Chương 10
Chương 10: Người lạ, hôn tôi một lần nữa
Đăng ngày 06/10/2026
19
Xuất ngũ xong, tôi nhanh chóng tìm được việc ở một xưởng sửa xe rồi ổn định cuộc sống. Xưởng đó nằm ở Hampstead, gần Chalk Farm dưới chân Haverstock Hill. Công việc rất hợp với tôi, vì tôi vốn mê động cơ từ nhỏ, vả lại trước khi giải ngũ, tôi từng phục vụ trong Quân đoàn Kỹ sư Cơ Điện Hoàng Gia, đã qua đào tạo bài bản. Cứ đụng đến máy móc là tôi xử lý ngon ơ.
Với tôi, chẳng có gì vui bằng việc khoác bộ đồ bảo hộ dính đầy dầu mỡ, hít mùi xăng nồng nặc, cầm cờ-lê chui xuống gầm ô tô hay xe tải siết lại mấy con ốc gỉ sét. Quanh tôi, thợ thuyền người nổ máy, kẻ vừa huýt sáo vừa gõ đồ nghề lách cách. Mùi xăng hay bụi bẩn chưa bao giờ làm tôi khó chịu. Hồi nhỏ tôi hay ôm hộp mỡ bôi trơn chạy rông khắp nơi, mẹ tôi toàn bảo: "Cứ kệ nó, bẩn kiểu này không dơ đâu." Dầu mỡ trên động cơ cũng vậy.
Ông chủ xưởng rất tốt tính, dễ gần, mặt lúc nào cũng tươi cười. Ông ấy sửa xe không giỏi, nhưng thấy tôi nhiệt tình nên cứ giao hết việc cho tôi, đúng ý tôi muốn.
Tôi không ở cùng mẹ. Bà sống ở Shepperton, cách đây khá xa. Tôi thích tiện lợi, không muốn ngày nào cũng mất cả buổi đi đi về về. Thế nên tôi thuê một phòng của vợ chồng Thompson, đi bộ mười phút là tới xưởng. Hai người họ rất tử tế. Ông Thompson làm thợ đóng giày, còn bà Thompson ở nhà quán xuyến việc nhà. Chúng tôi thường ăn sáng và ăn tối cùng nhau, bữa tối lúc nào cũng có cơm canh nóng sốt. Tôi là khách trọ duy nhất, họ coi tôi như người trong nhà.
Tôi thích nếp sống đều đặn. Ngày đi làm, tối đọc báo, hút thuốc, nghe nhạc trên radio rồi đi ngủ sớm. Tôi vốn chẳng mấy hứng thú với con gái, kể cả hồi sang tận Trung Đông hay Port Said đóng quân cũng vậy.
Được sống cùng vợ chồng Thompson, lặp đi lặp lại những ngày bình lặng, tôi vốn đã thấy đủ đầy. Cho đến một đêm nọ, chuyện đó xảy ra. Kể từ ấy, mọi thứ không bao giờ quay lại như trước nữa. Không bao giờ. Tôi cũng chẳng biết nữa...
Đêm đó, vợ chồng Thompson sang Highgate thăm cô con gái đã lấy chồng. Họ rủ tôi đi cùng, nhưng tôi không muốn làm phiền. Tan làm ở xưởng, tôi không về nhà ngồi một mình mà đi tới rạp chiếu phim. Nhìn tấm áp-phích bên ngoài rạp, trên đó vẽ một chàng cao bồi và một người da đỏ, tay cao bồi đâm dao vào bụng người da đỏ. Tôi khoái mấy phim miền Tây kiểu này, liền trả mười bốn xu rồi bước vào. Tôi đưa vé cho cô soát vé dẫn chỗ: "Hàng sau cùng, cảm ơn." Tôi thích ngồi hàng chót để ngả đầu vào vách ngăn phía sau.
Lúc ấy, tôi nhìn thấy cô. Nhiều rạp phim bắt nhân viên nữ đội mũ nhung tròn, mặc đồng phục cứng đờ như con trai, nhưng họ không thể biến cô thành kiểu người đó. Cô có mái tóc nâu đỏ chấm vai uốn cong ở đuôi. Đôi mắt xanh biếc khiến người ta ngỡ cô nhìn không rõ, nhưng thực ra cô thấy rành rọt mọi thứ. Về đêm, tròng mắt ấy sẫm lại gần như đen kịt. Khóe môi cô mím chặt, thoáng nét bực bội, như thể phải hái sao trên trời dâng tận tay mới mong đổi được một nụ cười. Mặt cô không tàn nhang, da dẻ không trắng bệch mà ửng tông ấm áp tự nhiên như quả đào. Dáng người cô nhỏ nhắn, chiếc áo khoác nhung xanh vừa vặn ôm lấy thân hình, mái tóc nâu đỏ lấp ló dưới vành mũ sau gáy.
Tôi mua một tờ chương trình. Không phải vì cần, mà chỉ muốn nán lại trước tấm rèm thêm một lát. Tôi hỏi cô: "Phim này thế nào?"
Cô không nhìn tôi, ánh mắt vẫn dán vô hồn vào bức tường đối diện. "Đâm dao vụng về lắm," cô nói, "nhưng đằng nào anh cũng ngủ được mà."
Tôi bật cười. Tôi biết cô nói thật, chẳng có ý đùa cợt gì với tôi.
"Quảng cáo kiểu này dở quá," tôi bảo, "quản lý mà nghe thấy thì sao?"
Lúc này, cô mới nhìn tôi. Đôi mắt xanh hướng về phía tôi, vẻ mặt vẫn uể oải, không lộ chút hứng thú, nhưng tôi lại thấy trong đôi mắt ấy một thứ mình chưa từng gặp và sau này cũng chẳng bao giờ thấy lại — một vẻ lười biếng, như thể vừa tỉnh giấc sau cơn ngủ dài, mừng rỡ khi thấy người trước mặt. Giống như con mèo được vuốt ve liền cuộn tròn lại, rên gừ gừ, an tâm giao phó bản thân cho bạn, trong mắt sẽ ánh lên tia sáng như thế. Cô nhìn tôi một lúc, khóe môi dường như thoáng nụ cười, rồi xé đôi chiếc vé: "Họ đâu có trả tiền để tôi quảng cáo. Họ trả tiền để tôi mang cái bộ mặt này dẫn anh vào chỗ."
Cô vén rèm, rọi đèn pin vào bóng tối. Bên trong tối đen như mực, tôi chẳng thấy gì. Ở rạp phim lúc nào cũng thế, phải mất một lúc để mắt quen với bóng tối rồi mới lờ mờ nhận ra bóng người xung quanh. Màn hình chiếu hai cái đầu to tướng, một gã bảo gã kia: "Không khai thì tao cho ăn đạn." Kế đó là tiếng đập vỡ cửa kính và tiếng đàn bà thét lên.
"Trông cũng được đấy chứ." Tôi vừa nói vừa lần mò tìm ghế.
Cô bảo: "Không phải phim này, giới thiệu phim tuần sau đấy." Rồi cô lắc lắc đèn pin, chỉ cho tôi một ghế hàng sau cách xa lối đi.
Tôi ngồi xem hết các mẩu quảng cáo đầu giờ và bản tin thời sự, sau đó có người vào chơi đàn đại phong cầm, rèm trước màn hình đổi màu liên tục, lúc tím, lúc vàng, lúc xanh. Thú vị phết. Chắc rạp muốn khán giả thấy đáng đồng tiền bát gạo. Tôi nhìn quanh, nửa số ghế còn trống. Cô gái nói đúng, phim này chắc chán thật nên mới vắng khách thế.
Ngay trước khi phòng chiếu tối lại lần nữa, cô thong thả bước dọc lối đi, tay bưng khay kem. Cô chẳng buồn rao bán, trông cứ như đang mộng du. Thế là khi cô đi sang lối bên kia, tôi ra hiệu bảo cô lại gần.
"Có loại sáu xu không?" Tôi hỏi.
Cô nhìn tôi. Tôi nghĩ thoạt đầu cô chỉ coi tôi như một thứ vô hình dưới chân, nhưng rồi chắc chắn cô nhận ra tôi, bởi nét cười mờ nhạt và vẻ lười biếng trong mắt lại xuất hiện. Cô bước vòng ra sau ghế tôi.
"Bánh kẹp hay ốc quế?" Cô hỏi.
Thú thật là tôi chẳng muốn ăn loại nào. Tôi chỉ muốn mua thứ gì đó từ tay cô để bắt chuyện thôi.
"Cô thấy loại nào ngon hơn?" Tôi hỏi.
Cô nhún vai: "Ốc quế lâu chảy hơn." Rồi chẳng đợi tôi chọn, cô đã nhét một cây vào tay tôi.
"Tôi mua cho cô một cây nhé?" Tôi nói.
"Khỏi, cảm ơn," cô đáp, "tôi thấy tận mắt người ta làm món này rồi."
