Chương 132
Chương 132: Danh sách
Đăng ngày 30/09/2026
19
Trong đó dĩ nhiên tồn tại những tệ đoan.
Chẳng hạn, quan binh vệ sở một khi đã vào quân tịch thì đời đời phải đi lính.
Ở một mức độ nhất định, chính sách ấy cũng là một trong những ngòi nổ dẫn đến việc quân vệ bại hoại khi Đại Minh bước vào thời kỳ thái bình sau này. Thế nhưng hậu nhân nhìn tiền nhân thì không thể đứng trên góc nhìn toàn tri mà phán xét. Chế độ này tuy chẳng hoàn mỹ, nhưng lại thích hợp nhất với chính quyền Đại Minh non trẻ hiện thời.
Hơn nữa tự cổ chí kim, bất kỳ quốc gia nào muốn lớn mạnh, muốn xưng bá, đều phải sở hữu lượng lớn quân nhân chuyên nghiệp. Những người này chẳng làm việc gì khác, chỉ thạo một ngón nghề duy nhất, đó là đánh trận.
Một triệu tám mươi vạn chiến binh tinh nhuệ, kéo ra ngoài có thể đánh Thổ Phồn, có thể tiến vào Tây Vực, có thể viễn chinh tái ngoại. Đó là quốc lực hùng hậu biết bao, là hùng binh kình lữ mạnh mẽ dường nào!
Thế nhưng sau cơn kích động, Chu Doãn Thông lại nghiến răng nghiến lợi vì căm hận. Tổ tông để lại một ván bài tốt dường này, lại để cho con cháu đời sau đánh đến nát bét.
Cuối thời Minh, kẻ đi lính đừng nói đến chuyện nhận lương bổng hàng tháng, ngay cả cơm cũng chẳng được ăn no. Cục diện ấy dĩ nhiên có nguyên nhân từ việc quốc lực suy thoái, nhưng quan trọng hơn cả là Ngũ Quân Đô Đốc Phủ nắm giữ đại quyền binh mã cùng vệ sở trong thiên hạ đã bị tập đoàn văn quan lật đổ.
Vệ sở biến thành quan điền, chui tọt vào túi đám văn quan. Lương bổng triều đình cấp cho tướng sĩ biên ải, từ trung ương bắt đầu bóc lột từng tầng từng lớp, đến được địa phương còn sót lại ba vạn lượng đã là thắp hương đội ơn trời Phật, vậy mà bọn chúng còn mỹ miều gọi đó là trôi dạt tiêu hao.
Thật đúng là chuyện nực cười nhất thiên hạ!
Chu Doãn Thông vừa âm thầm nghiến răng, vừa tiếp tục đọc xuống.
"Đặt Ngũ Quân Đô Đốc Phủ, tiết chế các quân trong ngoài, nội ngoại kinh thành thiết lập hai trường bắn lớn nhỏ, chia phiên huấn luyện binh sĩ bốn mươi tám vệ."
"Hàng năm lại điều động binh mã các đô ty Trung Đô, Sơn Đông, Hà Nam vào kinh thao luyện. Giao cho huân thần túc tướng thống lĩnh, luân phiên tác chiến nơi biên ải."
"Binh mã kinh doanh, trọng giáp thiết kỵ cùng Thần Cơ Doanh là thân quân của hoàng đế."
"Thần Cơ Doanh tập luyện hỏa khí, trong đó có ba nghìn sáu trăm khẩu hỏa súng, một trăm tám mươi hai cỗ hỏa pháo, hai trăm ba mươi hai cỗ tử mẫu pháo và trản khẩu pháo."
"Dưới quyền Ngũ Quân Đô Đốc Phủ có ngạch công tượng gồm hai mươi ba vạn hai nghìn không trăm tám mươi chín người, chia thành hai mươi hai ngạch như bạc, sắt, đúc thép, đinh khớp, thiếc, xâu giáp. Trong đó, bên trong lập hai cục Hỏa Dược và Thần Tiễn, do Trung Quân Đô Đốc trực tiếp quản lý."
"Công tượng thuộc Binh Trượng Cục, Quân Khí Cục của nội phủ và Khoái Gia Xưởng. Quân vệ các nơi có hai vạn sáu nghìn hộ công tượng, mỗi tháng công tượng làm việc mười ngày, do quan phủ cấp lương tháng!"
