hắn nói, "biết em ở ngay sau vách đá, làm sao tôi rời đi được?"
"Em không thể ra gặp anh nữa đâu," nàng nói, "đây là lần cuối chúng ta gặp nhau. Nhưng hãy nhớ, em sẽ mãi mãi như lúc này. Đó là một phần của đức tin. Xin hãy nhớ lấy dáng vẻ hiện tại của em."
Sau đó, Victor bảo, nàng bảo hắn rời đi. Hắn không đi, nàng sẽ không thể trở lại vách đá. Mặt trời đã xuống thấp, vách đá chìm dần vào bóng tối.
Victor nhìn Anne hồi lâu, rồi quay lưng lại với người phụ nữ đang đứng bên mép đá, đi thẳng về hẻm núi, tuyệt nhiên không ngoái đầu nhìn lại. Vào đến hẻm núi, hắn đợi một chốc rồi nhìn lại vách đá. Anne đã không còn ở đó, chỉ còn vách đá, khe cửa sổ hẹp, và rặng Song Đỉnh vẫn chưa chìm hẳn vào bóng tối.
Mỗi ngày tôi đều dành nửa tiếng đến viện điều dưỡng thăm Victor. Hắn dần hồi phục, ngày càng giống với con người trước kia. Tôi đã nói chuyện với bác sĩ điều trị, y tá trưởng và các hộ lý, họ đều bảo hắn không bị tâm thần, chỉ là bị chấn động quá mạnh dẫn đến suy nhược tinh thần. Những buổi gặp gỡ trò chuyện giữa chúng tôi giúp ích rất nhiều cho sự hồi phục của hắn. Hai tuần sau, hắn xuất viện, đến ở cùng tôi tại Westminster.
Trong những đêm thu ấy, chúng tôi cứ nhắc đi nhắc lại những chuyện đã qua. Tôi hỏi hắn nhiều câu tỉ mỉ hơn. Hắn khẳng định trước đây Anne không hề có biểu hiện gì bất thường. Hôn nhân của họ rất hạnh phúc, bình thường. Hắn cũng thừa nhận lối sống thanh tâm quả dục, kham khổ kiểu Sparta của nàng là hiếm thấy, nhưng không đến mức khiến hắn thấy kỳ lạ, đó vốn là tính cách của Anne. Tôi bảo hắn tôi từng thấy nàng đi chân trần trên bãi cỏ phủ sương giá trong vườn. Phải, hắn nói, nàng đúng là người như vậy. Nhưng hắn tôn trọng sự nghiêm cẩn, ít lời của nàng, chưa từng can thiệp.
Tôi hỏi hắn biết được bao nhiêu về cuộc sống của Anne trước khi kết hôn. Hắn bảo hắn biết rất ít. Bố mẹ nàng mất sớm, nàng được một người dì ở Wales nuôi lớn. Xuất thân chẳng có gì kỳ quặc, cũng không có vết nhơ nào phải giấu giếm, nhìn từ góc độ nào thì quá trình trưởng thành của nàng cũng giống hệt người bình thường.
"Vô ích thôi," Victor nói, "cậu không giải thích được vì sao Anne lại làm thế đâu. Nàng là chính nàng, độc nhất vô nhị. Giống như cậu không thể giải thích vì sao có người sinh ra bình thường, đùng một cái lại trở thành nhạc sĩ lừng danh, nhà thơ, hay trở thành một vị thánh. Họ cứ thế xuất hiện, không giải thích nổi. Gặp được nàng, tôi như bước vào thiên đường; mất nàng, tôi như rơi xuống địa ngục. Nhưng tôi phải sống tiếp, đó là điều nàng mong muốn. Năm nào tôi cũng sẽ trở lại núi Chân Lý."
Cuộc đời hắn sụp đổ hoàn toàn, vậy mà hắn lại bình thản chấp nhận, điều đó làm tôi bàng hoàng. Nếu rơi vào bi kịch như thế, e rằng tôi không tài nào gượng dậy nổi sau cơn tuyệt vọng. Trong núi có một tổ chức bí ẩn, chỉ trong vài ngày ngắn ngủi đã khống chế được một người phụ nữ đầy trí tuệ và cá tính, chuyện này thật rợn người. Nếu là phụ nữ nông thôn ngu dốt bị mê hoặc lầm đường lạc lối, người nhà vì mê tín mà đành khoanh tay đứng nhìn, thì còn hiểu được phần nào. Nhưng chúng tôi không thể như thế. Tôi nói suy nghĩ của mình cho Victor. Tôi bảo hắn có thể liên hệ với chính quyền nước đó thông qua đại sứ quán, nhờ chính phủ nước ta hỗ trợ để mở cuộc điều tra bên đó, kéo báo chí vào cuộc. Tôi nói mình đã sẵn sàng hành động. Chúng ta đang sống ở thế kỷ hai mươi, không phải thời Trung Cổ. Một nơi như núi Chân Lý không được phép tồn tại. Tôi sẽ khuấy động dư luận, tạo sức ép quốc tế.
"Nhưng để làm gì chứ," Victor khẽ nói, "mục đích là gì?"
"Đưa Anne về," tôi đáp, "và giải thoát cho những người khác, không để gia đình ai phải ly tán nữa."
"Không được đâu," Victor nói, "chúng ta không thể đi phá dỡ tu viện khắp nơi. Trên đời này có hàng trăm tu viện như thế."
"Khác nhau chứ," tôi cãi lại, "những tu viện kia là tổ chức hợp pháp, đã tồn tại nhiều thế kỷ."
"Tôi nghĩ, núi Chân Lý rất có thể cũng như vậy."
"Họ sống thế nào, ăn uống ra sao, ốm đau chết chóc thì tính sao?"
"Tôi không biết. Tôi cố không nghĩ đến những chuyện đó. Tôi chỉ biết Anne nói nàng đã tìm thấy lẽ sống của đời mình, nàng đang hạnh phúc. Tôi sẽ không phá hủy niềm hạnh phúc ấy."
Rồi hắn nhìn tôi, giọng nửa tỉnh nửa mơ: "Lạ thật, cậu lại nói ra những lời như thế. Đáng lẽ cậu phải hiểu cảm xúc của Anne hơn tôi chứ. Trong hai đứa mình, cậu mới là người mê leo núi. Hồi trước đi leo núi cùng nhau, cậu toàn say sưa ngâm thơ cho tôi nghe — Trần thế quá ồn ào, nay cũng như xưa, vơ vét rồi phung phí, sức cùng lực kiệt."
Tôi nhớ mình đã đứng dậy bước ra bên cửa sổ, nhìn con phố mờ sương ven bờ kè. Tôi không nói gì. Lời hắn chạm sâu vào lòng tôi. Tôi không thể đáp lại. Tôi biết, tận sâu trong đáy lòng, sở dĩ tôi căm ghét huyền thoại về núi Chân Lý, muốn hủy diệt nơi đó, là vì Anne đã tìm thấy chân lý nàng theo đuổi, còn tôi thì chưa…
Cuộc trò chuyện ấy giữa tôi và Victor, nếu không phải dấu chấm hết cho tình bạn, thì ít nhất cũng là một bước ngoặt. Chúng tôi đều đã đi đến nửa đời người. Về lại Shropshire không lâu, hắn viết thư cho tôi, bảo định sang tên nhà đất cho một đứa cháu trai vẫn đang đi học, mấy năm tới định để nó đến ở cùng vào các kỳ nghỉ cho quen dần với cơ ngơi này. Xa hơn nữa, hắn cũng chưa biết tính sao. Hắn không định sắp xếp gì cả. Khi ấy, tương lai của tôi cũng đầy biến số. Do yêu cầu công việc, tôi phải sang Mỹ sống hai năm.
Một năm sau đó, trật tự thế giới sụp đổ. Đó là năm 1914.
Victor là một trong những người tòng quân sớm nhất. Có lẽ hắn nghĩ đó là câu trả lời mình đang tìm kiếm, hoặc giả hắn nghĩ mình sẽ chết trên chiến trường. Sau khi kết thúc công việc ở Mỹ, tôi mới làm theo hắn. Nhưng rõ ràng, đó không phải là câu trả lời tôi tìm kiếm. Từng giây từng phút trong quân ngũ đều khiến tôi chán ghét. Suốt thời kỳ chiến tranh, tôi không gặp lại Victor. Chúng tôi không tác chiến cùng một mặt trận, thậm chí vào các kỳ nghỉ phép cũng chẳng gặp được nhau. Nhưng tôi có nhận được một lá thư của hắn, trong thư viết:
Dù xảy ra bao nhiêu chuyện, tôi vẫn giữ trọn lời hứa, năm nào cũng đến núi Chân Lý. Tôi trọ lại nhà ông lão trong làng, hôm sau leo lên đỉnh núi. Nơi đó vẫn như xưa, tĩnh mịch như tờ. Tôi để lại một bức thư cho Anne dưới vách đá, rồi ngồi lì ở đó suốt cả ngày, nhìn ngắm nơi ấy, cảm nhận nàng đang ở bên cạnh. Tôi biết nàng sẽ không xuất hiện. Ngày hôm sau, tôi lại lên, mừng đến phát điên khi thấy thư hồi âm của nàng. Nếu thứ đó có thể gọi là một bức thư. Đó là một phiến đá khắc chữ, tôi nghĩ đây hẳn là cách giao tiếp duy nhất của họ. Nàng bảo nàng vẫn khỏe, rất bình an, rất hạnh phúc. Nàng cầu chúc cho tôi, và cho cả cậu. Nàng bảo tôi đừng lo lắng cho nàng nữa. Chỉ có vậy thôi. Giống như tôi từng nói với cậu trong viện điều dưỡng, chuyện này chẳng khác nào trò chuyện với một linh hồn đã khuất. Nhận được lá thư này, tôi buộc phải, và thực sự thấy mãn nguyện. Nếu không chết trên chiến trường, có lẽ tôi sẽ tìm một nơi nào đó ở xứ sở này để sinh sống, như thế sẽ ở gần nàng hơn. Dẫu không bao giờ được nhìn thấy hay nghe thấy giọng nói của nàng nữa, nhưng mỗi năm nhận được vài chữ khắc trên đá, tôi cũng cam lòng.
Chúc cậu may mắn, người bạn cũ. Không biết giờ này cậu đang ở phương nào.
Victor.
Sau khi hiệp ước đình chiến được ký kết, tôi giải ngũ. Trở lại cuộc sống bình thường, tôi lập tức dò la tung tích của Victor. Tôi gửi thư về nhà hắn ở Shropshire, nhận được hồi âm lịch thiệp từ đứa cháu trai. Cháu hắn đã tiếp quản nhà cửa và đất đai ở đó. Victor bị thương, nhưng không nặng. Hắn đã rời khỏi nước Anh, ra nước ngoài, không phải Ý thì là Tây Ban Nha, đứa cháu cũng không dám chắc. Nhưng nó tin chú mình đã quyết định định cư hẳn ở đó. Nếu nghe ngóng được tin gì, nó sẽ báo cho tôi. Thế nhưng, bặt vô âm tín. Về phần mình, vì không thích London thời hậu chiến và con người nơi đó, tôi dứt áo ra đi, chuyển sang Mỹ định cư.
Suốt hai mươi năm sau, tôi không gặp lại Victor lần nào nữa.
Cuộc hội ngộ của chúng tôi không phải là ngẫu nhiên, tôi tin chắc đó là định mệnh. Theo tôi, cuộc đời tựa như một cỗ bài, những cuộc hạnh ngộ và những người ta yêu trong kiếp này đều giao nhau qua từng lần xáo bài. Cùng mang một chất bài, chúng tôi đều bị thao túng trong tay số phận. Ván bài bắt đầu, rút bài, chuyển bài. Năm năm mươi lăm tuổi, tôi trở lại châu Âu, đó là khoảng hai ba năm trước Thế chiến thứ hai. Cơ duyên nào đưa tôi trở lại không quan trọng, tóm lại, tôi đã về lại châu Âu.