Nói xong cô bỏ đi, khán phòng lại tối sầm xuống. Tôi ngồi trơ ra đó với cây kem ốc quế sáu xu to tướng trên tay, trông ngố không chịu được. Cây kem chết tiệt chảy lem nhem quanh vành bánh rồi rớt cả vào áo sơ mi của tôi. Sợ kem nhỏ hết xuống đầu gối, tôi đành cuống cuồng tống vào mồm, lại còn phải nghiêng người sang một bên vì có người vừa đến ngồi vào ghế trống phía ngoài lối đi.
Rốt cuộc cũng ăn xong. Tôi rút khăn tay trong túi ra lau sạch sẽ rồi tập trung nhìn lên màn hình. Đúng là phim miền Tây kinh điển: xe ngựa ầm ầm qua thảo nguyên, tàu hỏa chở vàng bị cướp, nữ chính vừa mặc quần cưỡi ngựa ở cảnh trước, cảnh sau đã khoác váy dạ hội lộng lẫy. Phim ảnh là thế, chẳng thực tế chút nào. Đang xem dở thì một mùi hương thoảng qua trong không khí. Tôi không biết đó là mùi gì, từ đâu tới, nhưng nó hiện hữu rất rõ ràng. Bên phải tôi là một người đàn ông, bên trái trống hai ghế, tôi cũng dám chắc mùi hương không bay từ hàng trước lại, nên không kìm được quay đầu tìm kiếm.
Bình thường tôi chẳng ưa nước hoa, đa phần đều nghe rẻ tiền nồng nặc. Nhưng mùi hương này thì khác, không hề đục, không ngột ngạt hay gắt mũi, khiến người ta liên tưởng tới những đóa hoa tươi còn chưa kịp xếp lên xe đẩy ở mấy tiệm hoa sang trọng khu West End. Loại hoa ba shilling một bông, chỉ nhà giàu mới mua tặng đào hát. Hương thơm dễ chịu đến mức, giữa rạp chiếu bóng lờ mờ sực mùi khói thuốc, nó làm tôi gần như phát cuồng.
Cuối cùng, tôi quay hẳn người lại và tìm thấy ngọn nguồn mùi hương. Là cô, cô soát vé. Hai tay cô đang tì lên tấm vách sau lưng tôi, cả người tựa vào đó.
"Đừng có lơ đãng," cô nói, "phí mất mười bốn xu đấy. Xem phim đi."
Giọng cô rất khẽ, người khác không thể nghe thấy, chỉ như thì thầm với riêng mình tôi. Tôi bật cười. Quậy thật đấy! Giờ thì tôi đã biết mùi hương từ đâu ra. Chẳng hiểu sao điều đó lại khiến tôi thấy bộ phim hay hơn hẳn, như thể cô đang ngồi cạnh xem cùng tôi vậy.
Phim hết, đèn bật sáng, tôi mới nhận ra mình vừa xem suất cuối cùng của đêm. Lúc này đã gần mười giờ, mọi người lục tục ra về, còn tôi nán lại trên ghế một lúc. Rồi cô cầm đèn pin đi dọc lối đi, nheo mắt rọi dưới gầm ghế xem có ai đánh rơi găng tay hay ví tiền không. Khách khứa thỉnh thoảng vẫn thế, về đến nhà mới nhớ ra mất đồ. Cô chẳng buồn đoái hoài đến tôi, xem tôi như một mảnh giẻ rách người ta lười chẳng buồn nhặt.
Trong rạp giờ chẳng còn ai khác, chỉ mình tôi đứng ở hàng ghế sau. Cô bước về phía tôi: "Tránh ra, anh chắn đường rồi." Kế đó, cô lia đèn pin kiểm tra, nhưng ở đó chỉ có một bao thuốc lá rỗng, sáng mai lao công sẽ dọn. Cô đứng thẳng dậy, nhìn tôi từ đầu đến chân. Rồi cô tháo chiếc mũ nhỏ trông buồn cười nhưng lại rất hợp với mình ra, phe phẩy quạt: "Tối nay ngủ đây à?" Dứt lời, cô khẽ huýt sáo quay lưng bước đi, khuất sau bức rèm.
Thật phát điên lên được. Đời tôi chưa từng để tâm đến cô gái nào đến mức này. Tôi bám theo cô ra sảnh trước, nhưng cô đã lách qua một cánh cửa đi vào phía sau quầy vé. Bác bảo vệ lúc này cũng rục rịch đóng cửa. Tôi bước ra ngoài, đứng đợi trên phố. Tôi tự thấy mình hơi ngớ ngẩn, bởi nhiều khả năng cô sẽ đi ra cùng một đám đông, hầu hết con gái đều thế. Trong đó ngoài người bán vé cho tôi, chắc chắn còn có cô soát vé trên tầng lửng, có khi cả nhân viên giữ đồ nữa, họ sẽ ríu rít vừa nói vừa cười bước ra, và tôi thì tuyệt đối chẳng đủ can đảm để tiến lại bắt chuyện.
Nhưng vài phút sau, cô bước ra một mình với những sải chân dài. Cô không đội mũ, mặc chiếc áo măng-tô thắt đai, hai tay đút túi áo. Cô rảo bước về phía trước, chẳng nhìn ngó nghiêng ngả. Tôi bám theo sau, nơm nớp sợ cô đột ngột quay lại xua đuổi, nhưng cô chỉ nhìn thẳng, bước đi dứt khoát và mau lẹ, mái tóc nâu đỏ đu đưa theo bờ vai.
Sau đó, cô hơi ngập ngừng rồi băng qua đường, hòa vào hàng người đợi xe buýt. Có bốn, năm người đứng xếp hàng nên cô không nhận ra tôi cũng đứng vào đó. Xe buýt trờ tới trạm, cô là người đầu tiên bước lên. Dù chẳng biết chuyến xe này chạy đi đâu, tôi vẫn không ngần ngại bước theo. Cô lên tầng trên của xe buýt, ngồi xuống hàng ghế sau cùng, ngáp một cái rồi nhắm mắt lại.
Tôi ngồi xuống cạnh cô, tim đập thon thót như mèo sợ sệt. Tôi chưa bao giờ làm trò này, và đã chuẩn bị tinh thần bị mắng té tát. Lúc này, người bán vé bước lên cầu thang, hỏi tôi mua vé giá bao nhiêu. Tôi bảo: "Cho hai vé sáu xu." Vì tôi nghĩ chắc cô chẳng đi tới tận bến cuối, vé sáu xu hẳn là đủ rồi.
Gã nhướng mày làm ra vẻ ta đây hiểu hết: "Lúc tài xế sang số cẩn thận xe giật đấy. Tay này mới lấy bằng lái thôi." Dứt lời, gã cười khúc khích bước xuống cầu thang, cứ ngỡ mình là danh hài hóm hỉnh.
Tiếng của gã đánh thức cô gái. Cô mở đôi mắt ngái ngủ nhìn tôi, rồi nhìn xấp vé trên tay tôi. Chắc chắn cô đã nhận ra đó là vé sáu xu qua màu sắc. Rồi cô mỉm cười. Đó là lần đầu tiên trong đêm tôi thấy cô thực sự cười. Cô chẳng hề ngạc nhiên, cất lời: "Chào anh, người lạ."
Tôi rút điếu thuốc ra định trấn tĩnh lại, đưa cho cô một điếu nhưng cô không nhận, chỉ nhắm mắt ngủ tiếp. Tầng trên xe buýt ngoài chúng tôi ra chỉ còn một anh lính không quân ngồi phía trước đang uể oải lật báo. Nghĩ bụng chẳng ai để ý, tôi đưa tay tựa đầu cô vào vai mình, rồi vòng một tay ôm lấy cô, nép sát vào nhau thật dễ chịu. Tôi cứ ngỡ cô sẽ hất tôi ra rồi chửi té tát, nhưng cô không làm thế. Cô tựa vào tôi, khóe môi hé nụ cười như thể đang rúc vào ghế bành êm ái, cô bảo: "Đâu phải tối nào tôi cũng được đi xe miễn phí, lại có gối dựa không mất tiền thế này. Tới chân đồi thì gọi tôi dậy nhé, đừng đi quá nghĩa địa."
Tôi chẳng biết cô nói ngọn đồi nào, nghĩa địa nào, nhưng tôi cũng không định gọi cô dậy. Tôi đã mua hai vé sáu xu, dĩ nhiên phải ngồi cho bõ chuyến xe buýt.
Chúng tôi nép vào nhau, lắc lư nhè nhẹ theo nhịp xe chạy, gần gũi vô cùng, khoan khoái vô cùng. Tôi thầm nghĩ, so với việc ru rú một mình trên giường đọc báo bóng đá, hay đi cùng vợ chồng Thompson sang Highgate thăm con gái họ, thế này thú vị hơn biết bao nhiêu.
Giờ thì tôi bạo hơn, đầu kề sát đầu cô, khẽ dùng lực một cách kín đáo, ôm chặt cô hơn trong dịu dàng. Bất cứ ai bước lên tầng này cũng sẽ tưởng chúng tôi là một cặp tình nhân.