"Quân phục do Chức Nhiễm Cục của nội đình, Thần Bạch Phòng, Chế Tạo Cục Hậu Hồ (hồ Huyền Vũ, Nam Kinh) sản xuất. Các hành tỉnh Tứ Xuyên, Thiểm Tây cùng vùng Thiệu Hưng thuộc Chiết Giang dệt may."
Càng xem về sau càng thêm tường tận, dưới sự phối hợp giữa vệ sở và các bộ đội thuần dã chiến, số lượng lớn các đơn vị thiết kế sản xuất cùng đội ngũ công tượng đông đảo đều nhằm đảm bảo sức chiến đấu cho quân đội.
"Nội khố có ba nghìn bảy trăm bốn mươi ba vạn cân sắt."
"Thiên hạ đặt các sở chế sắt tại Tiến Hiền, Tân Dụ, Phân Nghi thuộc Giang Tây; Hưng Quốc, Hoàng Mai thuộc Hồ Quảng; Lai Vu thuộc Sơn Đông; Dương Sơn thuộc Quảng Đông... cả thảy mười ba nơi."
"Mỗi năm chuyển vận hơn một nghìn tám trăm bốn mươi vạn cân sắt!"
"Nội khố có ba mươi hai vạn ba nghìn cân chì."
Đột nhiên, xen lẫn giữa những hàng chữ tiểu khải ấy, Chu Doãn Thông nhìn thấy lời phê bằng bút đỏ của Chu Nguyên Chương:
"Mở mỏ nhọc dân hao của, đục núi gian nan, mỗi năm riêng một dải Sơn Đông đã bắt phu hơn hai nghìn sáu trăm sáu mươi hộ, ấy là tàn hại bách tính!"
"Mở mỏ chỉ lợi quan mà chẳng lợi dân, nếu quân nhu không thiếu thì việc khai thác thêm chính là nhiễu dân, tuyệt đối không thể làm!"
Đọc đến đây, Chu Doãn Thông không khỏi bật cười.
Lão gia tử quả đúng là người đầy thực tính, trước sau vẫn luôn đứng về phía bách tính mà nhìn nhận vấn đề.
Khai khoáng ở thời đại này kỳ thực có độ nguy hiểm cực cao, căn bản là lấy mạng người ra lấp vào.
"Kho kinh doanh có hơn năm mươi tư vạn sấp vải bông, mười một vạn cân bông!"
"Vệ sở Trung Đô có hai mươi bảy vạn tám nghìn sấp vải bông, năm vạn sáu nghìn cân bông!"
"Sĩ tốt vệ sở Liêu Đông có mười vạn hai nghìn một trăm tám mươi hai người, có bốn mươi ba vạn sấp vải bông, ba mươi sáu vạn bảy nghìn cân bông."
"Hử?" Nhìn tới đây, mắt Chu Doãn Thông hơi co lại.
"Gia tài của Tứ thúc cũng không ít đấy chứ, riêng vải bông đã hơn bốn mươi vạn sấp?"
Vải bông còn quý giá hơn cả vàng ròng bạc trắng, vùng đất nơi lão gia tử khởi nghiệp chính là nơi giỏi dệt vải bông nhất Trung Quốc. Mà bông vải và vải bông lúc này chính là mạch máu của nền kinh tế Đại Minh, cũng là ưu thế kỹ thuật lớn nhất đối với các phiên quốc lân cận.
Vải bông xưa nay cũng là vật phẩm thiết yếu được vùng Giang Nam dùng để thay thế bạc trắng khi nộp thuế.
Cơm áo gạo tiền, cái mặc luôn xếp hàng đầu. Năm Hồng Vũ thứ hai mươi ba, Lam Ngọc xuất chinh tái ngoại, khi đại quân mười chín vạn đại thắng khải hoàn trở về, được ban thưởng hơn ba mươi vạn sấp vải bông, khiến gần hai mươi vạn đại quân đồng thanh hô vang vạn tuế, ở tận nơi thâm cung cũng có thể nghe thấy tiếng reo hò rúng động ngoài kia.
Vải chính là tiền.