Khi tôi bay từ thủ đô nước này sang thủ đô nước khác — tên hai nơi này không quan trọng — máy bay phải hạ cánh khẩn cấp xuống một vùng núi non hoang vu, may mắn không ai thiệt mạng. Suốt hai ngày ròng, phi hành đoàn, hành khách, trong đó có cả tôi, hoàn toàn mất liên lạc với thế giới bên ngoài. Chúng tôi dựng lều bên cạnh thân máy bay đã hư hại một phần, chờ đợi cứu hộ. Tai nạn này leo lên trang nhất các tờ báo khắp thế giới, chiếm dung lượng lớn hơn cả tình hình chiến sự căng thẳng ở châu Âu suốt mấy ngày liền.
Bốn mươi tám giờ ấy không quá khó khăn. May là trên máy bay không có phụ nữ và trẻ em, nên cánh đàn ông chúng tôi vẫn giữ được tinh thần lạc quan, chờ người tới cứu. Chúng tôi tràn trề niềm tin rằng chẳng bao lâu nữa sẽ được cứu thoát. Trước khi hạ cánh khẩn cấp, hệ thống vô tuyến vẫn hoạt động bình thường, nhân viên vận hành đã kịp phát đi tọa độ của chúng tôi. Vì vậy, chúng tôi chỉ cần giữ ấm và kiên nhẫn đợi.
Nhiệm vụ của tôi ở châu Âu đã hoàn thành, bên Mỹ chắc cũng không có việc gì gấp gáp. Vụ hạ cánh khẩn cấp này quả thực kỳ lạ, bởi tôi nhận ra mình đang ở một nơi từng khiến máu trong người tôi sôi sục nhiều năm trước. Tôi sống ở thành phố đã lâu, đã quen với tiện nghi đủ đầy. Nhịp sống căng thẳng, gấp gáp, tràn đầy sinh lực của nước Mỹ, nguồn năng lượng khiến người ta nghẹt thở của thế giới mới đã khiến tôi quên mất sợi dây liên kết vẫn chưa hề đứt đoạn với quá khứ.
Tôi nhìn cảnh hoang vu và hùng vĩ quanh mình, chợt hiểu bao năm qua mình đã đánh mất điều gì. Tôi quên mất những người xung quanh, quên đi thân máy bay màu xám méo mó, quên cả mái tóc hoa râm, thân hình nặng nề của mình, quên đi gánh nặng suốt năm mươi lăm năm qua. Giữa chốn hoang vu đã trải qua bao thế kỷ này, thời gian như đảo lộn. Tôi lại biến thành chàng trai trẻ thuở nào, tràn trề hy vọng và nhiệt huyết, đi tìm câu trả lời cho sự vĩnh hằng, và câu trả lời ấy đang hiển hiện rõ ràng nơi đỉnh núi xa xăm kia. Tôi đứng chết lặng ở đó, trong bộ đồ thành thị kệch cỡm với khung cảnh này, cơn sốt leo núi lại bùng cháy trong huyết quản.
Tôi muốn tránh xa xác máy bay, tránh xa những gương mặt hốc hác nhợt nhạt kia, quên đi những tháng năm đã hoang phí. Tôi muốn vứt bỏ tất cả, để chàng thiếu niên vừa thức giấc leo lên những đỉnh cao, chạm tới vinh quang. Tôi biết cảm giác khi đứng trên núi cao. Không khí ở đó buốt giá hơn, xung quanh tĩnh mịch hơn. Tôi từng nếm trải cảm giác bỏng rát kỳ lạ khi chạm tay vào mặt băng, từng cảm nhận ánh nắng xuyên thấu làn da, từng trải qua khoảnh khắc hụt chân suýt rơi khỏi mép vực hẹp, hai tay nắm chặt sợi dây thừng, tim đập trật một nhịp vì kinh hoàng.
Tôi ngẩng đầu ngắm nhìn những ngọn núi tôi hằng yêu dấu, thấy mình như một kẻ phản bội, vì những lạc thú và an nhàn trần tục mà phản bội chúng. Khi tôi và những người trên máy bay được cứu, tôi sẽ bù đắp lại quãng thời gian đã mất. Tôi không cần vội về Mỹ, có thể ở lại châu Âu nghỉ ngơi một chuyến, leo lên những ngọn núi cao một lần nữa. Tôi sẽ chuẩn bị kỹ càng, mua sắm quần áo và trang bị phù hợp. Đưa ra quyết định này, tôi thấy nhẹ nhõm, không còn bị những chuyện phiền toái nơi trần thế ràng buộc, mọi thứ dường như chẳng còn quan trọng nữa. Tôi quay lại với đám đông, chui vào lều, cùng mọi người nói cười rôm rả, trải qua quãng thời gian chờ đợi cứu viện.
Ngày hôm sau, chúng tôi được cứu. Lúc rạng đông, khi nhìn thấy chiếc máy bay lượn ở độ cao cả trăm thước, chúng tôi biết mình đã thoát nạn. Trong đội cứu hộ có những tay leo núi cừ khôi và người dẫn đường, toàn những gã thô kệch nhưng rất đỗi xởi lởi. Họ mang theo quần áo, thức ăn và dụng cụ. Họ thú thực rất đỗi ngạc nhiên khi thấy những thứ mình mang theo đều dùng được, bởi họ cứ ngỡ chúng tôi không còn ai sống sót.
Dưới sự dẫn dắt của họ, chúng tôi chậm rãi xuống núi, sang ngày thứ hai mới tới được thung lũng. Đêm trước khi tới nơi, chúng tôi ngủ lại ở phía bắc của rặng núi lớn. Nhìn ngọn núi cao sừng sững bên cạnh chiếc máy bay tàn tạ, tôi thấy nó dường như xa vời vợi, không tài nào trèo lên nổi. Trời sáng, chúng tôi lại lên đường, hôm đó trời quang mây tạnh, thung lũng dưới chân thu trọn vào tầm mắt. Phía đông ngọn núi rất dốc, theo tôi phán đoán thì con người không thể đi qua, nó nối thẳng lên ngọn đơn phong phủ tuyết trắng xóa, hoặc có lẽ là song phong, đâm thẳng lên trời như những khớp ngón tay nắm chặt đến trắng bệch.
Lúc bắt đầu xuống núi, tôi hỏi đội trưởng đội cứu hộ: "Hồi trẻ tôi thường leo núi, nhưng chưa bao giờ đến nước này. Ở đây có nhiều người đến leo núi không?"
Hắn lắc đầu, bảo tôi điều kiện ở đây rất khắc nghiệt. Hắn và đồng đội từ nơi khác tới. Dân cư ở thung lũng phía đông này lạc hậu ngu muội, cũng chẳng có cơ sở vật chất nào phục vụ khách du lịch hay người ngoài. Nếu tôi muốn leo núi, hắn có thể đưa tôi đến nơi khác, ở đó có người giúp đỡ. Nhưng mùa này đi leo núi thì muộn quá rồi.
Tôi tiếp tục nhìn về rặng núi phía đông, xa xôi thế, đẹp đẽ thế.
"Hai đỉnh núi phía đông kia," tôi hỏi, "tên là gì?"
Hắn đáp: "Núi Chân Lý."
Giờ thì tôi đã biết điều gì đưa tôi trở lại châu Âu rồi…
Tại thị trấn cách nơi máy bay hạ cánh khẩn cấp hai mươi dặm, tôi chia tay những người cùng đi. Họ lên xe tới nhà ga gần nhất để về lại thế giới văn minh, còn tôi ở lại. Tôi thuê một phòng trong một quán trọ nhỏ, gửi hành lý ở đó. Tôi mua một đôi ủng chắc chắn, một chiếc quần cưỡi ngựa, một chiếc áo gi-lê, mấy chiếc sơ mi, rồi rời thị trấn, đi về phía núi.
Đúng như người dẫn đường đã nói, mùa này leo núi quả thực quá muộn, nhưng tôi không bận tâm. Tôi lại một thân một mình bắt đầu hành trình leo núi. Tôi đã quên mất việc ở một mình có sức chữa lành lớn đến nhường nào. Sức lực ngày xưa lại tràn vào đôi chân và hai lá phổi, luồng không khí buốt giá chui qua từng lỗ chân lông. Người đàn ông năm mươi lăm tuổi là tôi suýt nữa thì bật cười thành tiếng. Những phiền toái, áp lực, nỗi bất an và bồn chồn nơi trần thế, ánh đèn thành phố và bầu không khí tẻ ngắt, tất cả đều tan biến theo gió. Trước kia chắc tôi phải phát điên mới chịu đựng được tất cả những thứ đó lâu đến vậy.
Tôi mang theo tâm trạng phấn khích khôn tả đến thung lũng phía đông núi Chân Lý. Nơi này chẳng thay đổi mấy, gần như y hệt những gì Victor từng miêu tả năm xưa. Thị trấn vừa nhỏ vừa thô sơ, người sống ở đây nom ủ rũ, chẳng ai nở một nụ cười. Tôi thấy một quán trọ — thực ra cái vẻ tồi tàn của nó khó lòng gọi là quán trọ — bước vào hỏi xem có thể ở lại một đêm không.
Chủ quán rất lạnh nhạt, nhưng cũng không hẳn là thô lỗ. Tôi là người khách duy nhất ở đây. Sau khi dùng bữa tối trên chiếc bàn kiêm cả quầy bar lẫn bàn ăn, tôi hỏi người chủ quán đứng sau quầy xem đường lên núi Chân Lý còn đi được không. Hắn đang uống ly rượu tôi vừa mời, chẳng mấy hứng thú với tôi.
"Tôi nghĩ chắc đi được, ít nhất là tới được ngôi làng trên kia. Qua khỏi làng thì tôi chịu," hắn nói.
"Các người có qua lại với người trên làng không?"
"Họa hoằn lắm. Có lẽ thế. Mùa này thì không," hắn đáp.
"Ở đây từng có khách du lịch đến chưa?"
"Gần như không. Họ hay đi về phía bắc, bên đó điều kiện tốt hơn."
"Trong làng có chỗ nào trọ lại qua đêm không?"
"Không biết."
Tôi ngập ngừng một lát, nhìn gương mặt dài ngoẵng của hắn. Rồi tôi nói: "Vậy các Sacerdotessa còn sống trên núi Chân Lý không?"
Hắn giật bắn mình, mắt dán chặt vào tôi, người nhoài lên quầy bar, nói: "Rốt cuộc ông là ai? Ông biết những gì?"
"Vậy là họ vẫn còn tồn tại?" tôi hỏi.
Hắn nhìn tôi đầy ngờ vực. Hai mươi năm qua, đất nước của họ đã trải qua bao biến cố, ngập tràn bạo lực, cách mạng, cha con trở mặt thành thù. Góc núi xa xôi hẻo lánh này chắc chắn cũng chịu ảnh hưởng. Có lẽ chính vì vậy mà họ mới dè dặt đến thế.
"Có vài lời đồn," hắn chậm rãi nói, "tôi không muốn dính líu vào mấy chuyện đó. Nguy hiểm lắm, thể nào cũng có ngày rước họa vào thân."
"Rước họa cho ai?"
"Cho đám dân làng, và cho cả những kẻ có thể đang sống trên núi Chân Lý, tình hình của họ ra sao tôi chịu. Cả đám người dưới thung lũng chúng tôi nữa. Tôi không biết. Cứ coi như không biết thì chẳng ai hại được tôi."
Hắn uống cạn ly rượu, rửa sạch ly, lấy giẻ lau quầy bar, nôn nóng muốn tống khứ tôi đi.
"Ngày mai ông muốn ăn sáng lúc mấy giờ?" hắn hỏi.
Tôi bảo bảy giờ, rồi lên lầu về phòng.