Khi xe buýt chạy hết quãng đường ứng với giá vé bốn xu, tôi bắt đầu sốt ruột. Chiếc xe buýt cọc cạch này tới điểm cuối của vé sáu xu sẽ không quay về nữa mà đậu luôn ở bến đỗ qua đêm. Tới lúc đó, hai chúng tôi sẽ bị kẹt lại ở một nơi khỉ ho cò gáy, chẳng còn chuyến xe buýt nào quay về, trong khi túi tôi chỉ còn đúng sáu shilling. Sáu shilling thì không tài nào bắt nổi taxi, chưa kể còn tiền boa này nọ. Vả lại ở chỗ đó chắc gì đã vẫy được taxi.
Tôi ngốc thật, sao ra ngoài lại không mang nhiều tiền hơn, sao lại ngu ngốc để mình rơi vào thế bí này. Nhưng suy cho cùng, ngay từ đầu tôi đã hành động bốc đồng. Nếu biết trước đêm nay diễn ra thế này, chắc chắn tôi đã nhét căng ví tiền. Tôi hiếm khi hẹn hò, và tôi ghét những gã đàn ông hẹn hò mà không chuẩn bị chu đáo. Hẹn hò là phải tới nhà hàng ăn một bữa ra trò. Giờ nhiều quán ăn có quầy tự phục vụ, tiện lợi lắm. Nếu cô chê cà phê hay nước cam nhạt nhẽo, tôi có thể dắt cô đi uống thứ khác đậm đà hơn. Dù muộn thế này chẳng còn mấy chỗ mở cửa, nhưng tôi biết quanh nhà có vài điểm khá hay ho. Chẳng hạn như quán rượu ông chủ tôi hay ghé, có thể mua rượu gửi lại đó, thích uống lúc nào ghé lấy lúc ấy. Nghe bảo mấy hộp đêm sang trọng khu West End cũng thế, chỉ có điều giá cả đắt cắt cổ.
Tóm lại, lúc này tôi đang ngồi trên một chuyến xe buýt quỷ tha ma bắt chẳng biết đi về đâu, và cô gái của tôi đang ngồi ngay bên cạnh. Tôi gọi cô là "cô gái của tôi", vờ như cô là người yêu tôi đang hẹn hò. Trời thương, mong sao số tiền trên người đủ đưa cô về đến nhà. Tôi bồn chồn đứng ngồi không yên, bắt đầu lục lọi từng túi một, hy vọng may mắn mò ra đồng nửa crown bỏ quên, hoặc tốt nhất là một tờ mười shilling. Có lẽ động tác của tôi làm cô khó chịu, cô bỗng véo tai tôi một cái: "Đừng quậy."
Tôi muốn nói là... câu đó đã đánh trúng tim tôi. Tôi chẳng thể giải thích được lý do. Trước khi véo tai tôi, cô khẽ vuốt ve nó một lát, như thể đang cảm nhận da thịt tôi và thấy thích thú. Rồi cô lười biếng véo nhẹ một cái, hệt như người lớn đối xử với con nít. Cách cô nói câu đó mang lại cảm giác như thể cô đã quen tôi nhiều năm, như hai đứa đang chuẩn bị cùng nhau đi dã ngoại. "Đừng quậy." Thân mật, ấm áp biết bao, nhưng còn hơn cả thân mật.
"Em nghe anh nói này," tôi bảo, "thật sự xin lỗi em, anh lỡ làm một chuyện ngu ngốc. Anh mua vé tới bến cuối vì muốn ngồi cạnh em, nhưng tới nơi rồi sẽ không còn xe buýt quay về nữa. Chỗ đó cách mọi nơi khác mấy dặm lận, mà túi anh chỉ còn sáu shilling."
"Anh có chân mà, phải không?" Cô nói.
"Anh có chân? Ý em là sao?"
"Chân anh để đi bộ. Chân tôi cũng thế." Cô đáp.
Thế là tôi biết mình chẳng cần phải lo nữa. Cô không giận, đêm nay mọi chuyện sẽ êm xuôi. Tinh thần tôi lập tức phấn chấn, liền siết chặt cô hơn để cô biết tôi biết ơn nhường nào, bởi hầu hết con gái gặp cảnh này chắc đã xé xác tôi ra rồi. Rồi tôi nói: "Chắc mình chưa qua nghĩa địa đâu. Có sao không?"
"Ồ, còn nhiều lắm," cô bảo, "cái nào cũng được."
Tôi không hiểu câu đó nghĩa là gì. Tôi cứ ngỡ cô muốn xuống chỗ nghĩa địa vì nhà cô gần đó. Giống như nếu bảo "làm ơn cho tôi xuống chỗ Woolworths", nghĩa là người ta sống gần đó. Tôi thắc mắc: "Ý em 'còn nhiều lắm' là sao? Bình thường xe buýt ít khi đi qua nghĩa địa mà."
"Chẳng có ý gì đâu," cô đáp, "đừng nói nữa, tôi thích anh im lặng hơn."
Giọng cô không khiến người ta có cảm giác bị dội gáo nước lạnh. Thật ra, tôi hiểu ý cô. Trò chuyện với những người như vợ chồng Thompson rất dễ chịu. Giờ cơm tối, chúng tôi chia sẻ cảm nhận trong ngày, một người đọc một hai mẩu tin trên báo, người kia lại bảo: "Hay quá nhỉ!" Những cuộc trò chuyện như thế cứ tiếp diễn cho đến khi có ai đó ngáp dài, rồi sẽ có người nói: "Đi ngủ thôi chứ?" Nói chuyện với người như ông chủ tôi cũng rất thoải mái. Chúng tôi tán gẫu vào giờ trà sáng, hoặc lúc ba giờ chiều rảnh rỗi, kiểu như: "Tôi nói anh nghe, mấy lão trong chính phủ giờ toàn làm ăn bậy bạ, chẳng khá hơn khóa trước chút nào." Rồi câu chuyện bị ngắt quãng vì có khách ghé đổ xăng. Tôi cũng thích trò chuyện với mẹ già những dịp hiếm hoi về thăm bà. Bà sẽ kể hồi bé bà đã tét đít tôi ra sao. Tôi lại ngồi vào bàn ăn như hồi nhỏ, bà nướng bánh đá rồi đưa phần phủ đường cho tôi: "Mày từ bé đã thích ăn lớp đường này." Đó là trò chuyện, là chuyện trò.
Nhưng tôi không muốn chuyện trò với cô gái của mình, tôi chỉ muốn ôm cô như lúc này, cằm tựa lên đỉnh đầu cô. Đó chính là sự tĩnh lặng mà cô muốn, và tôi cũng thích thế.
Cuối cùng còn một điều khiến tôi hơi băn khoăn: liệu tôi có thể hôn cô trước khi xe tới bến cuối hay không. Dù sao thì ôm là một chuyện, hôn lại là chuyện khác. Thường thì để hai người nảy sinh tình cảm phải mất chút thời gian. Trước hết, cả hai phải trải qua một buổi tối dài bên nhau, xem phim hoặc nghe hòa nhạc xong xuôi, rồi cùng đi ăn chút gì đó thì mới dần thân thiết. Khi ấy, thường cô gái cũng sẽ ngầm hiểu và mong đợi kết thúc buổi hẹn bằng một cái ôm hôn. Thật lòng mà nói, tôi chưa bao giờ thích hôn hít. Trước khi nhập ngũ, tôi từng hẹn hò với một cô ở quê. Cô ấy rất tốt, tôi cũng quý cô ấy, nhưng răng cô ấy hơi hô. Hôn cô ấy thì dù có nhắm tịt mắt lại, cố quên xem mình đang hôn ai cũng không tài nào làm được, vì đụng vào là biết ngay cô ấy. Ôi, Doris - cô hàng xóm tốt bụng của tôi. Nhưng mấy cô nàng đối lập hoàn toàn với cô ấy lại càng tệ hơn, trông như chực nuốt chửng bạn. Hồi mặc áo lính, quanh tôi chẳng thiếu những cô nàng như thế. Họ vồ vập thái quá, suốt ngày lêu lổng đùa cợt, nóng lòng muốn có đàn ông vây quanh từng ngày. Nói thẳng ra là tôi thấy phát tởm. Tôi dị ứng vô cùng, đó là cảm giác thật lòng của tôi. Có lẽ sinh ra tôi đã khó tính. Tôi cũng chịu.
Nhưng lúc này, trên chuyến xe buýt đêm nay, mọi thứ lại khác hẳn. Tôi không hiểu sao mình lại rung động trước cô gái này đến thế. Đôi mắt ngái ngủ, mái tóc nâu đỏ, và cái vẻ ngoài mặt làm như chẳng thèm quan tâm nhưng thực chất cũng đang thầm thích tôi, tất cả đều khiến tim tôi xao xuyến. Cảm giác này chưa từng có bao giờ. Tôi tự nhủ: "Giờ mình nên liều một phen hay chờ đợi?" Nghe tiếng người soát vé bên dưới huýt sáo chúc ngủ ngon hành khách xuống xe, cộng thêm hướng xe đang chạy, tôi biết chúng tôi sắp tới bến cuối. Sau lớp áo khoác, tim tôi đập thình thịch, gáy dưới cổ áo cũng nóng bừng lên. Ngu thật, chỉ một nụ hôn thôi mà, cô ấy có giết mình đâu. Thế là... như sắp lao đầu từ ván nhảy xuống nước, tôi nghĩ bụng "tới luôn đi", rồi cúi người, xoay mặt cô về phía mình, nâng cằm cô lên và hôn cô thật sâu.