Một sấp vải đủ cho gia đình một quân nhân chuyên nghiệp chi tiêu ăn uống trong suốt một năm.
Tạm gác những chuyện đó sang bên, Chu Doãn Thông tiếp tục đọc xuống.
"Minh tế thu chi quân phí!"
"Thuế muối Lưỡng Giang, Lưỡng Hoài quy đổi mỗi năm hơn một nghìn hai trăm vạn lượng, phân phát cho cửu biên, kinh doanh, cùng các nơi công tượng, mỏ quặng thuộc Ngũ Quân Đô Đốc Phủ."
"Tổng cộng thuế lương thiên hạ là hơn hai nghìn chín trăm bốn mươi ba vạn thạch. Chiết Giang hơn hai trăm bảy mươi lăm vạn hai nghìn thạch, Tô Châu hơn hai trăm tám mươi vạn chín nghìn thạch."
"Tô Châu nhiều đến thế sao?"
Chu Doãn Thông thoáng kinh ngạc, thuế lương của riêng một địa hạt Tô Châu lại vượt qua cả toàn bộ hành tỉnh Chiết Giang trù phú nhất.
Thế nhưng ngẫm lại, hắn liền vỡ lẽ.
Lão gia tử vốn chẳng mấy ưa người Giang Chiết, nhất là dân Tô Châu.
Một trong những nguyên nhân là năm xưa đám người này từng ủng hộ Trương Sĩ Thành, đặc biệt là bách tính Tô Châu, sau khi Trương Sĩ Thành chết còn lập từ đường thờ phụng, dân gian lén lút tôn xưng là Trương Vương.
Bởi vậy từ khi lập quốc Hồng Vũ đến nay, lão gia tử năm nào cũng ban bố đức chính miễn trừ hai kỳ thuế cho thiên hạ, duy chỉ có tô thuế của Tô Châu cùng những căn cứ cũ của Trương Sĩ Thành là chưa từng giảm bớt, ngược lại cứ không ngừng tăng thêm.
Thế nhưng nguyên nhân chủ yếu hơn là vùng này quá đỗi giàu có.
Tiền của họ vẫn bắt nguồn từ bông và vải bông. Vùng đất Giang Chiết gồm các nơi như Tô Châu, Tùng Giang, Hàng Châu, Gia Hưng, Hồ Châu là trung tâm sản xuất vải bông của cả thiên hạ. Nói không ngoa, tổng sản lượng vải bông làm ra ở nơi này vượt qua bất kỳ quốc gia nào trên thế giới ở cùng thời đại.
Hơn nữa những khu vực này không còn theo phương thức nam cày nữ dệt truyền thống, mà do thương nhân đứng ra mở xưởng dệt, thuê mướn thợ dệt, thậm chí nhiều phụ nữ cũng bước chân ra ngoài làm công.
Xưởng nhỏ có vài chục người, xưởng lớn lên đến hàng nghìn người, mỗi ngày từ sáng sớm đã bắt đầu làm việc đến tận nửa đêm. Qua nửa đêm, ca thợ thứ hai lại tiếp tục vào guồng, người nghỉ nhưng khung dệt không nghỉ, suốt đêm dệt vải.
Tô thuế ở những nơi này đều quy đổi thành vải bông, đủ thấy họ giàu có đến mức độ nào.
Lão gia tử trời sinh vốn chẳng có thiện cảm với những kẻ quá lắm tiền nhiều của, đó là sự thật.
Không chỉ tăng thuế đối với các khu vực này, ông còn hạ lệnh cấm người giàu ở đây ra thi cử làm quan.
Thoạt nghe qua, tựa hồ như một thứ bạo chính. Thế nhưng liên hệ với nguyên nhân diệt vong của triều Minh, Chu Doãn Thông cũng có thể cảm nhận được đôi phần nỗi khổ tâm của lão gia tử.
Tài phiệt đất Giang Chiết dẫu trong nhà không có con em làm quan thì bằng vào tài lực khổng lồ vẫn có thể mua chuộc được những kẻ lên tiếng ủng hộ họ nơi triều đình. Nếu để con em họ làm quan nữa, chẳng phải quốc sách sẽ càng nghiêng hẳn về phía những vùng đất giàu có này hay sao?