Tôi mở cánh cửa sổ hai lớp, bước ra đứng ở ban công hẹp. Thị trấn rất tĩnh lặng, trong bóng đêm gần như không có một đốm đèn le lói. Đêm lạnh buốt. Trăng đang lên, chắc ngày mai hoặc ngày kia sẽ tròn. Ánh trăng soi tỏ rặng núi đen kịt trước mắt tôi. Một cảm giác xúc động kỳ lạ trào dâng, như thể tôi đang quay ngược thời gian. Nhiều năm trước, vào mùa hè năm 1913, có lẽ Victor và Anne cũng từng ở căn phòng này. Có lẽ Anne cũng từng đứng ở ban công này ngắm nhìn núi Chân Lý, còn Victor chẳng hề hay biết bi kịch sắp xảy ra vài giờ sau đó, vẫn đang cất tiếng gọi nàng trong phòng.
Giờ đây, lần theo dấu vết của họ, tôi cũng đã đến núi Chân Lý.
Sáng hôm sau, tôi ăn sáng ở quầy bar, người chủ quán không xuất hiện. Một cô gái mang đồ ăn sáng ra cho tôi. Có lẽ là con gái hắn. Cô ta im lặng, lễ phép, còn chúc tôi một ngày tốt lành.
"Tôi chuẩn bị đi leo núi," tôi nói, "thời tiết trông có vẻ đẹp. Cô từng đến núi Chân Lý chưa?"
Cô ta lập tức lảng tránh ánh mắt tôi.
"Chưa," cô ta nói, "chưa bao giờ, tôi chưa từng rời khỏi thung lũng."
Tôi tỏ ra thản nhiên, tùy tiện. Tôi bảo mình có mấy người bạn từng đến đó, tôi không nói là vào lúc nào. Tôi kể họ đã leo lên đỉnh núi, nhìn thấy vách đá giữa hai đỉnh, rồi còn tò mò dò hỏi về những người sống trong vách đá nữa.
"Họ còn sống ở đó không?" Tôi vờ như buột miệng hỏi, châm một điếu thuốc.
Cô ta căng thẳng ngoái lại nhìn, như sợ có người nghe lén.
"Nghe nói vẫn còn," cô ta đáp, "bố tôi không bao giờ nhắc đến chuyện đó trước mặt tôi. Đó là đề tài cấm kỵ với người trẻ."
Tôi tiếp tục rít thuốc.
"Tôi sống ở Mỹ," tôi nói, "ở bên đó tôi thấy hầu như nơi nào cũng vậy, hễ đám thanh niên tụ tập lại là thích bàn tán về những chuyện cấm kỵ nhất."
Cô ta cười nhạt, không nói gì.
"Tôi dám chắc cô và bạn bè cũng thường lén lút bàn về núi Chân Lý." Tôi nói.
Tôi thấy hơi xấu hổ vì sự giả tạo của mình, nhưng tôi nghĩ lối nói lạt mềm buộc chặt này là cách tốt nhất để moi tin.
"Vâng," cô ta nói, "đúng thế. Nhưng chúng tôi không dám làm ầm ĩ. Có điều gần đây…" Cô ta lại ngoái nhìn ra sau lần nữa, rồi quay lại, hạ thấp giọng, "Một cô gái tôi quen rất thân, đáng lẽ sắp cưới chồng rồi. Tự dưng một hôm cô ấy bỏ nhà đi, rồi không bao giờ trở về nữa. Người ta bảo cô ấy đã bị núi Chân Lý triệu hồi."
"Không ai thấy cô ấy đi à?"
"Không. Cô ấy đi trong đêm, chẳng để lại lời nào."
"Liệu có khi nào cô ấy không lên đó, mà xuống phố, đến mấy khu du lịch không?"
"Chắc không đâu. Với lại, ngay trước đó, hành vi của cô ấy lạ lắm. Có người nghe thấy cô ấy nói mớ, cứ lẩm bẩm về núi Chân Lý."
Đợi một lúc, tôi tiếp tục làm ra vẻ bâng quơ để hỏi cô ta.
"Núi Chân Lý có sức hút gì thế?" Tôi hỏi, "Điều kiện trên đó chắc chắn khắc nghiệt đến mức không chịu nổi, thậm chí còn rất tàn nhẫn ấy chứ?"
"Những người được triệu hồi không nghĩ thế đâu," cô ta lắc đầu, "họ giữ mãi tuổi thanh xuân, không bao giờ già đi."
"Đã không ai thấy họ, sao cô biết được?"
"Vốn là như thế mà. Từ trước đến nay chúng tôi đều tin như vậy. Thế nên người trong thung lũng mới vừa ghét, vừa sợ, lại vừa ghen tị với họ. Người trên núi Chân Lý nắm giữ bí mật của sự sống."
Cô ta nhìn ra rặng núi ngoài cửa sổ, ánh mắt thoáng buồn.
"Còn cô thì sao?" Tôi hỏi, "Cô có nghĩ mình sẽ được triệu hồi không?"
"Tôi không xứng để họ triệu hồi," cô ta đáp, "với lại, tôi cũng sợ."
Cô ta dọn tách cà phê của tôi, đưa đĩa hoa quả lại.
"Vụ mất tích của cô gái gần đây," cô ta nói, "có khi sẽ gây ra rắc rối lớn. Giờ người trong thung lũng đang phẫn nộ lắm. Có mấy người đã lên làng, muốn đánh thức đám người trên đó, rồi tập hợp mọi người xông vào vách đá. Đám đàn ông ấy mà phát điên lên thì sẽ tìm cách giết sạch người trên núi Chân Lý, gây ra chuyện tày đình cho xem. Quân đội sẽ kéo tới, lúc đó khó tránh khỏi điều tra, trừng phạt, nổ súng, chẳng ai có kết cục tốt đẹp đâu. Cho nên, tình hình bây giờ căng thẳng lắm, lòng người hoang mang, ai nấy đều thì thầm bàn tán."
Bên ngoài có tiếng bước chân, bố cô ta bước vào. Cô ta vội vã quay người, cúi đầu bận rộn sau quầy bar.
Bố cô ta nhìn hai chúng tôi đầy nghi hoặc. Tôi dập điếu thuốc, đứng dậy rời bàn.
"Ông vẫn đi leo núi à?" Hắn hỏi tôi.
"Phải," tôi đáp, "chắc một hai ngày nữa tôi về."
"Nơi đó không nên ở lại lâu đâu." Hắn nói.
"Ý ông là thời tiết sẽ trở xấu?"
"Đúng thế, trời sẽ đổi gió. Với lại, có thể không an toàn."
"Sao lại không an toàn?"
"Có thể sẽ có bạo động. Tình hình đang bất ổn. Người ta đang sôi máu lên rồi. Một khi đã mất bình tĩnh thì chẳng còn lý trí đâu. Lúc này người lạ, người nước ngoài mà lên đó thì dễ bị vạ lây lắm. Tốt nhất ông nên bỏ cuộc đi, đừng đến núi Chân Lý, đi về phía bắc ấy, bên đó không sao đâu."
"Cảm ơn ông. Nhưng tôi đã quyết rồi."
Hắn nhún vai, quay mặt đi.
"Tùy ông," hắn nói, "dù sao cũng chẳng phải việc của tôi."
Tôi rời quán trọ, rảo bước dọc theo con đường lớn, băng qua cây cầu nhỏ bắc qua dòng suối trên núi, bước vào lối mòn dẫn lên sườn đông núi Chân Lý.
Ban đầu, những âm thanh dưới thung lũng vẫn còn nghe rất rõ. Tiếng chó sủa, tiếng chuông đeo cổ bò leng keng, tiếng người hò hét, tất cả đều rành rọt giữa sự tĩnh mịch. Làn khói xanh bốc lên từ những mái nhà dần kết lại thành một dải sương mỏng, những nếp nhà chìm trong sương trông như bước ra từ tranh vẽ. Lối mòn uốn lượn ngoằn ngoèo phía trên, ngày càng tiến sâu vào lòng núi. Đến trưa, thung lũng đã biến mất dưới chân. Tâm trí tôi hoàn toàn trống rỗng, chỉ muốn tiếp tục leo lên. Tôi phải trèo lên, trèo cao hơn nữa, tôi phải chinh phục rặng núi đầu tiên bên tay trái, rồi bỏ nó lại sau lưng, đi chinh phục rặng núi thứ hai, rồi lại quên nó đi để tiến vào rặng núi thứ ba hiểm trở hơn. Cơ bắp của tôi đã nhão ra, trời lại nổi gió, nên tốc độ không nhanh. Nhưng lòng tôi phơi phới, cứ thế tiến bước, không hề thấy mệt mỏi, ngược lại còn tràn đầy sinh lực, cảm giác như mình có thể đi mãi thế này. Lúc đến được ngôi làng, tôi hết sức ngạc nhiên, vì tôi ngỡ phải mất ít nhất một tiếng nữa mới tới. Giờ mới hơn bốn giờ, xem ra tôi leo khá nhanh. Ngôi làng này hoang vu vô cùng, gần như đã bị bỏ hoang. Tôi đoán dân cư ở đây chẳng còn lại bao nhiêu. Vài căn nhà bị đóng đinh then cài bằng gỗ, có căn thì mái sụp xuống, xiêu vẹo chực đổ. Chỉ có hai ba căn nhà là còn thấy khói bốc lên. Đồng cỏ xung quanh không có người chăm sóc, vài con bò gầy trơ xương, bẩn thỉu đang gặm cỏ bên lối mòn. Giữa không khí tĩnh mịch, tiếng chuông cổ của chúng nghe thật rỗng tuếch. Cảm giác hưng phấn do việc leo núi mang lại ban nãy lập tức bị nơi này dập tắt ngấm. Nếu đây là chỗ tôi phải trọ lại đêm nay, thì tôi chẳng có chút thiện cảm nào với nó cả.
Tôi bước về phía căn nhà đầu tiên có khói bốc lên, gõ cửa. Một lát sau, cửa mở. Đứng sau cánh cửa là một thiếu niên chừng mười bốn tuổi. Cậu ta liếc nhìn tôi một cái, rồi ngoái đầu gọi người trong nhà. Một người trạc tuổi tôi bước ra mép cửa, trông vừa nặng nề vừa ngớ ngẩn. Hắn nói với tôi vài câu bằng tiếng địa phương trước, rồi chăm chú nhìn tôi một lúc, nhận ra mình nhận nhầm người, mới dùng ngôn ngữ của đất nước này để nói chuyện với tôi, nghe còn bập bẹ hơn cả tôi.
"Ông là bác sĩ từ dưới thung lũng lên à?" Hắn hỏi tôi.
"Không phải," tôi đáp, "tôi từ nơi khác đến đây leo núi. Tôi muốn xin ngủ nhờ một đêm, không biết có tiện không?"
Mặt hắn xị xuống, có phần thất vọng, không trả lời thẳng vào lời thỉnh cầu của tôi.
"Chỗ chúng tôi có người bệnh nặng lắm," hắn nói, "tôi không biết phải làm sao. Họ bảo sẽ có bác sĩ dưới thung lũng lên. Ông không gặp ai trên đường à?"
"Không. Từ thung lũng lên đây chỉ có mình tôi thôi. Ai bệnh thế? Trẻ con à?"
Hắn lắc đầu: "Không, ở đây chúng tôi không có trẻ con."
Hắn tiếp tục nhìn tôi, ánh mắt mờ mịt bất lực. Tôi thấy thương hắn, nhưng không biết có thể làm gì. Tôi chỉ mang theo bộ sơ cứu và một lọ nhỏ aspirin. Nếu có người phát sốt, aspirin có lẽ còn có chút tác dụng. Tôi lấy nó ra khỏi túi, đổ một ít đưa cho hắn.
"Chỗ này có thể có ích đấy," tôi nói, "nếu anh muốn thử."
Hắn ra hiệu bảo tôi vào nhà. "Xin ông tự mang vào cho." Hắn nói.