Nếu là thi sĩ, hẳn tôi sẽ miêu tả khoảnh khắc này như mặc khải của thượng đế. Nhưng tôi không phải thi sĩ, tôi chỉ có thể nói rằng cô cũng đáp lại nụ hôn của tôi. Chúng tôi hôn nhau rất lâu, nụ hôn này khác xa nụ hôn với Doris.
Đúng lúc này, xe buýt phanh gấp một cú, giọng người soát vé vang lên đều đều: "Xin mời tất cả xuống xe." Thật lòng, tôi chỉ muốn bóp cổ gã.
Cô đá nhẹ vào mắt cá chân tôi. "Đi thôi, xuống xe." Cô nói. Tôi loạng choạng đứng dậy khỏi ghế, bước xuống bậc thang. Cô đi ngay sau lưng tôi. Thế rồi cả hai đứng giữa con phố lớn. Trời bắt đầu đổ mưa, mưa không nặng hạt nhưng không thể phớt lờ, làm người ta phải dựng cổ áo khoác lên. Chúng tôi đứng ở cuối một đại lộ thênh thang, hai bên là những cửa tiệm tối om, bên trong không một bóng người. Cảnh tượng trước mắt trông chẳng khác nào ngày tận thế, nhưng đúng như lời cô nói, bên trái có một ngọn đồi thấp, dưới chân đồi là một nghĩa địa. Tôi có thể thấy hàng rào sắt cùng những bia mộ trắng toát phía sau. Khu nghĩa địa trải dài lên tận lưng chừng đồi, rộng đến cả mấy nghìn mét vuông.
"Chết tiệt," tôi bảo, "có phải chỗ em nói không?"
"Có lẽ vậy." Cô khẽ ngoảnh đầu nhìn quanh, rồi khoác lấy tay tôi. "Đi uống cốc cà phê trước không?" Cô hỏi.
Trước...? Tôi không hiểu ý cô là uống trước khi cuốc bộ một quãng đường dài về nhà, hay đây chính là nhà cô rồi. Sao cũng được. Lúc này vừa hơn mười một giờ. Tôi có thể uống một cốc cà phê và ăn cái bánh kẹp. Bên kia đường có một quầy hàng rong vẫn chưa dọn.
Chúng tôi bước qua, bác tài xe buýt, gã soát vé và anh lính không quân ngồi trên tầng xe lúc nãy cũng ở đó. Họ gọi trà và bánh kẹp, còn hai đứa tôi chỉ gọi cà phê. Bánh kẹp bán ở quầy rong trông lúc nào cũng hấp dẫn lạ kỳ, tôi để ý từ trước rồi, đồ ăn ở đây đầy đặn lắm, lát giăm bông to kẹp giữa hai lát bánh mì trắng dày cộp, cà phê nóng hổi rót đầy tràn cốc, rất hời. Tôi thầm tính: "Sáu shilling đủ lo liệu."
Tôi để ý thấy cô gái của mình đang nhìn anh lính không quân. Cô trầm ngâm như thể từng gặp anh ta trước đây, còn anh ta cũng nhìn cô chằm chằm. Tôi không trách anh ta, cũng chẳng bận lòng, bởi đàn ông đi cạnh một cô gái mà được gã khác dòm ngó thì bụng dạ ai cũng có phần đắc ý, mà cô gái của tôi lại thuộc mẫu người chắc chắn sẽ thu hút mọi ánh nhìn.
Rồi cô quay lưng lại với anh ta, động tác có phần cố ý. Cô chống khuỷu tay lên quầy, nhấp từng ngụm cà phê nóng. Đứng bên cạnh cô, tôi cũng làm y như vậy. Hai chúng tôi không tỏ vẻ lạc lõng hay xa cách mà chào hỏi họ rất niềm nở lịch sự, nhưng ai nấy đều nhìn ra hai đứa là một đôi — cô gái này và tôi là một cặp. Tôi thích cảm giác đó. Lạ lùng thật, nó mang lại cho tôi cảm giác an toàn từ tận đáy lòng, bởi người ngoài nhìn vào sẽ ngỡ chúng tôi là đôi vợ chồng đang trên đường về nhà.
Ba người họ tán gẫu đùa cợt với chủ quầy, nhưng chúng tôi không xen vào.
"Mặc bộ quân phục này thì liệu mà cẩn thận," gã soát vé bảo anh lính không quân, "kẻo lại kết cục như mấy tay kia. Muộn thế này rồi mà cậu lại đi có một mình."
Bọn họ đều cười ồ lên. Tôi không hiểu lắm, nhưng đoán chắc là chuyện đùa.
"Tôi cảnh giác từ lâu rồi," anh lính không quân nói, "đứa nào không tử tế, tôi liếc qua là biết ngay."
"Chắc mấy gã kia trước khi chết cũng nói thế chứ gì," bác tài tiếp lời, "nhưng kết cục ra sao thì ai cũng rõ rồi đấy. Nghĩ đến mà rợn cả gáy. Cơ mà tôi chẳng hiểu nổi sao cứ nhè đúng lính không quân mà nhắm vào?"
"Tại màu quân phục của bọn tôi đấy," tay lính không quân đáp, "trong bóng tối nhìn vẫn rõ mồn một."
Họ lại cười rộ lên như lúc nãy. Tôi châm một điếu thuốc. Cô gái của tôi không hút.
"Tại chiến tranh làm đàn bà hóa điên hóa dại hết cả," chủ quầy cà phê vừa nói vừa treo mấy chiếc cốc đã lau khô lên giá, "tôi thấy cả đống đàn bà giờ dở người, đứa nào cũng chẳng phân biệt nổi đúng sai."
"Không, tại thể thao ấy," gã soát vé chen vào, "làm chúng nó bắp thịt cuồn cuộn. Đàn bà con gái cần quái gì cơ bắp. Cứ nhìn hai đứa nhóc nhà tôi mà xem, giờ con gái lần nào cũng đè ngửa thằng con trai ra mà tẩn, chuyên thói bắt nạt. Làm người ta không nghĩ ngợi không được."
"Phải đấy," bác tài hùa theo, "chúng nó gọi cái đó là 'bình đẳng giới' chứ gì? Toàn tại cái quyền bỏ phiếu. Đáng lẽ không bao giờ nên cho chúng nó đi bầu cử."
"Vớ vẩn," anh lính không quân nói, "chẳng phải quyền bỏ phiếu làm chúng nó điên đâu. Bản chất trong xương tủy chúng nó vốn thế rồi, xưa giờ chưa từng thay đổi. Người ở Viễn Đông biết cách trị bọn này đấy. Họ bắt đàn bà phải ngậm miệng hết. Cứ phải thế chúng nó mới không gây rắc rối cho mình."
"Nếu tôi mà bắt mụ vợ già nhà tôi ngậm miệng, khéo chẳng biết mụ ấy sẽ phun ra thứ quái quỷ gì nữa." Bác tài nói. Rồi cả bọn lại phá lên cười.
Cô gái của tôi giật giật tay áo tôi, tôi thấy cô đã uống cạn cốc cà phê. Cô hất đầu về phía con phố.
"Muốn về nhà rồi à?" Tôi hỏi.
Ngớ ngẩn thật. Chẳng hiểu sao tôi cứ muốn những người kia nghĩ hai đứa đang cùng nhau về nhà. Cô không trả lời, chỉ đút hai tay vào túi áo măng-tô, sải bước đi nhanh. Tôi chúc mấy người kia ngủ ngon rồi rảo bước theo cô, nhưng tôi nhận thấy anh chàng không quân kia đang nhìn chằm chằm theo bóng lưng cô.
Cô đi dọc theo con phố lớn. Mưa vẫn rơi rả rích, cái vẻ thê lương này khiến người ta chỉ muốn tìm một nơi ấm cúng ngồi sưởi bên bếp lửa. Cô băng qua đường, dừng lại bên hàng rào sắt quanh nghĩa địa, ngước nhìn tôi mỉm cười.
"Giờ làm gì nữa đây?" Tôi hỏi.
"Có mấy tấm bia mộ đặt nằm ngang đấy." Cô nói.
"Thì sao cơ?" Tôi ngơ ngác hỏi.
"Thì người ta có thể nằm lên đó." Cô đáp.
Cô quay người men theo hàng rào chầm chậm bước đi, tới một đoạn thì dừng lại. Chỗ đó chấn song sắt bị uốn cong, thanh bên cạnh cũng đã gãy. Cô lại ngẩng lên cười với tôi.
"Lần nào cũng vậy," cô bảo, "chỉ cần tìm đủ lâu là nhất định sẽ thấy chỗ hở."
Cô lách qua khe hở hàng rào nhanh như dao cắt qua miếng bơ, làm tôi kinh ngạc.