Ngoài việc tăng thuế, thực ra cũng có đức chính, lão gia tử định ra chính sách không thu thuế thương nghiệp, khiến đám người này ngày càng thêm giàu có.
Đợi đến khi lão gia tử qua đời, mệnh lệnh cấm con em nhà giàu làm quan liền biến thành một tờ giấy lộn.
Cần biết rằng con nhà nghèo và con nhà giàu chẳng thể nào đứng chung một vạch xuất phát, nền giáo dục thụ nhận cũng hoàn toàn khác biệt.
Sau thời Hồng Vũ, tài phiệt vùng Giang Chiết vì muốn con em được làm quan đã điên cuồng dựng trường học, mời khắp các bậc đại nho danh sư trong thiên hạ về giảng dạy.
Thậm chí phú thương của cả một vùng còn gom tiền lại, chọn lựa riêng những con em học giỏi trong quê hương cho ăn học miễn phí, cốt sao để họ đỗ đạt công danh.
Kẻ sĩ có công danh thì có thể làm quan, người làm quan thì được miễn thuế và hưởng đặc quyền. Còn những kẻ học giỏi hơn, đỗ đạt tiến sĩ cập đệ, bước chân được vào trung ương thì càng trở thành chiếc ô che chở cho sự câu kết giữa quan và thương tại địa phương.
Những kẻ này, ở hậu thế có một cái tên lừng lẫy: Đông Lâm đảng.
Đông Lâm đảng chính là đầu sỏ khiến tài chính Đại Minh cạn kiệt, đảng tranh liên miên lâm vào bế tắc.
Thời Nam Tống, quan thuế trà của thiên hạ mỗi năm lên tới hai trăm vạn lượng, vậy mà đến triều Minh, mỗi năm chỉ thu được vỏn vẹn gần hai mươi vạn lượng, chưa đầy một phần mười. Những loại quan thuế khác cũng chẳng thể nào thu nổi.
Thế nhưng phải biết rằng, thời Đại Minh là thời kỳ mà bạc trắng trên toàn thế giới cuồn cuộn đổ vào Trung Quốc như điên cuồng. Dù triều Minh không coi trọng mậu dịch trên biển, lại thêm việc lão gia tử trời sinh có định kiến coi thường những kẻ không cày cấy, nhưng ngạch giao dịch vẫn vượt xa các triều đại trước.
Bạc trắng của toàn thế giới đều chảy vào Trung Quốc để đổi lấy vải bông, tơ lụa, đồ sứ, trà... nhưng triều đình trung ương lại chẳng thu được thuế, căn nguyên nằm ở đâu?
Chính là Đông Lâm đảng.
Bọn chúng lũng đoạn triều chính, lợi dụng ưu thế xuất thân cùng một dải địa phương để liên kết thành khối. Hễ hoàng đế muốn thu thuế, chúng liền đem tổ chế ra chống đối. Hoàng đế có thể giết một kẻ trong số chúng, nhưng hễ giết một người thì sẽ có trăm kẻ khác nhảy vào thế chỗ.
Năng lực kinh tế khổng lồ được chuyển hóa thành giáo dục, Đông Lâm đảng với tư cách là người phát ngôn cho các đại tài phiệt Giang Chiết đã không ngừng trở thành lực lượng nòng cốt trong tập đoàn quan liêu Đại Minh.
Sau khi làm quan, chúng dùng đặc quyền để đền đáp gia tộc, làm tổn hại đến nguồn thu thuế của quốc gia, để mặc cho tài phiệt địa phương trục lợi từ đó. Thuế thương nghiệp vốn là cột trụ chống đỡ cho thể chế kinh tế đất nước rốt cuộc lại biến thành một tờ giấy lộn.
Tài phiệt giàu có nhưng bách tính vẫn sống cảnh cơ hàn, dân chúng vùng Giang Chiết cũng chìm trong cảnh dầu sôi lửa bỏng, ruộng đất của họ bị kiêm tính sạch trơn, chỉ còn cách đi làm thuê. Thế nhưng đồng công nhận được từ việc làm thuê lại chẳng đủ để nuôi cả gia đình no ấm.
Trung ương không có tiền, ắt phải tăng thuế.