Tôi hơi ngần ngại, không muốn chứng kiến cảnh người thân của hắn hấp hối, nhưng lương tâm mách bảo tôi phải bước vào. Tôi theo hắn vào phòng khách. Kê sát tường là một chiếc giường đơn sơ, bên trên có một người đang nằm. Hắn đắp hai tấm chăn, nhắm nghiền mắt, mặt mày tái mét, râu tóc rối bù. Gương mặt hốc hác ấy chỉ có ở những kẻ sắp lìa đời. Tôi bước lại gần mép giường, cúi đầu nhìn hắn. Hắn mở mắt ra. Trong khoảnh khắc, chúng tôi nhìn nhau trân trối, không thể tin nổi. Rồi hắn chìa tay về phía tôi, mỉm cười. Là Victor…
"Cảm tạ trời đất." Hắn nói.
Tôi xúc động không thốt nên lời. Tôi thấy hắn ra hiệu cho người đàn ông dẫn tôi vào, nói vài câu bằng tiếng địa phương. Tôi biết chắc hắn đang nói chúng tôi là bạn bè, bởi nghe xong, gương mặt người kia dường như sáng bừng lên, rồi lùi ra ngoài. Tôi tiếp tục đứng bên giường, nắm lấy tay Victor.
"Cậu bị thế này bao lâu rồi?" Hồi lâu sau, tôi mới hỏi.
"Gần năm ngày rồi," hắn nói, "viêm màng phổi một chút, trước đây cũng từng bị. Lần này nặng quá. Già rồi."
Hắn lại mỉm cười. Dù biết hắn đã ốm thập tử nhất sinh, nhưng hắn gần như chẳng hề thay đổi, vẫn là Victor mà tôi quen thuộc.
"Trông cậu có vẻ ăn nên làm ra đấy," hắn vẫn cười, "trông đúng chất người thành đạt."
Tôi hỏi vì sao hắn không viết thư cho tôi nữa, hai mươi năm qua hắn đã làm những gì.
"Tôi cắt đứt mọi liên lạc với quá khứ rồi," hắn nói, "tôi nghĩ cậu chắc cũng vậy, chỉ là theo cách khác thôi. Sau khi rời đi, tôi chưa từng quay lại nước Anh. Cậu cầm gì trên tay thế?"
Tôi cho hắn xem mấy viên aspirin trong tay.
"E là chẳng có tác dụng gì với cậu đâu," tôi nói, "cách tốt nhất là đêm nay tôi ở lại đây, sáng sớm mai tìm một hai người trong làng, phụ tôi khiêng cậu xuống thung lũng."
Hắn lắc đầu. "Tốn công thôi," hắn nói, "tôi biết mình không qua khỏi rồi."
"Đừng nói bậy. Cậu phải đi khám bác sĩ, phải được chăm sóc tử tế. Ở cái xó này thì làm sao mà được." Tôi nhìn quanh căn phòng khách thô sơ, thiếu sáng lại bí bách.
"Mặc kệ tôi đi," hắn nói, "có người quan trọng hơn."
"Ai?"
"Anne." Hắn đáp. Tôi nghẹn lời, không biết tiếp lời thế nào. Hắn lại nói: "Cậu biết đấy, nàng vẫn ở đây, vẫn ở trên núi Chân Lý."
"Ý cậu là," tôi nói, "nàng vẫn ở trong cái nơi biệt lập đó, chưa từng rời đi?"
"Thế nên tôi mới ở đây," Victor nói, "năm nào tôi cũng đến. Sau chuyện đó, năm nào tôi cũng đến. Tôi từng viết thư kể cho cậu rồi mà, chắc là hồi sau chiến tranh? Tôi vẫn luôn sống ở một làng chài nhỏ, rất hẻo lánh, rất yên tĩnh. Cứ qua mười hai tháng tôi lại tới đây. Năm nay tôi đến muộn hơn, vì bị ốm."
Thật khó tin nổi. Đó là kiểu cuộc sống gì vậy chứ! Bao nhiêu năm qua, không bạn bè, không sở thích, gặm nhấm chuỗi ngày đằng đẵng chỉ để mỗi năm hành hương tới đây một lần, rồi lại ôm nỗi thất vọng trở về.
"Cậu có gặp lại nàng lần nào không?" Tôi hỏi.
"Chưa từng."
"Cậu có viết thư cho nàng không?"
"Năm nào tôi cũng mang theo một lá thư. Tôi mang nó lên núi, đặt dưới vách đá, hôm sau lại lên."
"Thư có bị lấy đi không?"
"Có. Rồi tại nơi tôi đặt thư sẽ xuất hiện một phiến đá, bên trên có nét chữ nguệch ngoạc, chỉ vài ba câu thôi. Tôi gom hết những phiến đá đó mang về, đặt bên bờ biển nơi tôi ở."
Lòng tôi thắt lại trước sự cố chấp của hắn, trước lòng chung thủy bao năm qua của hắn.
"Tôi đã cố nghiên cứu về nó," hắn nói, "nghiên cứu cái tín ngưỡng đó. Nó cổ xưa lắm, tồn tại trước cả Kitô giáo. Trong vài cuốn sách cổ có manh mối đấy. Thỉnh thoảng tôi lại thu thập được ít thông tin, cũng từng nói chuyện với các học giả nghiên cứu về chủ nghĩa thần bí, các nghi lễ cổ của người Gaul, rồi cả tín ngưỡng Druid nữa. Thời đó, những người sống trên núi có mối liên kết vô cùng bền chặt. Mọi trường hợp tôi đọc được đều tin tưởng sâu sắc vào sức mạnh của mặt trăng, và tin rằng các tín đồ sẽ giữ mãi tuổi thanh xuân, mãi mãi xinh đẹp."
"Victor, nghe cậu nói thế, cứ như cậu cũng tin vậy."
"Tôi tin chứ," hắn đáp, "mấy đứa trẻ còn lại trong làng này cũng đều tin."
Hắn nói mệt rồi, với tay lấy chiếc bình nước đặt bên giường.
"Nghe tôi này, aspirin không hại gì cho cậu đâu. Nếu cậu bị sốt, nó sẽ giúp hạ sốt. Uống vào cậu cũng dễ ngủ hơn."
Tôi bảo hắn nuốt ba viên, rồi dém lại chăn cho hắn.
"Trong nhà này có đàn bà không?" Tôi hỏi.
"Không," hắn nói, "lần này tới đây tôi cũng thấy khó hiểu. Ngôi làng gần như bị bỏ hoang rồi. Đàn bà và trẻ con đều chuyển xuống thung lũng hết. Ở đây chỉ còn khoảng hai mươi người đàn ông và mấy đứa con trai thôi."
"Cậu có biết đàn bà và trẻ con đi từ lúc nào không?"
"Tôi nghĩ chắc là vài ngày trước khi tôi tới. Người đàn ông dẫn cậu vào là con trai của ông lão từng sống ở đây hồi trước. Ông cụ mất nhiều năm rồi. Con trai ông ta khù khờ lắm, gần như chẳng biết gì. Cậu hỏi gì hắn cũng ngơ ngác. Nhưng hắn cũng được việc. Hắn sẽ cho cậu đồ ăn, trải giường cho cậu, đứa con trai hắn sinh ra cũng đủ khôn ngoan."
Victor nhắm mắt lại, tôi mong hắn có thể ngủ được. Tôi nghĩ mình biết lý do vì sao đàn bà và trẻ con lại rời đi. Họ đi sau khi cô gái dưới thung lũng kia mất tích. Chắc chắn đã có người cảnh báo họ rằng núi Chân Lý sắp gặp rắc rối. Tôi không dám nói cho Victor biết, hy vọng mình có thể thuyết phục được hắn, để tôi khiêng hắn xuống thung lũng.
Trời đã nhá nhem tối, bụng tôi đói cồn cào. Băng qua một hốc tường lõm, tôi đi ra phía sau. Chỉ có cậu thiếu niên ở bên trong. Tôi hỏi cậu ta có gì ăn không, cậu ta hiểu ý, mang ra cho tôi bánh mì, thịt và phô mai. Dưới cái nhìn của cậu ta, tôi ăn hết chỗ thức ăn ngay tại phòng khách. Victor vẫn nhắm nghiền mắt, tôi tin là hắn đã ngủ.
"Ông ấy có khỏi không?" Cậu thiếu niên hỏi. Cậu ta không nói tiếng địa phương.
"Sẽ khỏi," tôi đáp, "nếu có người giúp tôi khiêng ông ấy xuống núi đi khám bác sĩ."
"Cháu có thể giúp ông," cậu thiếu niên nói, "cả hai đứa bạn cháu nữa. Ngày mai chúng ta phải đi ngay, qua ngày mai thì không dễ thế đâu."
"Tại sao?"
"Ngày kia sẽ có nhiều người qua lại lắm. Đám đàn ông dưới thung lũng đang hăng máu lắm rồi, cháu và mấy đứa bạn cũng sẽ tham gia."
"Định làm gì?"
Cậu ta ngập ngừng, đôi mắt sáng quắc nhìn tôi chằm chằm.
"Cháu không biết." Cậu ta nói xong liền lủi ra phía sau.
Phía giường nằm vang lên tiếng của Victor.
"Thằng bé nói gì thế?" Hắn hỏi, "Ai từ thung lũng lên cơ?"
"Tôi không biết," tôi làm ra vẻ bình thản, "chắc có người đến leo núi. Nhưng nó bảo ngày mai có thể giúp tôi đưa cậu xuống núi."
"Chẳng bao giờ có ai đến đây leo núi cả," Victor nói, "chắc chắn nhầm rồi." Hắn gọi cậu thiếu niên lại, khi cậu ta bước vào, hắn hỏi bằng tiếng địa phương. Cậu thiếu niên lúng túng, chột dạ ra mặt, dường như không muốn trả lời. Tôi nghe thấy cả cậu ta và Victor đều nhắc đến "núi Chân Lý" mấy lần. Sau đó, cậu ta lui ra sau, để lại tôi và Victor.
"Cậu có hiểu không?" Victor hỏi.
"Không hiểu." Tôi đáp.
"Tôi không thích cảm giác này," hắn nói, "mấy ngày nằm ở đây, tôi luôn có linh cảm chẳng lành. Người ở đây trông kỳ quặc lắm, cứ lén lút thế nào ấy. Thằng bé vừa bảo tôi dưới thung lũng đang có biến loạn, người dưới đó giận dữ lắm. Cậu có nghe ngóng được gì không?"
Tôi không biết phải nói sao. Hắn nhìn tôi chòng chọc.
"Người ở quán trọ gần như chẳng chịu hé răng nửa lời," tôi nói, "nhưng hắn đúng là có khuyên tôi đừng lên núi Chân Lý."
"Hắn có nói lý do không?"
"Không nói rõ lý do. Chỉ bảo tôi có thể sẽ có rắc rối."
Victor im lặng. Tôi cảm nhận được hắn đang suy nghĩ.
"Dưới thung lũng có người phụ nữ nào biến mất không?" Hắn hỏi.
Nói dối cũng vô ích. "Tôi nghe nói có một cô gái mất tích," tôi bảo hắn, "nhưng tôi không rõ thực hư."
"Chắc là thật rồi. Đúng là thế rồi."
Hắn im lặng rất lâu, tôi không nhìn rõ mặt hắn trong bóng tối. Căn phòng chỉ thắp một ngọn đèn, ánh sáng lờ mờ.
"Ngày mai cậu phải lên núi Chân Lý báo cho Anne biết." Cuối cùng, hắn lên tiếng.
Tôi đã đoán trước hắn sẽ nói vậy, bèn hỏi hắn phải làm thế nào.
"Tôi chỉ đường cho cậu," hắn nói, "cậu không lạc được đâu. Cứ men theo lòng sông cạn mà lên, đi thẳng về hướng nam. Mùa này nước mưa chưa đọng lại đến mức không đi nổi. Nếu cậu xuất phát từ lúc trời chưa sáng thì sẽ có trọn một ngày để lên núi."
"Lên đến nơi thì làm gì?"