"Chờ đã," tôi nói, "người anh đâu có nhỏ con như em."
Nhưng cô đã đi xa, đang rảo bước giữa những ngôi mộ. Tôi chui qua khe hở, hơi thở dốc một chút. Rồi tôi dáo dác nhìn quanh. Lạy Chúa, cô đã nằm ngửa trên một phiến bia mộ đặt nằm ngang rồi. Hai tay cô gối dưới đầu, mắt nhắm nghiền.
Tôi không hề mong đợi điều gì. Ý tôi là, tôi đã định bụng sẽ đưa cô về nhà, còn hẹn hò này nọ thì để dành tối mai. Dĩ nhiên, muộn thế này rồi, đưa cô tới tận cửa thì cô đâu cần vào nhà ngay, chúng tôi hoàn toàn có thể dùng dằng âu yếm trước cửa một lát rất tự nhiên. Nhưng bây giờ, nằm trên bia mộ thì chẳng tự nhiên chút nào.
Tôi ngồi xuống, nắm lấy tay cô.
"Nằm đây ướt người đấy." Tôi bảo. Nghe yếu ớt thật, nhưng tôi chẳng biết phải nói gì hơn.
"Tôi quen rồi." Cô nói.
Cô mở mắt nhìn tôi. Cách hàng rào không xa có một ngọn đèn đường, thành thử xung quanh không tối lắm. Dù trời mưa, trước mắt cũng không phải đen đặc một màu mà chỉ mờ mờ ảo ảo. Ước gì tôi có thể tả được đôi mắt cô lúc ấy, nhưng tôi dốt văn quá. Bạn biết mặt đồng hồ dạ quang phát sáng trong đêm rồi chứ? Bản thân tôi cũng có một chiếc. Nửa đêm tỉnh giấc, chiếc đồng hồ dạ quang trên cổ tay như một người bạn kề bên. Lúc này, mắt cô gái của tôi ánh lên thứ ánh sáng đẹp đẽ hệt như vậy. Đôi mắt ấy không còn lười biếng như mắt mèo nữa, mà dịu dàng, chan chứa yêu thương, đồng thời cũng phảng phất nỗi buồn thương, tất cả mọi cảm xúc đan xen vào nhau.
"Quen nằm dưới mưa ư?" Tôi hỏi.
"Từ bé đến lớn đều thế," cô đáp, "hồi ở trại tế bần, người ta gọi chúng tôi là 'lũ cùng đường'. Hồi chiến tranh, họ toàn gọi chúng tôi như vậy."
"Mọi người không được sơ tán tái định cư à?" Tôi hỏi.
"Tôi thì không," cô bảo, "tôi ở đâu cũng chẳng được lâu, lúc nào cũng quay lại đó."
"Bố mẹ em còn không?"
"Mất rồi. Bị bom nổ chết, nhà chúng tôi cũng tan tành." Giọng cô không có nỗi buồn, chỉ ráo hoảnh.
"Bất hạnh quá." Tôi nói.
Cô không đáp lời. Tôi ngồi đó, nắm tay cô, đợi đưa cô về nhà.
"Em làm ở rạp chiếu phim được một thời gian rồi nhỉ?" Tôi hỏi.
"Chừng ba tuần," cô nói, "tôi ở đâu cũng chẳng ở lâu, sắp sửa phải đi rồi."
"Sao thế?"
"Không ở yên được." Cô đáp.
Đột nhiên, cô đưa tay lên áp vào má tôi, động tác dịu dàng vô cùng.
"Mặt anh ưa nhìn lắm. Tôi thích." Cô bảo tôi.
Kỳ lạ thật. Giọng cô khiến tôi thấy vừa ngọt ngào vừa ngây ngô, tâm trạng tôi hoàn toàn khác với nỗi phấn khích trên chuyến xe buýt khi nãy. Tôi thầm nghĩ, đúng rồi, có lẽ đúng là thế, rốt cuộc tôi đã tìm thấy người con gái mình hằng mong mỏi. Không phải cuộc tình một đêm, mà là gắn bó dài lâu.
"Em có bạn trai chưa?" Tôi hỏi.
"Chưa." Cô đáp.
"Chưa từng yêu ai bao giờ à?"
"Chưa bao giờ."
Cuộc trò chuyện này giữa nghĩa địa nghe nực cười làm sao, lại thêm việc cô nằm đó, phẳng lặng như hình người tạc trên những tấm bia mộ cổ.
"Anh cũng chưa từng có bạn gái," tôi nói, "chưa bao giờ nghĩ tới, chẳng giống người ta. Chắc họ coi chuyện đó là cái mốt. Anh rất yêu công việc của mình. Anh làm thợ ở xưởng sửa xe, em biết đấy, sửa bất cứ cỗ máy nào chạy được trên đường. Lương lậu khá lắm. Ngoài gửi tiền về cho mẹ già, anh cũng tự dành dụm được một món. Anh thuê phòng ở nhà người ta, vợ chồng Thompson chủ nhà tốt bụng lắm. Ông chủ xưởng cũng rất tử tế. Anh chưa bao giờ thấy cô đơn, cả bây giờ cũng thế. Nhưng từ lúc nhìn thấy em, anh bắt đầu nghĩ ngợi. Em biết đấy, mọi thứ đã khác rồi."
Cô không ngắt lời tôi. Chẳng hiểu sao, bao nhiêu suy nghĩ trong lòng tôi cứ thế tuôn trào.
"Về nhà vợ chồng Thompson lúc nào cũng vui," tôi bảo, "không thể mong gặp được ai tốt bụng hơn họ đâu. Chỗ ở cũng rất tuyệt. Cơm tối xong chúng tôi ngồi tán gẫu một lát, nghe đài phát thanh. Nhưng em biết không, giờ anh muốn những thứ khác rồi. Anh muốn đến đón em sau mỗi suất chiếu, em sẽ đứng bên rèm nhìn dòng người ùa ra, nháy mắt với anh ra hiệu em đi thay đồ, bảo anh đứng đợi. Rồi em sẽ bước ra phố như tối nay, nhưng em sẽ không đi một mình nữa mà khoác lấy tay anh. Nếu em không muốn mặc áo khoác hay xách túi, anh sẽ cầm giúp em. Sau đó chúng mình sẽ đi ăn tối ở nhà hàng hay chỗ nào đó. Mình sẽ đặt bàn trước, nhân viên phục vụ quen mặt cả hai đứa, sẽ để dành món đặc biệt cho chúng mình."
Bức tranh ấy hiện lên rành rọt trong tâm trí tôi: trên bàn đặt tấm biển "Đã đặt trước", cô phục vụ gật đầu chào hai đứa, bảo tối nay có món trứng cà ri. Rồi chúng tôi đi lấy khay ăn, cô gái của tôi giả vờ như không quen tôi, còn tôi thì cười thầm.
"Em hiểu ý anh chứ?" Tôi bảo cô, "Không chỉ đơn thuần là bạn bè."
Tôi không biết cô có nghe thấy không. Cô nằm đó nhìn tôi, những ngón tay vuốt ve tai và cằm tôi một cách dịu dàng kỳ lạ, như thể đang thương hại tôi.
"Anh muốn mua đồ cho em," tôi nói, "như thỉnh thoảng mua hoa tặng em chẳng hạn. Con gái cài đóa hoa trên váy trông vừa tinh tươm vừa tươi tắn, ngắm thích mắt lắm. Rồi vào những dịp đặc biệt, sinh nhật em hay Giáng sinh, anh muốn mua mấy món bày trong tủ kính mà em thích nhưng ngại vào hỏi giá. Có thể là chiếc trâm cài áo, hay cái lắc tay, tóm lại là một món đồ xinh xắn. Anh sẽ lén đi mua lúc em không ở cạnh. Món đồ ấy có thể tốn hơn cả tuần lương của anh, nhưng anh không bận tâm đâu."
Tôi có thể hình dung ra nét mặt cô khi mở hộp quà. Cô sẽ đeo món đồ tôi tặng rồi cùng tôi dạo phố. Vì thế, cô sẽ điểm trang một chút, không lòe loẹt diêm dúa nhưng duyên dáng hút hồn.
"Bây giờ chưa phải lúc tính chuyện cưới xin," tôi nói, "tình hình hiện giờ cái gì cũng chưa đâu vào đâu. Đàn ông thì chẳng bận tâm tương lai bất định ra sao, nhưng với phụ nữ thì khó khăn thật. Suốt ngày phải giam mình trong căn nhà chật chội, rồi đi xếp hàng nhận khẩu phần ăn. Phụ nữ cũng như đàn ông, đều muốn tự do, muốn đi làm chứ chẳng ai thích bị trói buộc. Mấy gã ở quầy cà phê vừa nãy nói năng hàm hồ hết sức, bảo phụ nữ bây giờ khác xưa, đổ hết tội cho chiến tranh. Còn cái trò đối xử với phụ nữ ở Viễn Đông mà tay kia kể, anh cũng từng thấy qua rồi. Chắc gã nói thế cốt để làm trò cười thôi, mấy tay không quân lúc nào cũng tự cao tự đại, nhưng lời gã vừa nói thì ngu xuẩn thật sự."