Món thuế từ mối liên kết quan thương không thu được, chỉ đành đè nặng lên đầu đám dân nghèo trong thiên hạ. Ngay cả một nhân vật lẫy lừng như Trương Cư Chính, khi thi hành tân pháp thuế vụ cũng chẳng dám đụng chạm đến lợi ích của tài phiệt Giang Chiết và Đông Lâm đảng, gánh nặng sau cùng vẫn trút hết lên lưng bách tính.
Đến thời Sùng Trinh cuối triều Minh, thuế khóa một năm của quốc gia chỉ vỏn vẹn hơn ba trăm vạn chưa tới bốn trăm vạn lượng, mà quân phí một năm ở vùng Liêu Đông đã chiếm mất hai phần ba. Trong cõi Đại Minh lại còn giặc cỏ Lý Tự Thành, Trương Hiến Trung phải dẹp.
Không có tiền, lấy đâu ra quân đội!
Không có tiền, quân đội đánh trận thế nào!
Lão gia tử xuất thân bần hàn, nhưng lại nhìn thấu chuyện của hơn hai trăm năm sau. Ông có lẽ chẳng am hiểu kinh nghĩa Nho gia, nhưng lại thấu suốt lòng người, hiểu sâu sắc thói tham lam của nhân tính.
Ông hạn chế con em các thế tộc tài phiệt địa phương làm quan, làm quan lớn, cốt để ngăn ngừa mối họa này; nhưng không ngờ rằng, chính thứ ông lo sợ lại khiến cho đế quốc Đại Minh do ông sáng lập phải đi tới diệt vong.
Còn đám Đông Lâm đảng xuất thân Hàn lâm, được các gia tộc tài phiệt nâng đỡ kia, khí phách cốt cách lại chẳng bằng một góc văn nhân đầu thời Minh. Ngoài thành Nam Kinh, đám Đông Lâm đảng quỳ nghênh Đại Thanh nhập thành, tranh nhau cầu quan tước.
Thiên hạ có thể không có hoàng đế, nhưng không thể thiếu quan lại.
Đám Đông Lâm đảng cứ ngỡ bất luận ai làm hoàng đế cũng đều phải dựa vào bọn chúng để cai trị địa phương, dựa vào bọn chúng vơ vét tiền của từ đất Giang Triết trù phú nộp về triều đình, nhưng bọn chúng đã lầm.
Người Mãn Châu nơi đất đai giá lạnh cằn cỗi đâu có dễ nói chuyện như họ Chu nhà Đại Minh, cũng chẳng có tổ chế nào là không thu thuế thương mại.
Từ Thuận Trị đến Ung Chính, ba đời hoàng đế đã vung đao đồ sát đẫm máu xuống đầu tài phiệt Giang Nam. Ngươi muốn đặc quyền? Ngươi muốn trốn thuế? Ngươi muốn giở trò lừa bịp họ Chu năm xưa? Các ngươi muốn lũng đoạn triều chính? Các ngươi muốn nắm quyền định đoạt?
Đi chết đi!
Đất Giang Triết, đầu lâu của các đại tài phiệt, cự tộc quan liêu rơi rụng ngổn ngang; khối ung nhọt Đông Lâm đảng của Đại Minh bị Bát kỳ Mãn Châu giẫm nát không thương tiếc.
Từ đó về sau, bọn chúng ngoan ngoãn nộp thuế, nộp tiền.
Bằng không, từ Thuận Trị đến Càn Long, bốn vị đế vương đầu triều Thanh nhiều lần phát động chiến tranh khai cương thác thổ, tiền ấy lấy từ đâu ra? Về sau thời Gia Khánh, Đạo Quang trấn áp Bạch Liên Giáo, dẹp loạn biên cương, tiền ấy từ đâu mà có?
Đến thời vãn Thanh, bắt đầu từ Chiến tranh Nha phiến, mỗi năm chi tới hàng chục triệu lượng bạc mua sắm vũ khí ngoại quốc, rồi liên tục tổ chức luyện quân, vùng vẫy trong cơn hấp hối suốt mấy mươi năm, số tiền đó từ đâu ra?
Đọc tới đây, dưới ánh đèn dầu, Chu Doãn Thông chau chặt đôi mày.
Hắn nhấc bút, bắt đầu viết lên một tờ giấy trắng.