"Cậu phải để lại một lá thư giống như tôi, rồi rời đi. Nếu cậu còn ở đó, họ sẽ không ra lấy đâu. Tôi cũng sẽ viết một lá thư. Tôi muốn nói với Anne rằng tôi ốm rồi, và cậu đột nhiên xuất hiện bên tôi sau hai mươi năm. Vừa rồi lúc cậu nói chuyện với thằng bé, tôi cứ nghĩ mãi, chuyện này giống như một phép màu vậy. Tôi có một linh cảm kỳ lạ, chính Anne đã đưa cậu đến đây."
Trong mắt hắn ánh lên niềm tin thuở thiếu thời mà tôi từng biết.
"Có lẽ vậy," tôi nói, "đưa tôi đến đây nếu không phải Anne, thì chính là cơn sốt leo núi của tôi như cậu từng nói đấy."
"Hai cái đó có khác gì nhau đâu?" Hắn bảo tôi.
Trong căn phòng mờ tối, chúng tôi nhìn nhau không nói. Rồi tôi quay mặt đi, bảo cậu thiếu niên mang cho tôi tấm chăn và cái gối, đêm nay tôi sẽ ngủ dưới sàn nhà, ngay cạnh giường Victor.
Đêm đó, hắn ngủ không yên giấc, thở dốc khó khăn. Tôi trở dậy đến bên hắn mấy lần, cho hắn uống thêm chút aspirin và nước. Hắn vã mồ hôi đầm đìa, tôi chẳng biết đó là điềm lành hay điềm dữ. Đêm trôi qua dài dằng dặc, bản thân tôi cũng gần như thức trắng. Lúc trời tang tảng sáng, cả hai chúng tôi đều đã tỉnh.
"Cậu nên lên đường rồi." Hắn nói. Tôi bước lại gần, lo lắng nhìn hắn. Người hắn lạnh ngắt và nhớp nháp, tôi biết bệnh tình của hắn đã trở nặng, hắn đã yếu đi nhiều.
"Bảo với Anne," hắn nói, "nếu người dưới thung lũng kéo lên, nàng và những người khác sẽ gặp nguy hiểm lớn đấy. Tôi dám chắc điều đó."
"Tôi sẽ viết hết lại." Tôi nói.
"Nàng biết tôi yêu nàng nhường nào. Trong thư lúc nào tôi cũng nói thế với nàng, nhưng cậu có thể viết thư nhắc lại lần nữa. Đặt thư xuống rồi, cậu cứ đợi ở hẻm núi, có thể phải đợi hai ba tiếng, thậm chí lâu hơn. Sau đó cậu quay lại vách đá, tìm phiến đá có chữ hồi âm. Cậu sẽ tìm thấy thôi."
Tôi chạm vào bàn tay lạnh ngắt của hắn, rồi bước ra ngoài trời sớm giá lạnh. Thế nhưng, bên ngoài mây mù giăng kín khắp nơi, khiến lòng tôi không khỏi dấy lên nỗi âu lo. Không chỉ dưới chân mây phủ kín đường tôi vừa đi qua hôm qua, mà trong ngôi làng tĩnh mịch mây cũng cuộn quanh mái nhà, quẩn quanh lối mòn dẫn lên trên. Lối mòn uốn lượn giữa những bụi rậm, rồi biến mất ở một bên sườn núi.
Những đám mây lặng lẽ mơn man gò má tôi rồi trôi đi, nhưng không hề tan biến, bầu trời vẫn chưa chịu quang đãng. Hơi ẩm làm ướt tóc và hai bàn tay tôi, đầu lưỡi tôi còn nếm được vị của nó. Trời vẫn chưa sáng hẳn, tôi nhìn quanh quất, chẳng biết phải làm sao. Trực giác thận trọng tích lũy bao năm mách bảo tôi nên quay đầu lại. Dựa vào những kiến thức leo núi mà tôi còn nhớ được, leo núi trong thời tiết tồi tệ thế này quả thực là điên rồ. Thế nhưng, nếu ở lại trong làng, nhìn vào đôi mắt của Victor, đôi mắt tràn ngập hy vọng và kiên nhẫn ấy, tôi sẽ càng không đành lòng hơn. Cả hai chúng tôi đều ngầm hiểu rằng hắn chẳng còn sống được bao lâu nữa, và giờ đây trong túi áo ngực của tôi đang cất giữ bức thư tuyệt mệnh hắn viết cho vợ.
Tôi quay người về hướng nam, mây mù vẫn không ngừng từ từ sà xuống từ đỉnh núi Chân Lý.
Tôi bắt đầu trèo lên…
Victor bảo tôi chỉ mất hai tiếng là lên tới đỉnh. Nếu trời có nắng thì chưa đầy hai tiếng đã tới nơi. Tôi cũng có người dẫn đường, chính là tấm bản đồ đơn giản do Victor vẽ.
Rời khỏi làng được một tiếng, tôi đã nhận ra sai lầm của mình. Ngày hôm nay trời sẽ không hửng nắng. Mây trôi qua bên người tôi, hơi nước bốc lên mặt tôi, vừa lạnh vừa ướt. Chúng che khuất lòng sông cạn ngoằn ngoèo mà tôi đã trèo suốt năm phút qua, che khuất cả dòng nước suối ngầm bên dưới đang xói mòn đất đá.
Mãi đến khi địa hình rốt cuộc cũng biến đổi, thời gian đã quá buổi trưa. Trên đường không còn rễ cây và cỏ dại nữa, tôi phải lần mò trên những tảng đá trơ trọi mà tiến bước. Tôi đã đuối sức. Và tồi tệ hơn cả là tôi đã lạc đường. Tôi quay đầu lại nhưng không tài nào tìm thấy lòng sông cạn đã đưa tôi đi xa đến nhường này. Tôi gặp một lòng sông cạn khác, nhưng nó chạy theo hướng đông bắc, vả lại vào mùa này con người không thể đi qua được. Một dòng nước xiết từ trên núi đổ ầm ầm xuống, chỉ cần tôi sẩy chân một bước là sẽ bị dòng nước cuốn phăng, dẫu có muốn bám lấy đá thì tay cũng sẽ bị va đập nát bấy.
Nỗi đắc ý của ngày hôm qua đã hoàn toàn tan biến. Cơn sốt leo núi trong tôi rút cạn, thay vào đó là cảm giác sợ hãi mà tôi cũng chẳng hề xa lạ. Trước đây, giữa mây mù giăng lối, tôi từng trải qua nỗi sợ hãi này nhiều lần. Lúc lên núi hay xuống núi, hễ không nhìn rõ con đường mình vừa đi qua, người ta sẽ rơi vào trạng thái cực kỳ hoảng loạn và bất lực. Nhưng khi ấy tôi còn trẻ, được rèn luyện, cơ thể tráng kiện, thích hợp với việc leo núi. Còn giờ đây, tôi chỉ là một kẻ trung niên sống lâu năm nơi đô thị, đơn độc một mình trên ngọn núi chưa từng đặt chân tới. Tôi sợ hãi.
Tôi ngồi xuống dưới bóng râm của một tảng đá lớn, nơi không có mây mù vây quanh. Tôi lấy chiếc bánh sandwich còn thừa từ quán trọ dưới thung lũng ra làm bữa trưa, ăn xong liền ngồi đó chờ đợi, thỉnh thoảng lại đứng dậy đi đi lại lại cho ấm người. Lúc này không khí không còn buốt giá nữa, nhưng vẫn lạnh lẽo u ám, cái lạnh ẩm ướt luôn đi kèm với mây mù.
Tôi ôm một tia hy vọng: đêm xuống, nhiệt độ hạ, mây sẽ tan. Tôi nhớ đêm nay trăng tròn, điều đó có lợi cho mình, bởi vào đêm trăng tròn mây thường tan biến chứ không lảng vảng. Vì thế, tôi mong cái lạnh cắt da mau tới. Không khí trở nên lạnh buốt thấy rõ, tôi nhìn về phía nam nơi mây bay tới, lúc này đã thấy được lối đi cách khoảng mười bộ. Lối bên dưới vẫn chìm trong mây dày, như thể biến mất sau một bức tường kín bưng. Tôi tiếp tục đợi. Phía trên tôi, tầm nhìn trên con đường mòn về phía nam tăng dần: mười hai bộ, mười lăm bộ, rồi hai mươi bộ. Mây không còn là mây, chỉ còn lại làn sương mỏng rồi tan biến hẳn. Đột nhiên, toàn bộ con đường núi hiện ra rõ mồn một. Dù vẫn chưa thấy đỉnh, nhưng tôi đã thấy dải sườn núi khổng lồ nhô ra, thoai thoải dốc về phía nam. Men theo sườn núi nhìn lên, đó là vòm trời đầu tiên tôi thấy trong ngày.
Tôi nhìn đồng hồ, kim chỉ năm giờ bốn mươi lăm phút. Màn đêm đã phủ xuống núi Chân Lý.
Hơi sương lại xuất hiện, che mờ khoảng trời vừa thấy. Rồi sương tản ra, trời lại sáng tỏ. Tôi rời khỏi chỗ đã ngồi cả ngày. Tiếp tục lên núi hay quay đầu đi xuống, tôi lại đứng trước lựa chọn. Đường phía trước rất rõ, dải sườn núi Victor nhắc tới đã hiện ra. Tôi thậm chí còn thấy sống núi dẫn về phía nam, nơi đáng lẽ mười hai tiếng trước tôi đã phải đặt chân lên. Hai ba tiếng nữa trăng sẽ mọc, đủ sáng để dẫn lối cho tôi tới vách đá của núi Chân Lý. Tôi nhìn về phía đông, hướng xuống núi, mây vẫn dày đặc. Nếu xuống núi lúc này, tôi sẽ lại mất phương hướng như ban ngày, lơ ngơ bất lực giữa chốn núi non với tầm nhìn chưa đầy ba bộ.
Tôi quyết định đi tiếp, mang theo những bức thư, trèo lên đỉnh.
Vượt qua mây mù, tôi lấy lại tinh thần. Nghiên cứu xong tấm bản đồ Victor vẽ, tôi bắt đầu tiến về sườn núi phía nam. Bụng đói cồn cào, tôi thầm nghĩ giá như còn lại miếng bánh mì kẹp lúc trưa thì tốt, nhưng giờ chỉ còn một ổ bánh mì tròn và một bao thuốc lá. Thuốc lá chẳng chắn nổi gió, nhưng ít ra cũng tạm xua đi cơn đói.
Lúc này, tôi đã thấy Song Phong, trơ trọi, hoang vắng, đâm thẳng lên trời. Ngước nhìn hai đỉnh núi, tôi lại thấy rạo rực, bởi tôi biết mình đã vòng qua sườn núi sang sườn phía nam, chẳng mấy chốc sẽ tới đích.
Tôi tiếp tục leo. Theo triền núi phía nam mở ra trước mắt, sống núi cũng hẹp dần, đường đi bắt đầu dốc đứng. Tôi ngoái đầu lại, thấy vầng trăng tròn mới mọc hé ra một góc trong màn sương phía đông. Cảnh tượng ấy gợi lên nỗi cô độc khôn cùng. Vũ trụ bao la, tôi như lơ lửng ở giữa, độc hành nơi mép rìa thế giới. Tôi ngỡ như mình đơn độc trong một quả cầu rỗng, xoay vần theo nó rồi rơi hút vào bóng tối vô tận.
Trăng lên, kẻ đứng dưới trăng bỗng chốc trở nên bé mọn vô cùng. Tôi không còn là chính mình, chỉ là một cái xác rỗng không cảm xúc, bị một sức mạnh khôn tả hút về phía đỉnh núi, mà sức mạnh ấy dường như lại chịu sự chi phối của ánh trăng. Tôi không còn tự chủ được, hệt như ngọn triều dâng lên rồi lại hạ xuống. Tôi không thể làm trái quy luật tự nhiên luôn thúc giục tiến về phía trước, giống như không thể ngừng thở. Đây không phải cơn sốt leo núi trong huyết quản, mà là ma lực của ngọn núi. Kẻ thúc đẩy tôi không phải sự căng thẳng, mà là lực hút của trăng rằm.