Cô nhắm mắt, tay buông thõng bên hông. Mặt bia mộ ướt sũng, tôi lo cho cô quá. Dù khoác áo măng-tô, nhưng giày tất của cô mỏng dính, chân cẳng ắt đã ướt đẫm từ lâu.
"Anh chưa từng đi lính không quân chứ?" Cô nói.
Lạ lùng thay, giọng cô bỗng đanh lại. Khác hẳn lúc trước, nghe sắc lẻm, như thể cô đang âu lo, thậm chí là sợ hãi.
"Chưa," tôi bảo, "trước anh ở Quân đoàn Kỹ sư Cơ Điện Hoàng Gia. Lính trong quân đoàn ai cũng giữ đúng kỷ cương, không làm màu, không ba hoa bốc phét, ở cạnh họ không bao giờ sợ lạc lối."
"Tôi mừng lắm," cô nói, "anh là người tốt, lương thiện. Tôi mừng lắm."
Tôi tự hỏi liệu trước đây có tay lính không quân nào từng làm cô tổn thương chăng. Mấy tay không quân tôi từng gặp gã nào cũng buông thả bạt mạng. Tôi nhớ lại nét mặt đăm chiêu của cô lúc nhìn anh lính ở quầy hàng rong, như thể đang hồi tưởng quá khứ. Nhìn bóng dáng cô, tôi tin cô đúng như những gì cô kể: mồ côi cha mẹ từ bé, lớn lên trong trại tế bần, nếm đủ mùi lưu lạc nổi trôi. Nhưng tôi không nỡ nghĩ đến cảnh cô từng bị ai đó vùi dập làm đau.
"Sao thế, bọn họ có gì không tốt à?" Tôi hỏi, "Lính không quân làm gì em rồi sao?"
"Họ phá nát nhà tôi." Cô đáp.
"Đấy là không quân Đức, đâu phải không quân mình."
"Cũng thế cả, đều là lũ giết người, đúng không?" Cô nói.
Tôi cúi nhìn cô gái nằm trên phiến bia mộ. Giọng cô không còn đanh thép như lúc hỏi tôi có từng đi lính không quân hay không, mà chuyển sang mệt mỏi, bi thương, và lạ lùng thay, còn toát lên nỗi cô độc khôn cùng. Tim tôi thắt lại, tôi muốn bất chấp tất cả làm một chuyện điên rồ ngốc nghếch — đưa cô về nhà, về căn nhà của vợ chồng Thompson. Tôi sẽ giãi bày suy nghĩ của mình với bà Thompson. Bà ấy tốt bụng lắm, sẽ chẳng phiền đâu. Tôi sẽ bảo bà: "Đây là cô gái của cháu, xin bác chăm sóc cô ấy." Chỉ có thế tôi mới yên tâm cô được an toàn, mới biết chắc cô không gặp chuyện, không ai có thể làm hại cô. Phải rồi, tôi bỗng nhiên sợ có kẻ sẽ đến hãm hại cô gái của mình.
Tôi cúi xuống, vòng hai tay đỡ cô ngồi dậy, để cô nép sát vào người mình.
"Nghe anh này," tôi bảo, "mưa to lắm rồi, anh đưa em về nhà. Nằm trên phiến đá ướt sũng thế này em sẽ cảm nặng đấy."
"Không," cô vịn vai tôi, nói, "chưa từng có ai đưa tôi về nhà. Giờ anh nên quay về chỗ của anh đi."
"Anh không bỏ em lại đây đâu." Tôi nói.
"Anh phải làm thế, tôi muốn anh làm thế. Nếu anh không chịu, tôi sẽ giận đấy. Anh không muốn tôi giận, đúng không?"
Tôi ngờ vực nhìn cô chăm chú. Dưới ánh đèn mờ ảo, gương mặt cô trông còn nhợt nhạt hơn trước, nhưng đẹp làm sao, lạy Chúa, cô đẹp đến mê hồn. Tôi biết nói câu này ở bãi tha ma có thể phạm đến người chết, nhưng tôi chẳng tìm được cách nói nào khác.
"Em muốn anh làm sao?" Tôi hỏi.
"Tôi muốn anh đi, để tôi lại đây một mình, đừng quay đầu lại," cô nói, "cứ như mộng du mà đi bộ dưới mưa về nhà. Có thể mất mấy tiếng đồng hồ, nhưng không sao, anh còn trẻ lại khỏe mạnh, chân lại dài. Đi đi, về phòng mình, leo lên giường ngủ, rồi sáng hôm sau cứ như mọi ngày, dậy ăn sáng rồi đi làm."
"Còn em thì sao?"
"Kệ tôi, đi đi."
"Tối mai anh tới rạp chiếu phim tìm em được không? Hai đứa mình có thể làm như anh nói... tức là, tìm hiểu nghiêm túc chứ?"
Cô không trả lời, chỉ mỉm cười nhàn nhạt. Cô ngồi lặng yên nhìn mặt tôi, rồi nhắm mắt lại, ngửa đầu lên bảo: "Người lạ, hôn tôi lần nữa đi."
Tôi làm theo lời cô, để cô ở lại đó và không hề ngoái đầu. Tôi trèo qua hàng rào nghĩa địa, bước ra đường. Xung quanh vắng tanh không một bóng người, quầy cà phê cũng đã gài then đóng cửa.
Tôi lần theo con đường xe buýt vừa chạy để đi bộ về. Đó là con đường thẳng tắp dường như bất tận, hai bên san sát cửa hàng, ắt hẳn trước kia từng là phố buôn bán sầm uất. Nơi này nằm ở góc đông bắc Luân Đôn, trước giờ tôi chưa từng đặt chân tới. Rất có thể tôi đã lạc đường, nhưng mặc kệ. Tôi thấy mình như đang mộng du, đúng như lời cô nói.
Bóng hình cô cứ lởn vởn mãi trong tâm trí tôi. Tôi bước đi, trong lòng ngoài mắt chỉ toàn là cô. Trong quân đội người ta hay bảo, đàn ông một khi đã bị con gái hớp hồn thì mắt mờ, tai lãng, chẳng còn biết mình đang làm gì nữa. Hồi trước tôi không tin, cứ ngỡ chỉ bọn say xỉn mới thế, giờ rơi vào cảnh này tôi mới nhận ra lời đồn chẳng sai. Tôi không còn lo xem cô về nhà bằng cách nào nữa. Cô bảo tôi đừng bận tâm, chắc mẩm là vì nhà cô ở rất gần đây, nếu không chẳng ai lại ngồi xe buýt lâu lắc đến tận chỗ này. Sống xa chỗ làm đến vậy làm tôi thấy khá khó hiểu, nhưng có lẽ sau này cô sẽ từ từ tâm sự với tôi. Tôi không định gặng hỏi cô. Có một điều tôi đã quyết: tối mai sẽ tới rạp chiếu phim đón cô tan làm. Tôi đã hạ quyết tâm, không gì lay chuyển nổi. Từ giờ cho tới mười giờ tối mai, với tôi, mọi thứ khác đều chỉ như gió thoảng mây bay.
Tôi lầm lũi đi tiếp trong mưa. Đúng lúc đó có một chiếc xe tải chạy tới, tôi xin đi nhờ một đoạn khá dài, mãi đến khi tài xế phải rẽ trái sang hướng khác tôi mới xuống xe cuốc bộ tiếp. Lúc về đến nhà, chắc chắn đã gần ba giờ sáng.
Đổi lại là ngày thường, phải đánh thức ông Thompson dậy mở cửa cho mình, chắc chắn tôi sẽ áy náy lắm, mà trước nay cũng chưa từng xảy ra chuyện như vậy. Nhưng lúc này, men tình với cô gái làm lòng tôi ngập tràn hân hoan, thành ra chẳng bận tâm gì nữa. Tôi bấm chuông mấy lần ông ấy mới nghe thấy, lục đục xuống mở cửa cho tôi. Xuất hiện sau cánh cửa, mắt ông còn ngái ngủ, bộ đồ ngủ nhăn nhúm vì vừa bật dậy khỏi giường. Tội nghiệp ông bạn già.
"Có chuyện gì thế?" Ông hỏi, "Tôi với bà nhà lo mãi, sợ cậu bị xe đụng. Về thấy nhà trống trơn, bữa tối cậu cũng chẳng đụng một miếng."
"Cháu đi xem phim," tôi bảo.
"Xem phim?" Ông đứng ở hành lang ngước lên nhìn chằm chằm vào tôi, "Rạp phim mười giờ đóng cửa rồi cơ mà."
"Cháu biết," tôi đáp, "xong rồi cháu đi dạo. Cháu xin lỗi. Chúc bác ngủ ngon."
Rồi tôi bước lên cầu thang về phòng, mặc kệ ông tự lầm bầm cài then cửa. Tôi nghe tiếng bà Thompson vọng ra từ phòng ngủ: "Sao thế ông? Cậu ấy đấy à? Cậu ấy về rồi hả?"