Lão gia tử tăng thuế lương thực đối với Tô Châu, ấy là bạo chính, không đúng.
Thế nhưng không thu thuế thương mại, lại càng sai lầm.
Đại Minh không thể có giai tầng được miễn thuế, càng không thể có tập đoàn văn quan lũng đoạn triều chính.
Chặn không bằng khơi thông, phải chuyển hóa sức mạnh của tài phiệt địa phương thành sức mạnh của quốc gia.
Đặt bút xuống, kìm nén dòng suy nghĩ trong lòng, Chu Doãn Thông tiếp tục xem tiếp.
"Ngũ Quân Đô Đốc Phủ, gồm năm phủ Trung, Tả, Hữu, Tiền, Hậu, cai quản toàn bộ vệ sở và binh mã trong thiên hạ!"
Đây không đơn thuần là một tập đoàn quân sự, mà là một cơ quan quân vụ thống nhất cả quân lẫn chính, chuyên dùng cho chiến tranh, tương đương với bộ tổng tham mưu tối cao ở đời sau.
"Tả quân Đô đốc Cảnh Bỉnh Văn, Đô đốc Đồng tri An Lục Hầu Ngô Kiệt, Đô đốc Thiêm sự Lưu Chân."
"Hữu quân Đô đốc Bình An, Đô đốc Đồng tri Du Thông Uyên, Đô đốc Thiêm sự kiêm Tứ Xuyên Đô chỉ huy sứ Cù Năng."
"Ồ!" Chu Doãn Thông bật cười thành tiếng, toàn nhân vật ghê gớm.
Nếu nói trong trận Tĩnh Nan, Thiết Huyễn cùng Bình An là những người khiến Chu Đệ phải ngậm bồ hòn làm ngọt, thì phụ tử Cù Năng suýt chút nữa đã lấy mạng Chu Đệ.
Bình An là bộ não của Nam quân, còn Cù Năng là lá gan của Nam quân.
Trận Bạch Hà Câu, ngay trận đầu Cù Năng đã suýt bắt sống Yến Vương Chu Đệ. Tiếp đó, hắn càng thống suất trọng giáp thiết kỵ, đích thân chém thẳng vào trung quân của Chu Đệ, đánh cho đám biên quân Bắc Bình hồn phi phách tán. Trong đó, con trai hắn là Cù Lương Tài khi ấy mới mười bảy tuổi, một mũi tên bắn trúng mũ trụ sắt của Chu Đệ, suýt nữa bắn chết Vĩnh Lạc đại đế.
Đương gia Cù gia hiện nay là ái tướng của Lão gia tử tên Cù Thông, nhưng tuổi tác đã cao, hiện đang an dưỡng ở nhà.
Gia tộc này một môn ba trung liệt, dẫu là kẻ địch như Chu Đệ cũng phải khâm phục khí tiết ấy.
Trận Bạch Hà Câu, Lý Cảnh Long bất tài tháo chạy trước, phụ tử Cù Năng tử chiến trong đám loạn quân. Chính Chu Đệ đã đích thân thu nhặt thi hài, cử hành tang lễ an táng trọng thể.
"Trung quân Đô đốc Từ Huy Tổ, Đô đốc Đồng tri Lý Cảnh Long, Đô đốc Thiêm sự Thường Thăng!"
"Hừ!" Chu Doãn Thông bật cười, cái tên túi rơm Lý Cảnh Long kia lại còn treo cái danh Đô đốc Đồng tri. Còn cữu cữu của hắn, lại là nhân vật thứ ba của Trung quân Đô đốc phủ.
Song từ đây có thể thấy được thuật dùng người của Lão gia tử; ở vị trí võ quan quyền cao chức trọng như Ngũ Quân Đô Đốc Phủ, vừa có con em công thần, vừa có túc tướng trong quân, lại có cả con rể lẫn dưỡng tử của ông. Những người này vừa có thể đồng tâm hiệp lực, lại vừa có thể kiềm chế lẫn nhau.
~~
Chúc mọi người rằm tháng Giêng vui vẻ, miền Nam ăn bánh trôi, miền Bắc ăn nguyên tiêu.
Chương này hơi loãng, nên số chữ nhiều hơn một chút.........