Đá hẹp dần, cuối cùng khép lại trên đầu tôi, tạo thành một khe hẹp vòm cung. Tôi phải cúi người lần bước. Qua khỏi khe hẹp, tôi bước từ bóng tối ra ánh sáng, hai đỉnh núi trắng bạc của núi Chân Lý sừng sững hiện ra trước mắt.
Đó là lần đầu tiên trong đời tôi thấy một vẻ đẹp hoang phế đến nhường này. Tôi quên mất sứ mệnh, quên nỗi lo cho Victor, quên cả nỗi sợ mây mù suốt ngày qua. Đây đích thực là điểm cuối của chuyến đi, là sự viên mãn của đời người. Thời gian không còn quan trọng, tôi quên bẵng thời gian, chỉ đứng trân trân ngắm nhìn vách đá dưới ánh trăng.
Tôi không biết mình đã đứng bất động bao lâu, cũng chẳng nhớ tháp canh và vách đá thay đổi từ lúc nào. Nhưng ở nơi vốn trống trơn trước đó bỗng xuất hiện bóng người. Họ nối đuôi nhau đứng trên bờ vách, bóng nghiêng in hằn lên nền trời đêm. Họ tĩnh lặng đến thế, an định đến thế, như thể những pho tượng tạc từ vách đá.
Tôi ở quá xa, không thể nhìn rõ mặt mũi vóc dáng họ. Nơi tháp canh lộ thiên có một người đứng trơ trọi, trùm áo choàng từ đầu đến chân. Đầu tôi bỗng lóe lên những truyền thuyết cổ xưa về Druid giáo, về giết chóc và hiến tế. Những kẻ này sùng bái mặt trăng, mà lúc này lại là đêm trăng tròn. Sẽ có kẻ thành vật tế, bị ném xuống vực sâu, và tôi sẽ phải tận mắt chứng kiến cảnh đó.
Đời tôi từng trải qua sợ hãi, nhưng chưa bao giờ thấy kinh hoàng. Nhưng lúc này, cảm giác kinh hoàng ập tới. Tôi quỳ sụp xuống bóng tối của khe núi, bởi nếu đứng dưới trăng, nhất định sẽ bị họ phát hiện. Tôi thấy họ giơ hai tay qua đầu, rồi từ từ cất tiếng thì thầm, ban đầu còn lí nhí mơ hồ, sau lớn dần, xé toang sự tĩnh mịch sâu thẳm nơi đây. Tiếng ngâm vang vọng vào vách đá, dập dềnh giữa không trung. Tôi thấy họ đều hướng về phía trăng rằm. Không có hiến tế, không có giết chóc. Đó là bài thánh ca của họ.
Tôi nấp trong bóng tối, thấy hổ thẹn vì sự thiếu hiểu biết của mình khi lén nhìn buổi lễ bái mà bản thân chẳng hay biết gì. Khúc thánh ca lượn lờ bên tai, bí ẩn, đáng sợ, nhưng đẹp đến mức khiến người ta chìm đắm. Tôi nhắm mắt, chắp hai tay giơ qua đầu, trán dán sát mặt đất, quỳ rạp thật sâu.
Tiếng thánh ca vang dội chậm rãi lắng dần, biến thành tiếng thì thầm, thành một tiếng thở dài, rồi đột ngột im bặt. Sự tĩnh lặng lại trở về với núi Chân Lý.
Tôi vẫn không dám cựa quậy, ôm đầu phủ phục dưới đất. Tôi không thấy xấu hổ vì nỗi kinh hoàng của mình, bởi tôi đang lạc giữa hai thế giới. Thế giới của tôi đã biến mất, còn thế giới của họ lại chẳng thuộc về tôi. Tôi khao khát mây mù xuất hiện che chở cho mình.
Tôi tiếp tục quỳ chờ. Một lát sau, tôi thận trọng ngẩng đầu nhìn về phía vách đá. Bờ vách và tháp canh trơ trụi, không một bóng người. Một đám mây xám xịt nham nhở trôi tới che khuất mặt trăng.
Tôi đứng dậy nhưng không bước đi, vẫn nhìn chằm chằm vào tháp canh và vách đá. Trăng đã bị che, xung quanh chìm trong tĩnh mịch. Có lẽ những bóng người và khúc thánh ca kia chưa từng xuất hiện, có lẽ chính nỗi sợ và trí tưởng tượng của tôi đã tạo ra chúng.
Tôi đứng đợi ở đó, chờ cho đám mây che trăng trôi đi mới lấy hết can đảm móc thư trong túi ra. Tôi không biết Victor viết gì, nhưng những gì tôi viết là:
"Anne thân yêu:
Một sự an bài kỳ lạ đã đưa tôi tới ngôi làng dưới chân núi Chân Lý. Tôi đã tìm thấy Victor ở đó. Hắn ốm rất nặng, tôi e rằng hắn không còn sống được bao lâu nữa. Nếu em có điều gì muốn nói với hắn, hãy để lại dưới chân vách đá, tôi sẽ mang về cho hắn. Tôi cũng muốn nhắc em, những người ở đây rất có thể sắp gặp nguy hiểm. Một người phụ nữ dưới thung lũng mất tích, dân làng đang hoảng loạn và căm phẫn tột độ. Họ có thể sẽ kéo lên núi Chân Lý để san phẳng nơi này.
Trước khi rời đi, tôi muốn nói với em rằng, Victor chưa từng ngừng yêu em, hắn vẫn luôn nhung nhớ em."
Tôi ký tên mình vào chỗ đề tên.
Tôi bước về phía vách đá. Khi lại gần, tôi thấy khe cửa sổ mà Victor từng kể, bỗng có cảm giác dường như phía sau đó có những ánh mắt đang nhìn chằm chằm vào mình, dường như sau mỗi khe hẹp đều có một kẻ đang chực chờ.
Tôi cúi người, đặt hai bức thư xuống chân vách đá. Bất thình lình, vách đá trước mặt mở toang, một đôi tay thò ra chộp lấy tôi, bóp nghẹt cổ họng, vật tôi ngã nhào xuống đất.
Thứ cuối cùng tôi nghe thấy trước khi mất đi ý thức là tiếng cười của một thiếu niên.
Tôi giật thót tỉnh dậy, bị kéo tuột từ giấc ngủ sâu về với thực tại. Tôi biết vừa rồi mình không ở một mình. Có người quỳ bên cạnh, cúi nhìn tôi ngủ.
Tôi ngồi dậy, nhìn quanh, khắp người vừa lạnh vừa tê dại. Tôi đang ở trong một căn phòng đơn dài chừng mười bộ, ánh sáng trắng nhờ nhạt lọt qua khe cửa sổ rọi vào vách đá. Tôi liếc nhìn đồng hồ, kim chỉ bốn giờ bốn mươi lăm phút. Chắc chắn tôi đã hôn mê ở đây hơn bốn tiếng, tia sáng kia hẳn là ánh rạng đông.
Tỉnh lại, cảm xúc đầu tiên của tôi là phẫn nộ. Tôi bị lừa rồi. Dân làng dưới núi đã lừa tôi, cũng lừa cả Victor. Bàn tay thô ráp tóm lấy tôi, rồi tiếng cười của thiếu niên bên tai, chính là chúng, gã đàn ông đó và con trai gã. Chúng luôn đi trước tôi, phục sẵn ở đây đợi tôi. Chúng biết lối vào vách đá. Bao năm qua chúng vẫn lừa Victor, giờ lại muốn dắt mũi tôi. Quỷ mới biết chúng mưu tính điều gì. Chắc không phải cướp của, tôi và Victor ngoài bộ quần áo trên người ra thì chẳng có gì. Căn phòng đơn tôi đang ở trống huếch trống hoác, không có dấu vết người ở, thậm chí không có nổi một tấm ván gỗ để ngả lưng. Kỳ lạ là chúng không trói tôi lại. Nơi này không có cửa, chỉ có một khe hẹp dài như cửa sổ, vừa đủ một người chui qua.
Tôi ngồi đợi trời sáng, cũng đợi vai, tay và hai chân lấy lại cảm giác. Xưa nay tôi vốn cẩn trọng, thấy làm vậy sẽ an toàn hơn. Nếu giờ liều lĩnh chui qua khe hẹp bước ra ngoài khi trời còn mờ tối, tôi có thể vấp ngã, hoặc lạc vào mê cung toàn những bậc thang và lối đi.
Trời sáng dần, cơn giận trong tôi càng bốc lên, cùng với đó là nỗi tuyệt vọng nhen nhóm. Giờ tôi chỉ muốn tóm lấy gã đàn ông và con trai gã, đe dọa chúng, cần thì dùng vũ lực cũng chẳng sao. Tôi sẽ không để chúng đánh lén làm tôi ngã nhào nữa. Nhưng nếu chúng đã bỏ đi, nhốt tôi lại đây không lối thoát thì sao? Biết đâu đây chính là trò quỷ của chúng? Suốt những năm tháng đằng đẵng, ông lão năm xưa, rồi các thế hệ trước ông lão, đã dụ dỗ đàn bà dưới thung lũng lên đây. Một khi bước vào vách đá, họ sẽ bị nhốt bên trong cho tới chết đói. Cứ nghĩ tiếp thế này, nỗi bất an trong lòng sẽ biến thành hoảng loạn. Tôi phải bình tĩnh lại. Thế là tôi móc bao thuốc trong túi, rít vài hơi, tâm trí liền ổn định trở lại; mùi thuốc lá thuộc về thế giới tôi từng biết.
Rồi tôi thấy những bức bích họa. Ánh ban mai rọi vào phòng làm sáng rõ chúng. Bích họa phủ kín tường, thậm chí cả trên trần nhà. Đó không phải nét vẽ thô kệch của dân quê mùa, cũng chẳng phải tác phẩm thánh khiết của nghệ sĩ tôn giáo sùng đạo; những bức họa này tràn đầy sức sống, rực rỡ, màu sắc tươi rói, cảm xúc mãnh liệt. Chúng có kể câu chuyện nào không thì tôi chịu, nhưng rõ ràng là thể hiện sự sùng bái mặt trăng. Người trong tranh hoặc quỳ hoặc đứng, giơ hai tay hướng về vầng trăng rằm vẽ trên trần, nhưng kỳ quái thay, chẳng biết do kỹ thuật vẽ bí ẩn nào, mắt của những kẻ hành hương trong tranh đều trừng trừng nhìn tôi, chứ không nhìn mặt trăng. Tôi vừa hút thuốc vừa dời mắt đi, nhưng khi ánh sáng ngày một rõ, tôi luôn cảm thấy những đôi mắt ấy đang dán chặt vào mình, hệt như cảm giác về những cái nhìn lặng lẽ sau khe cửa sổ lúc tôi còn ở ngoài vách đá.
Tôi đứng dậy, giẫm tắt mẩu thuốc. Lúc này tôi thấy làm gì cũng được, miễn là không phải ở lại căn phòng này để đối mặt với những người trong tranh. Tôi bước về phía khe hở, đúng lúc đó, tiếng cười lại vang lên. Lần này tiếng cười khẽ hơn, như bị kìm nén, nhưng vẫn nhận ra đó là nụ cười giễu cợt của người trẻ. Thằng ranh chết tiệt...
Tôi chui qua khe hở, miệng chửi bới ầm ĩ. Nó có thể giấu dao găm trong người, nhưng tôi cóc cần. Nó đứng ngay đó, nép vào tường đợi tôi. Tôi thấy tia sáng lấp loáng trong mắt nó, cùng mái tóc cắt rất ngắn. Tôi vung tay đấm thẳng vào mặt nó, nó né được. Tôi nghe thấy tiếng nó cười khi lách sang một bên. Nhìn lại, nó không chỉ có một mình, sau lưng còn hai kẻ nữa. Chúng xông tới, chẳng tốn chút sức lực nào đã đè nghiến tôi xuống đất. Kẻ đi đầu thúc đầu gối chặn ngang ngực tôi, hai tay bóp chặt cổ tôi, mỉm cười nhìn tôi.