Làm hai người họ lo sốt vó, đáng lẽ tôi phải vào xin lỗi một câu, nhưng giờ tôi chẳng muốn, đằng nào chuyện cũng rồi. Thế là tôi đóng cửa, cởi quần áo ngả lưng xuống giường. Trong bóng tối, dường như cô gái của tôi vẫn đang ở bên cạnh.
Bữa sáng hôm sau, vợ chồng Thompson có phần trầm lặng. Họ không nhìn tôi. Bà Thompson đưa đĩa cá trích hun khói cho tôi mà chẳng nói chẳng rằng, còn ông Thompson thì cứ cắm cúi đọc báo.
Tôi vừa ăn sáng vừa nói: "Tối qua hai bác đi Highgate chắc vui lắm nhỉ?" Môi bà Thompson hơi mím lại, đáp: "Rất vui. Cảm ơn cậu. Chúng tôi về đến nhà lúc mười giờ." Bà khẽ khịt mũi, rót thêm trà cho ông Thompson.
Lại rơi vào im lặng, chẳng ai nói gì. Rồi bà Thompson hỏi: "Tối nay cậu có về ăn cơm không?" Tôi đáp: "Dạ không, cháu đi gặp một người bạn." Dứt lời, tôi thấy ánh mắt ông Thompson nhìn qua gọng kính nhắm thẳng vào mình.
"Nếu cậu về muộn," ông nói, "tốt nhất chúng tôi đưa cậu một chìa khóa."
Nói xong, ông lại cắm cúi đọc báo. Rõ ràng là họ thấy tổn thương vì tôi chẳng chịu kể gì, cũng không nói đã đi đâu.
Ăn sáng xong, tôi đi làm. Hôm ấy xưởng sửa xe bận tối mắt, việc này chưa xong việc khác đã tới. Phải là trước đây thì tôi chẳng bận tâm, tôi thích việc ngập đầu và hay làm thêm giờ, nhưng hôm nay, đầu óc tôi chỉ nghĩ đến chuyện làm sao để xong việc trước khi các cửa hàng đóng cửa.
Bốn rưỡi, ông chủ đến tìm tôi, bảo: "Tôi hứa với ông bác sĩ tối nay đến lấy chiếc Austin rồi, tôi bảo cậu làm xong trước bảy rưỡi tối nay. Không vấn đề gì chứ?"
Tim tôi chùng xuống. Tôi vốn tính hôm nay tan làm sớm để làm việc mình muốn. Đầu tôi xoay nhanh, nghĩ bụng, nếu ông chủ cho phép tôi ra ngoài một lát, tôi có thể kịp đến trước giờ đóng cửa, rồi quay lại sửa chiếc Austin, như thế vẫn kịp giao xe. Thế là tôi nói: "Tăng ca thì được, nhưng giờ cháu muốn ra ngoài một lát, tầm nửa tiếng thôi, cháu muốn đi mua đồ trước lúc cửa hàng đóng cửa."
Ông đồng ý. Tôi cởi áo bảo hộ, rửa sạch dầu mỡ trên người, khoác áo măng-tô rồi đi về phía phố buôn bán dưới chân đồi Haverstock Hill. Tôi đã nhắm sẵn tiệm cần đến. Đó là tiệm kim hoàn trước đây ông Thompson từng đến sửa đồng hồ, ở đó không bán đồ rẻ tiền, toàn hàng cao cấp như khung ảnh bạc nguyên chất và bộ đồ ăn.
Ở đó đương nhiên cũng bán nhẫn, cả vòng tay cao cấp, nhưng tôi không thích kiểu dáng của chúng. Mấy cô gái ở Căng-tin Quân đội toàn đeo loại vòng có mặt treo thế này, chẳng có gì đặc biệt. Tôi tiếp tục tìm trong tủ kính, rồi tôi thấy nó, nằm tít phía sau.
Một chiếc ghim cài áo, rất nhỏ, chẳng to hơn móng tay là bao, nhưng khảm một viên lam ngọc tinh xảo, phía sau có kim gài, hình một trái tim. Chính hình dáng này đã làm tôi xao xuyến. Tôi ngắm nghía một hồi, trên đó không dán giá, nghĩa là có thể rất đắt, nhưng tôi vẫn bước vào, bảo nhân viên lấy ra cho xem kỹ. Người bán hàng lấy nó ra khỏi tủ kính, lau bóng rồi xoay nhiều góc cho tôi xem. Tôi như thấy được nó cài trên chiếc váy liền hay áo len của cô gái của mình đẹp đẽ nhường nào, tôi biết, chính là nó.
"Tôi lấy cái này," tôi nói, rồi hỏi giá.
Nghe giá xong, tôi không khỏi nuốt nước bọt, nhưng vẫn móc ví đếm tiền đưa cho anh ta. Anh ta cẩn thận dùng vải bông bọc lấy "trái tim" này, đặt vào hộp, gói ghém tỉ mỉ rồi thắt một nút nơ thật đẹp. Tôi biết trước khi tan làm tối nay, tôi phải xin ông chủ ứng trước ít lương. Ông ấy là người tốt, chắc chắn sẽ đồng ý.
Tôi đứng trước tiệm kim hoàn, món quà cho cô gái của tôi nằm ngay ngắn trong túi ngực. Đúng lúc ấy, chuông nhà thờ điểm bốn giờ bốn mươi lăm, đã đến lúc đến rạp chiếu bóng xác nhận hẹn hò tối nay với cô ấy, rồi tôi sẽ chạy thục mạng về xưởng để sửa xong chiếc Austin trước khi vị bác sĩ đến lấy xe.
Đến rạp chiếu bóng, tim tôi đập thình thịch như búa gõ, suýt nữa nhảy ra khỏi cuống họng. Tôi không ngừng tưởng tượng ra bộ dạng lúc gặp lại cô ấy. Cô sẽ mặc chiếc áo khoác nhung đó, chiếc mũ đội lệch sau đầu, đứng cạnh tấm rèm.
Bên ngoài người xếp hàng dài, tôi thấy rạp đã đổi lịch chiếu. Tấm áp phích phim viễn tây gã cao bồi cầm dao đâm người Da đỏ đã bị gỡ xuống, thay vào đó là áp phích một vở nhạc kịch, trên đó vẽ rất nhiều cô gái đang khiêu vũ, một nhóm đàn ông cầm ba-toong nghênh ngang rảo bước trước mặt họ.
Tôi bước vào, không lại quầy vé mà nhìn thẳng về phía bức rèm nơi cô ấy thường đứng. Ở đó quả thật có một nữ soát vé, nhưng không phải cô. Cô gái này dáng cao, mặc bộ đồng phục trông ngồ ngộ. Cô ta đang bận bịu lo cả hai việc — vừa phải đưa tay xé cuống vé của khách vào cửa, vừa phải nắm chặt chiếc đèn pin trong tay.
Tôi đợi một lát, nghĩ bụng có khi hai người đổi ca cho nhau, cô gái của tôi đang dẫn khách trên tầng lửng. Chờ tốp người cuối cùng lách qua rèm, cô gái soát vé này mới rảnh tay một chút, tôi liền bước tới: "Xin lỗi, cô có biết tôi có thể tìm cô gái kia ở đâu không?"
Cô ta nhìn tôi: "Cô gái kia nào?"
"Người tối qua ở đây, tóc nâu đỏ ấy." Tôi nói.
Cô ta nhìn tôi kỹ hơn, vẻ mặt đầy nghi ngờ.
"Hôm nay cô ấy không đến," cô ta bảo, "tôi vào thay đây."
"Không đến?"
"Ừ. Buồn cười thật, anh không phải người đầu tiên đến hỏi đâu. Cảnh sát vừa mới đi cách đây không lâu. Họ hỏi chuyện quản lý với bảo vệ, chưa ai nói cho tôi biết có chuyện gì, nhưng tôi đoán chắc có biến rồi."
Tim tôi vẫn đập thình thịch, nhưng không còn là phấn khích nữa, mà là bất an. Giống như nhận được tin có người ngã bệnh, đột ngột bị đưa vào bệnh viện.
"Cảnh sát?" Tôi hỏi. "Sao họ lại đến?"
"Tôi đã bảo rồi, tôi không biết," cô ta đáp, "nhưng có liên quan đến cô ấy. Quản lý đi theo họ về đồn rồi, vẫn chưa về. — Mời đi lối này, tầng hai rẽ trái, tầng một rẽ phải."
Tôi đứng chôn chân tại đó, luống cuống không biết làm sao, cảm giác như rơi thẳng xuống vực sâu.
Cô gái cao kều xé cuống vé, quay sang bảo tôi: "Cô ấy là bạn anh à?"
"Coi như là thế." Tôi không biết phải nói gì.
"Thôi được, nói thật nhé, cô ta kỳ quặc lắm. Nếu cô ta tự tử rồi cảnh sát tìm thấy xác, tôi cũng chẳng ngạc nhiên đâu. — Không có đâu, kem phải đợi đến giờ giải lao mới bán, sau khi chiếu xong bản tin thời sự."