Tôi nghẹt thở giãy giụa, hắn nới lỏng tay, cả ba cùng nhìn tôi trân trân, khóe miệng đều vương nụ cười giễu cợt. Giờ tôi mới nhìn rõ, ba kẻ này không phải thằng nhãi dưới làng, cũng chẳng phải bố nó, nét mặt chúng khác hẳn người dưới làng hay thung lũng, mà giống hệt những người trên bích họa.
Chúng nhìn nghiêng, mi mắt sụp xuống, không chút thương xót. Lâu lắm rồi, tôi từng thấy những đôi mắt như thế trong lăng mộ Ai Cập và trên một chiếc bình gốm, chiếc bình bị chôn vùi dưới gạch vụn của tòa thành phế tích, bị người đời quên lãng. Đứa nào đứa nấy đều mặc áo dài chấm gối, để lộ cánh tay và cẳng chân, tóc cắt rất ngắn, toát lên vẻ đẹp mộc mạc kỳ lạ, vừa chính vừa tà. Tôi định gượng dậy, nhưng đôi tay bóp cổ lại ấn chặt tôi xuống đất. Tôi biết mình không phải đối thủ của chúng, nếu chúng làm thật thì thừa sức ném tôi xuống vực sâu, thế là hết. Chẳng bao lâu nữa, Victor sẽ chết cô độc trong căn nhà nhỏ bên kia núi.
"Làm đi," tôi bảo, "tao chịu đủ rồi." Tôi buông xuôi, không bận tâm nữa. Tôi chờ những kẻ trẻ tuổi này bật ra tiếng cười nhạo, chờ chúng thô bạo túm lấy người tôi ném qua khe cửa sổ xuống vực thẳm đen ngòm. Tôi nhắm mắt, căng cứng dây thần kinh, chuẩn bị đón nhận nỗi kinh hoàng. Nhưng chẳng có gì xảy ra. Tôi cảm thấy thiếu niên kia chạm vào môi mình. Tôi mở mắt, thấy nó vẫn mỉm cười, tay cầm một cốc sữa. Nó ra hiệu giục tôi uống, không nói nửa lời. Tôi lắc đầu, bạn nó liền bước tới, quỳ bên cạnh đỡ lưng và vai tôi dậy. Tôi uống ừng ực như một đứa trẻ, vừa vụng về vừa mang ơn. Lúc chúng đỡ tôi, nỗi sợ hãi và kinh hoàng đều tan biến, dường như sức mạnh trên người chúng truyền qua đôi tay sang tôi, không chỉ giúp hai tay mà cả cơ thể tôi hồi phục sinh lực.
Uống xong, thiếu niên dẫn đầu đón lấy chiếc cốc từ tay tôi đặt xuống đất, rồi đặt hai bàn tay lên tim tôi. Những ngón tay chạm vào người, một cảm giác tôi chưa từng trải qua lan tỏa khắp thân thể, như thể đang đắm chìm trong sự bình yên nơi thiên đường, tĩnh lặng và mạnh mẽ khôn cùng. Đôi tay ấy xua tan mọi bất an, sợ hãi, mệt mỏi và kinh hoàng của đêm trước. Trong chớp mắt, ký ức về mây mù trên núi, về cái chết cận kề của Victor đều trở nên nhỏ nhặt. So với cảm nhận về sức mạnh và vẻ đẹp này, chúng thật tầm thường. Dẫu Victor có chết cũng chẳng sao. Kẻ nằm trong căn nhà nông trang kia chỉ là thể xác của hắn, trái tim hắn sẽ tiếp tục đập như tim tôi, linh hồn hắn rồi cũng sẽ lên đây tìm chúng tôi.
Tôi nói "chúng tôi", bởi tôi cảm thấy dường như mình đã được những người bạn này đón nhận, tôi đã trở thành một phần của họ. Tôi kinh ngạc, hoang mang, nhưng cũng ngập tràn hạnh phúc. Tôi nghĩ, đây chính là cái chết mà mình hằng mong đợi, giúp người ta quên đi mọi đớn đau phiền muộn, trong khi sự sống vẫn tiếp diễn, chỉ có điều nó nằm ở con tim chứ không phải trong khối óc hỗn loạn.
Thiếu niên mỉm cười thu tay lại, nhưng sức mạnh và năng lượng trong tôi vẫn căng tràn. Hắn đứng dậy, tôi cũng đứng lên theo. Phía ngoài khe hở không phải những lối đi quanh co như tổ ong, không phải hành lang tăm tối, mà là một khoảng đất trống trải, ba mặt giáp các gian phòng, một mặt thông ra hai đỉnh núi Chân Lý. Lúc này, hai đỉnh núi tuyệt đẹp phủ đầy tuyết trắng, lấp lánh dưới ánh mặt trời đang lên. Trên mặt băng đục sẵn những bậc thang dẫn thẳng lên đỉnh. Giờ tôi đã hiểu vì sao trong vách đá và khoảng đất trống lại tĩnh lặng đến thế, bởi những người khác đều đang đứng trên các bậc thang. Họ mặc trang phục giống nhau, để lộ tay chân, thắt dây lưng, tóc cắt rất ngắn ôm sát da đầu.
Chúng tôi băng qua khoảng đất trống, bước lên bậc thang, đứng cạnh họ. Ở đây không một tiếng động. Chẳng ai nói năng gì, nhưng đều mỉm cười như ba thiếu niên kia. Nụ cười của họ không mang vẻ lịch thiệp nơi cõi trần, mà chan chứa niềm hân hoan kỳ lạ, như thể dung hòa giữa trí tuệ, chiến thắng và đam mê. Họ không có tuổi tác, không có giới tính, chẳng phải đàn ông cũng chẳng phải đàn bà, không già mà cũng chẳng trẻ, nhưng vẻ đẹp diện mạo và thân thể của họ không thuộc về cõi thế, khiến người ta mê mẩn. Tận đáy lòng tôi bỗng khao khát được trở thành một người trong số họ, muốn mặc thứ họ mặc, yêu thứ họ yêu, cười lớn, sùng kính lễ bái và im lặng như họ.
Tôi cúi nhìn áo khoác và sơ mi của mình, nhìn chiếc quần leo núi, đôi tất dày và đôi giày, bỗng thấy ghê tởm, thấy chúng chẳng khác nào mảnh vải liệm xác. Tôi vội vã cởi phăng ra, ném xuống đất, đứng trần truồng dưới ánh mặt trời. Tôi không hề thấy ngượng ngùng hay xấu hổ, chẳng bận tâm đến bộ dạng của mình, tôi chỉ biết mình muốn rũ bỏ mọi trói buộc của cõi trần, mà đống quần áo kia chính là biểu tượng trần tục.
Chúng tôi leo lên các bậc thang, lên tới đỉnh núi. Cả thế giới bày ra trước mắt, mây mù không còn lảng vảng, những ngọn núi vươn dài vào cõi vô tận. Thế giới dưới chân hoàn toàn chẳng liên quan gì tới chúng tôi, mờ ảo, xanh ngắt, lặng câm, là thung lũng, dòng suối và thị trấn đang say ngủ. Đưa mắt từ thế giới dưới chân về lại trước mắt, tôi thấy một khe nứt khổng lồ chia tách hai đỉnh núi Chân Lý, hẹp nhưng không thể vượt qua. Đứng trên đỉnh nhìn xuống, tôi kinh ngạc xen lẫn kính sợ nhận ra mắt mình không thể nhìn thấu vực thẳm dưới khe nứt. Vực sâu không đáy, vĩnh viễn ẩn mình giữa núi non; vách đá màu xanh băng giữa khe nứt cứng đơ, nhẵn thín, kéo thẳng xuống nối liền với vực thẳm. Dù là ánh nắng trưa rực rỡ hay ánh trăng tròn ban đêm cũng không bao giờ xuyên thấu được vực sâu này. Nhưng trong mắt tôi, hình dáng giữa hai đỉnh núi lại giống như một chén thánh được nâng niu trong đôi bàn tay.
Có một người đứng sát mép vực, trùm áo choàng từ đầu đến chân. Người đó khoác áo choàng tu sĩ màu trắng, tôi không nhìn rõ dung mạo, nhưng dáng người cao ráo thẳng tắp, cách ngửa đầu vươn hai tay khiến tim tôi bỗng đập loạn xạ.
Tôi biết, đó là Anne. Ngoài nàng ra, không ai có dáng đứng ấy. Tôi quên mất Victor, quên sứ mệnh, quên bao năm tháng và dâu bể cuộc đời, tôi chỉ nhớ sự trầm lặng của nàng, gương mặt xinh đẹp của nàng, và câu nói dịu dàng nàng từng bảo tôi: "Rốt cuộc thì, chúng ta đều đang tìm kiếm cùng một thứ." Khoảnh khắc ấy, cuối cùng tôi cũng hiểu ra bao năm qua mình vẫn luôn yêu nàng. Dù nàng gặp Victor trước, chọn hắn và cưới hắn, nhưng sự ràng buộc và lễ nghi hôn nhân chưa từng làm khó chúng tôi, từ đầu chí cuối đều không. Từ ngày đầu Victor giới thiệu chúng tôi với nhau, tâm tưởng hai đứa đã đan bện thông suốt. Sự gắn kết kỳ lạ không lời nơi con tim đã phá vỡ muôn trùng rào cản, kéo chúng tôi lại gần nhau, dẫu cách biệt, dẫu chẳng nên lời.
Lỗi tại tôi, ngay từ đầu đã không nên để nàng đơn độc đi tìm ngọn núi của mình. Nếu năm đó, khi họ rủ tôi ở cửa hàng bán đồ du lịch, tôi nhận lời đi cùng, thì trực giác đã mách bảo cho tôi biết nàng đang nghĩ gì, và câu thần chú kia cũng sẽ vẫy gọi tôi. Tôi sẽ không ngủ say trong căn nhà nhỏ như Victor, mà sẽ tỉnh dậy, cùng nàng tới đây. Tôi đã phung phí bao năm tháng, sống hoài sống phí, những tháng năm đáng lẽ được ở bên nàng. Đáng lẽ tôi đã có thể cùng Anne sống trên ngọn núi này, cách biệt với nhân gian.
Tôi lại nhìn quanh, ngắm nhìn gương mặt những người bên cạnh với một nỗi khao khát cồn cào đến phát đau. Tôi thầm nghĩ, họ hiểu thế nào là sự cuồng si của tình yêu, còn tôi thì chưa từng biết tới. Sự im lặng không phải lời nguyền đẩy người ta xuống vực thẳm, mà là sự an bình ngọn núi ban tặng, giúp tâm tưởng họ tương thông. Nếu một nụ cười, một ánh mắt đã đủ giãi bày, thì cần chi nhiều lời. Tiếng cười hân hoan có thể bùng lên từ đáy lòng, vĩnh viễn không bị kìm nén. Chẳng có điều răn nghiệt ngã nào phủ nhận bản năng sâu thẳm. Ở nơi này, sự sống viên mãn, nhiệt thành và căng tràn sinh lực. Ánh nắng rực rỡ thấm vào huyết quản, hóa thành máu, đọng thành thịt. Không khí lạnh băng hòa cùng ánh nắng rọi thẳng gột rửa thân thể và hai lá phổi, mang lại sức mạnh, hệt như những ngón tay chạm vào tim tôi lúc trước.