Tôi bước ra ngoài, đứng giữa phố. Hàng người xếp hàng mua vé hạng bét ngày một dài, trong hàng có cả trẻ con, chúng ríu rít trò chuyện đầy hào hứng. Tôi len qua đám đông đi về hướng bắc. Lòng tôi trĩu nặng, một cảm giác kỳ quặc ập tới. Cô gái của tôi gặp chuyện rồi. Giờ thì tôi đã hiểu. Thảo nào tối qua cô ấy cứ muốn rũ bỏ tôi, không cho tôi đưa về. Cô ấy định tự tử ở nghĩa trang, thế nên lời lẽ mới kỳ lạ như vậy, sắc mặt mới tái nhợt đến thế. Giờ người ta đã tìm thấy thi thể cô, nằm ngay trên bia mộ cạnh hàng rào.
Nếu tôi không rời bỏ cô ấy, cô ấy đã bình an vô sự. Nếu tôi ở lại thêm năm phút, khuyên nhủ tử tế, cô ấy sẽ nghe theo tôi, để tôi đưa về nhà, sẽ không làm điều dại dột, và giờ này cô ấy đã đang soát vé dẫn khách vào rạp rồi.
Có lẽ tình hình không tệ đến mức như tôi lo sợ, có lẽ cảnh sát chỉ thấy cô ấy đi lang thang không mục đích ngoài đường. Cô ấy mất trí nhớ, nên họ mới đưa về đồn. Họ tra ra nơi cô ấy làm việc, thế nên mới tới rạp tìm quản lý để xác nhận. Nếu tôi đến đồn cảnh sát hỏi, biết đâu họ sẽ nói cho tôi biết chuyện gì đã xảy ra. Tôi có thể nói với họ cô ấy là bạn gái tôi, chúng tôi đang hẹn hò. Dù cô ấy không nhận ra tôi cũng chẳng sao, tôi sẽ khăng khăng nhận như vậy. Nhưng tôi không thể làm ông chủ thất vọng, tôi phải quay về sửa xong chiếc Austin trước đã, sửa xong là tôi sẽ đi đồn cảnh sát ngay.
Tôi thất thần trở lại xưởng sửa xe, chẳng biết mình đang làm gì nữa. Lần đầu tiên trong đời, mùi dầu mỡ ở đây làm tôi buồn nôn, lại thêm một gã trước khi lùi xe cứ rú ga ầm ĩ, một luồng khói đen ngòm phụt ra từ ống xả, ám khói mịt mù cả xưởng.
Tôi mặc áo bảo hộ, cầm đồ nghề bắt đầu sửa chiếc Austin. Suốt cả buổi lòng tôi chỉ hướng về cô gái của mình. Rốt cuộc cô ấy đã xảy ra chuyện gì? Đang bơ vơ lạc lõng trong đồn cảnh sát, hay đang nằm ở xó xỉnh nào đó... chết rồi? Cứ như đêm qua, khuôn mặt cô cứ chập chờn trước mắt tôi.
Tôi mất một tiếng rưỡi để sửa xong xe, còn đổ đầy bình xăng, quay đầu xe ra ngoài cho chủ xe dễ lái đi. Nhưng tôi đã mệt phờ, mồ hôi đầm đìa. Tôi rửa ráy qua loa, lúc mặc áo măng-tô thì cảm nhận được sức nặng của chiếc hộp trong túi ngực. Tôi lấy nó ra, gói quà thắt dải ruy-băng tinh tế trông thật gọn gàng, đẹp đẽ. Tôi cất nó lại vào túi, đứng quay lưng về phía cửa nên không nhận ra ông chủ đã vào từ lúc nào.
"Cậu mua được món đồ mình muốn chưa?" Ông cười sảng khoái hỏi.
Ông ấy là người tốt, chẳng bao giờ cáu gắt. Chúng tôi sống với nhau rất hòa thuận.
"Cháu mua được rồi ạ," tôi đáp.
Nhưng tôi không muốn bàn chuyện này, chỉ nói đã sửa xong chiếc Austin. Tôi theo ông vào văn phòng, ông cần ghi lại khối lượng công việc và số giờ tăng ca của tôi vào sổ. Cạnh tờ báo chiều trên bàn làm việc có một bao thuốc lá, ông rút một điếu đưa cho tôi.
"Tôi thấy con Nữ Thần May Mắn thắng chặng ba rưỡi chiều nay rồi," ông nói, "tuần này kiếm được mấy bảng."
Ông ghi giờ làm việc của tôi vào sổ kế toán để bảo đảm bảng lương không bị sai sót.
"Thế thì tốt quá rồi!" Tôi nói.
"Tôi chỉ cược nó vào top ba, ngu thật," ông bảo, "tỉ lệ ăn những một ăn hai mươi lăm. Cơ mà đua ngựa là thế, có thắng có thua."
Tôi không trả lời. Tôi vốn không ham rượu, nhưng lúc này tôi thèm một ly vô cùng. Tôi lấy khăn tay lau trán, mong ông làm cho nhanh rồi chúc tôi ngủ ngon, cho tôi về.
"Lại một thằng khốn khổ nữa dính chưởng," ông nói, "đây là vụ thứ ba trong ba tuần nay rồi. Y như hai thằng trước, thọc thẳng vào bụng. Chết ở bệnh viện hồi sáng. Không quân Hoàng gia dạo này như bị dớp ấy."
"Sao thế ạ, tai nạn máy bay à bác?" Tôi hỏi.
"Tai nạn máy bay?" Ông bảo. "Không, mẹ kiếp, giết người đấy. Banh da xẻ thịt, tội nghiệp thật! Cậu không đọc báo à? Ba tuần nay đây là vụ thứ ba rồi, cùng một thủ đoạn. Toàn lính không quân, lần nào cũng tìm thấy xác gần bãi tha ma hay nghĩa trang. Ban nãy tôi mới bảo với cậu bạn sang đổ xăng đấy, đâu phải chỉ có đàn ông mới biến thái thành cuồng dâm, đàn bà cũng thế thôi. Cứ chờ xem, vụ này rồi sẽ sáng tỏ. Báo viết cảnh sát đã nắm được thông tin về ả ta rồi, sắp bắt đến nơi. Bắt quách đi cho xong, đỡ cho thằng xấu số nào dính đòn nữa."
Ông khép cuốn sổ lại, gài bút chì lên vành tai.
"Làm một ly không?" Ông hỏi. "Trong tủ có chai Gin đấy."
"Thôi ạ," tôi nói, "thôi, cảm ơn bác nhiều. Cháu... cháu có hẹn rồi."
"Được rồi," ông cười, "đi chơi vui nhé."
Tôi ra phố, mua một tờ báo chiều. Tin trang nhất chính là vụ giết người ông chủ vừa kể. Báo đưa tin thời điểm xảy ra án mạng vào khoảng hai giờ sáng, tại góc đông bắc Luân Đôn, nạn nhân là một lính không quân trẻ. Sau khi bị tấn công, anh ta đã bò tới bốt điện thoại để báo cảnh sát, lúc cảnh sát đến hiện trường thì phát hiện anh ta gục chết trong bốt điện thoại.
Trước khi trút hơi thở cuối cùng, anh ta kể lại đầu đuôi sự việc với cảnh sát trên xe cứu thương. Anh ta nói có một cô gái gọi giật anh ta lại, tưởng là vớ được mối tình một đêm, anh ta liền đi theo cô ta. Trước đó vào tối cùng ngày, anh ta từng thấy cô gái này ngồi uống cà phê với một người đàn ông tại một quầy hàng. Anh ta cứ ngỡ cô ả chấm mình nên mới cắt đuôi gã kia. Tiếp đó, ả rút dao đâm thẳng vào bụng anh ta.
Tờ báo còn cho biết nạn nhân đã miêu tả chi tiết nhân dạng của thủ phạm với cảnh sát. Phía cảnh sát thông báo hy vọng người đàn ông đi cùng cô gái trong đêm xảy ra vụ án có thể tới đồn hỗ trợ nhận diện.
Tôi không muốn đọc tờ báo đó nữa nên vứt đi. Tôi lang thang ngoài phố cho tới khi toàn thân mệt rã rời, đoán chừng vợ chồng Thompson đã ngủ say mới lần mò về nhà. Tôi thò tay vào hòm thư mò chiếc chìa khóa họ treo bên trong, mở cửa lên gác về phòng mình.
Bà Thompson đã dọn giường sẵn cho tôi, còn chu đáo để lại một bình giữ nhiệt đựng trà nóng, cùng một tờ báo chiều mới nhất.
Họ bắt được cô ấy rồi. Vào khoảng ba giờ chiều nay. Tôi không đọc nội dung bài báo, ngay cả tiêu đề cũng không buồn nhìn. Tôi cầm tờ báo ngồi trên giường, trên trang nhất là cô gái của tôi, đang nhìn thẳng vào mắt tôi.
Tôi lấy chiếc hộp trong túi áo măng-tô ra mở, vứt lớp giấy bọc và chiếc nút thắt xinh xắn đi, ngồi trên giường, cúi đầu nhìn "trái tim" nhỏ bé nằm gọn trong tay mình.