Chỉ trong thoáng chốc, mọi giá trị trong tôi đã hoàn toàn đảo lộn. Kẻ vừa vượt qua sương mù lên núi, kẻ vừa mới đây thôi còn sợ hãi, bất an, phẫn nộ, dường như đã không còn tồn tại. Tôi đã qua tuổi trung niên, tóc hoa râm, nếu người đời thấy bộ dạng tôi lúc này chắc chắn sẽ bảo tôi hóa điên, coi tôi là trò cười, là đồ ngốc. Tôi trần truồng đứng cùng họ trên núi Chân Lý, hướng về mặt trời, giơ cao hai tay. Mặt trời đã lên cao, tỏa ánh chói lòa, thiêu đốt da thịt, khiến tôi vừa đau đớn vừa sung sướng. Ánh nắng bỏng rát xuyên thấu tim tôi, xuyên thấu hai lá phổi.
Tôi luôn dõi mắt về phía Anne, tình yêu tôi dành cho nàng mãnh liệt đến mức tôi nghe thấy chính mình đang gào lên: "Anne... Anne..." Nàng biết sự hiện diện của tôi, bởi nàng đã giơ tay ra hiệu. Những người khác không bận tâm, họ chẳng hề để ý. Họ cười lớn cùng tôi, họ đều hiểu tôi.
Từ giữa chúng tôi bước ra một cô gái, cô mặc chiếc váy thôn quê giản dị, đi tất dài và giày, tóc xõa ngang vai. Tôi ngỡ cô chắp tay cầu nguyện, nhưng không phải, cô áp hai bàn tay lên ngực, đầu ngón tay chạm vào tim.
Cô bước tới mép khe nứt nơi Anne đang đứng. Đêm qua dưới trăng, tôi từng rơi vào sợ hãi, nhưng giờ thì không. Họ đã đón nhận tôi, tôi đã là một phần của họ. Trong khoảnh khắc, ánh nắng từ trên trời rọi xuống mép khe nứt, chiếu sáng lớp băng xanh. Toàn bộ chúng tôi quỳ xuống, hướng về mặt trời, tôi nghe thấy khúc thánh ca.
Tôi nghĩ: "Đây chính là cách cầu nguyện sơ khai nhất, và cũng sẽ là cách cuối cùng của nhân loại. Không giáo lý, không đấng cứu thế, không thần linh, chỉ có mặt trời ban phát ánh sáng và sự sống. Sự cầu nguyện vốn là như thế, ngay từ thuở ban đầu."
Tia nắng mặt trời chầm chậm dời khỏi khe nứt. Cô gái đứng dậy, cởi tất, giày và quần áo. Anne cầm một con dao nhỏ, cắt phăng mái tóc cô sát tận mang tai. Cô gái đứng sau lưng nàng, tay áp lên tim.
"Giờ cô ấy tự do rồi," tôi thầm nghĩ, "cô ấy không cần trở về thung lũng nữa. Cha mẹ và người tình trẻ sẽ đau đớn vì mất cô, họ sẽ vĩnh viễn không bao giờ biết cô tìm thấy điều gì trên núi Chân Lý. Dưới thung lũng lẽ ra sẽ có tiệc tùng và lễ hội, người ta sẽ nhảy múa trong đám cưới của họ. Nhưng sau cuộc vui ngắn ngủi, sự lãng mạn sẽ biến thành cơm áo gạo tiền vụn vặt. Cô sẽ phải lo toan việc nhà, sinh con đẻ cái, sẽ lo âu, phiền muộn, ốm đau, gặp trắc trở, ngày qua ngày nhan sắc tàn phai. Còn giờ đây, cô đã được giải thoát. Ở nơi này, những cảm xúc từng có sẽ không mất đi, tình yêu và cái đẹp sẽ không lụi tàn. Cuộc sống gian khổ vì tự nhiên lạnh lùng tàn nhẫn, nhưng đó chính là thứ cô khao khát khi còn ở dưới thung lũng, vì thế cô mới tới đây. Cô sẽ thấu hiểu những điều cả đời nơi trần thế không bao giờ hiểu được. Nơi này tràn ngập đam mê, niềm vui và tiếng cười, có sức nóng mặt trời, có lực hút của ánh trăng, có tình yêu không vướng bận cảm xúc vụn vặt, có giấc ngủ say không mộng mị. Vì thế, người dưới thung lũng căm ghét núi Chân Lý, bởi họ sợ nơi này. Bởi nơi đây, đỉnh núi này, là thứ họ chưa từng có và vĩnh viễn không thể có được, nên họ mới phẫn nộ, ghen ghét và bất mãn."
Anne quay người lại. Cô gái đã vứt bỏ giới tính cùng bộ quần áo cũ và cuộc đời trước kia, bước theo sau Anne. Cô đi chân trần, để lộ cánh tay, tóc ngắn như mọi người. Cô mỉm cười, rạng rỡ, tôi biết chẳng còn gì có thể níu giữ cô được nữa.
Họ bước xuống khoảng đất trống, bỏ lại mình tôi trên đỉnh núi. Tôi thấy mình như bị gạt ra ngoài cổng thiên đường. Khoảnh khắc thuộc về tôi đã chấm dứt. Họ thuộc về nơi này, còn tôi thì không. Tôi chỉ là một kẻ ngoại đạo đến từ cõi trần.
Tôi lấy lại phần lý trí mà mình chẳng hề muốn lấy lại, nhớ tới Victor, nhớ tới sứ mệnh của mình, bèn bước xuống khoảng đất trống, mặc lại quần áo. Ngẩng đầu lên, tôi thấy Anne đang đợi mình trên tháp canh.
Những người khác nép sát vào tường nhường đường cho tôi. Tôi nhận ra trong số họ chỉ có Anne là mặc áo choàng trắng trùm đầu. Tháp canh sừng sững, mở toang về phía bầu trời. Anne ngồi trên bậc thang cao nhất của tháp, trong ký ức của tôi, nàng cũng từng ngồi như thế trên chiếc ghế đẩu thấp trước lò sưởi nơi phòng khách lớn, một đầu gối co lên, khuỷu tay chống lên đó. Hôm nay chính là hôm qua, hôm nay chính là ngày này của hai mươi sáu năm trước, chúng tôi như đang ở riêng trong căn nhà tại Shropshire, sự bình yên nàng mang lại cho tôi lúc này cũng hệt như năm xưa. Tôi muốn quỳ bên nàng, nắm lấy tay nàng. Nhưng tôi không làm thế, tôi bước tới, khoanh tay đứng cạnh bức tường.
"Cuối cùng anh cũng tìm thấy," nàng nói, "dù hơi mất thời gian."
Giọng nàng mềm mại và bình thản, không chút đổi thay.
"Là em đưa tôi tới đây sao?" Tôi hỏi, "Khi máy bay rơi, có phải em đang gọi tôi không?"
Nàng mỉm cười, tôi thấy như mình chưa từng rời xa nàng. Thời gian ngưng đọng trên núi Chân Lý.
"Em đã muốn anh đến từ lâu rồi," nàng nói, "nhưng anh đóng chặt cửa lòng với em. Giống như một người không chịu nhấc ống nghe, thì điện thoại làm sao thông được. Giờ điện thoại vẫn thế chứ?"
"Phải," tôi đáp, "phát minh hiện đại cần bấm nút để liên lạc, nhưng con tim thì không cần."
"Tim anh đã đóng bụi bao năm qua," nàng bảo, "tiếc thật, nếu không chúng ta đã có thể trò chuyện từ lâu. Em chỉ có thể biết suy nghĩ của Victor qua thư từ, nhưng không cần đọc thư em cũng biết anh đang nghĩ gì."
Khoảnh khắc đó, lần đầu tiên trong tôi nhen nhóm hy vọng. Tôi phải dò xét cẩn thận.
"Em đã đọc thư của hắn," tôi hỏi, "cũng đọc cả thư của tôi rồi? Em biết hắn không còn sống được bao lâu nữa?"
"Biết chứ," nàng nói, "anh ấy ốm mấy tuần rồi. Cho nên lần này em mới muốn anh tới, để anh có thể ở bên anh ấy lúc lâm chung. Anh quay về có thể bảo với anh ấy là hai chúng ta đã nói chuyện với nhau, anh ấy sẽ vui đấy."
"Sao em không tự mình đi?"
"Tốt nhất vẫn là anh đi," nàng nói, "như vậy anh ấy mới giữ được giấc mộng của mình."
Giấc mộng của hắn? Nàng nói vậy là có ý gì? Nghĩa là, những người trên núi Chân Lý không sở hữu sức mạnh tối thượng? Có lẽ nàng biết họ đang lâm nguy.
"Anne," tôi nói, "tôi sẽ làm như em bảo. Tôi sẽ về bên Victor, đi cùng hắn đoạn đường cuối cùng. Nhưng không còn nhiều thời gian nữa, điều cấp bách hơn bây giờ là tình thế của mọi người rất nguy hiểm. Ngày mai, thậm chí ngay đêm nay, người dưới thung lũng sẽ trèo lên núi Chân Lý, họ sẽ xông vào giết sạch các người. Các người phải rời đi trước khi họ tới. Nếu không thể tự cứu mình, em phải đồng ý để tôi giúp. Chúng ta chưa cách quá xa thế giới văn minh, mọi chuyện vẫn xoay xở được. Tôi xuống thung lũng, tìm điện thoại gọi cho cảnh sát, quân đội, gọi cho chính quyền..."
Giọng tôi nhỏ dần. Tôi chưa nghĩ thông suốt phải làm thế nào, nhưng tôi mong nàng có niềm tin vào tôi, có thể tin tưởng tôi.
"Quan trọng là," tôi bảo nàng, "em sẽ không thể tiếp tục sống ở đây được nữa. Tôi chưa biết có ngăn nổi đợt tấn công này không, mà dẫu có ngăn được, tuần sau, tháng sau họ lại tới. Những ngày yên ổn ở đây chẳng còn được mấy hồi. Em ở đây lâu quá rồi, không biết thế giới bên ngoài giờ hỗn loạn ra sao đâu. Ngay cả đất nước này cũng chia làm hai phe, nghi kỵ lẫn nhau; người dưới thung lũng không còn là những nông dân mê tín nữa, họ có súng ống đầy đủ, dã tâm giết chóc đã nổi lên rồi. Các người không có cửa thắng đâu."
Nàng không đáp, chỉ ngồi trên bậc thang lắng nghe, dưới tà áo choàng trắng trùm đầu là dáng vẻ xa xăm tĩnh lặng.
"Anne," tôi nói, "Victor sắp chết rồi. Có khi hắn đã chết rồi cũng nên. Em rời khỏi đây, hắn chẳng giúp gì được cho em, nhưng tôi thì có thể. Tôi vẫn luôn yêu em, điều này chẳng cần nói chắc em cũng biết. Hai mươi sáu năm trước, em ở lại núi Chân Lý, hủy hoại hai người đàn ông. Nhưng không sao, tôi lại tìm thấy em rồi. Thế giới này còn những nơi xa xôi khác, cũng rất thanh tịnh, cũng cách xa nền văn minh, chúng ta có thể sống ở đó: em, tôi, và cả những người ở đây nữa nếu họ muốn đi cùng. Tôi có đủ tiền, có thể thu xếp ổn thỏa, em chẳng cần bận tâm điều gì hết."
Trong đầu tôi hiện lên cảnh tượng mình bàn bạc với lãnh sự, đại sứ về hộ chiếu, giấy tờ, trang phục.
Trong đầu tôi còn hiện lên một tấm bản đồ thế giới. Tôi nhìn từ rặng núi Nam Mỹ sang dãy Himalaya, rồi từ dãy Himalaya sang châu Phi. Vùng đông bắc Canada có những dải đất hoang vu bạt ngàn, dấu chân người chưa từng chạm tới, Greenland cũng có những nơi thích hợp. Còn cả vô số hòn đảo chưa ai đặt chân lên, chỉ có chim biển đậu lại, chỉ có sóng biển cô đơn vỗ về. Tôi chẳng bận tâm nàng chọn đi đâu, núi cao, hải đảo, thảo nguyên, sa mạc, hay rừng rậm bạt ngàn, đồng hoang Bắc Cực, đâu cũng được. Tôi đã xa nàng quá lâu, giờ đây chỉ muốn đời đời kiếp kiếp được ở bên nàng.
