Chương 437
Chương 437: Tế lăng (Hạ)
Đăng ngày 01/10/2026
19
Hôm sau, trời chưa sáng, Chu Doãn Thông đã trở dậy.
Đêm qua hắn ngủ chẳng hề yên giấc, hoàng thành nguy nga tráng lệ nơi Trung Đô quá đỗi quạnh quẽ hoang lương. Từng tòa cung điện này xây nên để cho người ta ngắm, chứ chẳng phải để ở.
Hôm nay là ngày lành, việc tế bái Hoàng lăng được định vào ngày này.
Chu Doãn Thông rửa mặt chải đầu xong xuôi, điểm tâm cũng chẳng dùng, liền dẫn theo văn võ bá quan Trung Đô hợp thành một đoàn người trùng trùng điệp điệp, xuất phát từ hoàng thành, đi bộ ra ngoài thành để bái tế Hoàng lăng.
Minh Hoàng Lăng, vốn chỉ gọi là Hoàng lăng. Năm Hồng Vũ thứ hai từng định đặt tên là Anh Lăng, nhưng sau không dùng.
Ra khỏi Trung Đô Phượng Dương chừng mười dặm về hướng tây nam, trên một vùng đất mấp mô tựa thế gò đồi, lăng tẩm nguy nga sừng sững đập vào mắt.
Hoàng lăng cũng là một tòa thành, thậm chí còn lộng lẫy xa hoa, nguy nga tráng lệ và tinh xảo hơn cả Tử Cấm Thành nơi kinh sư lẫn hoàng thành tại Trung Đô.
Hoàng tổ huấn thị: "Phàm là con cháu họ Chu, khi tế bái Hoàng lăng không được mặc hoa phục, phải hết sức giản dị để tỏ lòng hiếu kính!"
Chu Doãn Thông vận một bộ áo vải thô màu nhạt, chân xỏ đôi giày cỏ đến cả dây gai cũng không có. Đã đi được mấy dặm đường, kẽ ngón chân đã toác da rớm máu, mỗi bước hạ xuống đều buốt nhói tận tim.
Dùng lời của lão gia tử mà nói, thì đau mới đúng. Chút đau đớn này của con cháu đời sau, so với những cay đắng thống khổ tiền nhân họ Chu từng chịu đựng, thì đáng kể vào đâu?
Có đau mới không quên gốc gác.
Cuối thời nhà Nguyên, thiên hạ lầm than, bách tính không đủ cơm ăn áo mặc, người chết đói phơi xác khắp nơi.
Nhà họ Chu là nông dân chân lấm tay bùn, cực nhọc quanh năm suốt tháng cũng chẳng kiếm nổi một bữa no. Họ sống chỉ mang dáng dấp con người, chứ nào được xem là con người. Thậm chí đám lê dân ấy trong mắt kẻ cầm quyền đến tư cách làm người cũng chẳng có, chỉ là một dãy con số mà thôi.
Từ nhỏ đã nhịn đói chịu rét, dẫu sao vẫn còn một mái nhà.
Năm Chí Chính thứ ba, vùng Hoài Tây trước bị hạn hán, sau gặp nạn châu chấu, rồi ôn dịch bùng phát. Trong nhà không còn hạt thóc qua đêm, đói đến hoa mắt đỏ ngầu, chỉ biết ừng ực nuốt nước lạnh rồi thắt chặt thêm lưng quần.
Đói thì đói, nhưng người vẫn còn!
Nào ngờ đạo trời bất công, chưa đầy nửa tháng mà cha mẹ cùng đại ca của lão gia tử đều chết vì bệnh đói.
Lão gia tử từng kể, năm đó lúc cõng xác mẹ, bà gầy gò nhẹ hơn cả mấy que củi khô.
Năm ấy, lão gia tử tròn mười lăm tuổi.
Người sống cần cơm ăn, người chết cần mồ yên mả đẹp.
Nhưng cả hai điều ấy, nhà họ Chu đều bất lực.
Cậu thiếu niên mười lăm tuổi gầy trơ xương, cùng nhị ca, tẩu tử và đứa cháu nhỏ nhìn quanh bốn bức tường rách nát, nhìn cha mẹ chỉ được đắp manh chiếu rách chứ chẳng có lấy một cỗ quan tài, muốn khóc mà chẳng còn nước mắt.
Có lần sau chén rượu, lão gia tử ngậm ngùi buông lời: "Hồi ấy ta nghĩ, nếu có ai thí cho cha mẹ và đại ca một cỗ ván, dẫu phải đổi mạng này cho người ta, ta cũng chịu!"
Quan tài không có đã đành, đến cả mảnh đất chôn cất cha mẹ, nhà họ Chu cũng chẳng có nốt. Dưới ách bạo chính của quan phủ và thiên tai liên miên, họ chẳng còn chút tài sản nào.
Về sau, lão gia tử cùng nhị ca dập đầu như giã tỏi trước gã địa chủ họ Lưu hàng xóm, mới xin được một khoảnh đất dốc cằn cỗi chẳng mọc nổi cọng lúa để làm nơi an táng.
Ngày hạ huyệt, mưa như trút nước, hai anh em vừa đào vừa phải ngăn nước mưa tràn vào hố. Cơn đói trường kỳ khiến tay chân bủn rủn, nhưng hai huynh đệ liều mạng dùng cuốc xẻng rồi dùng cả hai bàn tay cào bới trong mưa bão, gắng đào lấy một huyệt mộ cho cha mẹ.
Một vệt sấm sét rạch ngang trời, soi rõ gương mặt non nớt của lão gia tử thuở ấy.
Hắn gào khóc thảm thiết, bởi thi hài của cha mẹ cùng đại ca đã ngập trong vũng nước mưa.
Mới mười lăm tuổi, hắn đến cả một nơi khô ráo để an táng cha mẹ huynh trưởng cũng chẳng lo nổi. Hai anh em vừa khóc vừa vùi người thân xuống hố nước, bướng bỉnh cắm lên một cành cây khô, rồi quỳ sụp giữa màn mưa.
Vùi lấp người thân xong xuôi, trời mẹ kiếp lại hửng nắng.
Cậu thiếu niên mười lăm tuổi là lão gia tử, người nhị ca lắm bệnh, người đại tẩu khóc đến mù mắt, cùng đứa cháu nhỏ không ngừng kêu đói. Đó là những người cuối cùng còn sót lại của nhà họ Chu.
Người thím tốt bụng nhà bên cho nửa bát cám, ông cụ nhân hậu trong thôn cho một bát trấu. Cả nhà quây quần bên nhau như ngày Tết đoàn viên, nén nỗi bi thương, nấu lên một nồi cháo cám.
Rồi cả nhà chia nhau ăn thứ mà nhà giàu mang cho heo heo còn chê ấy, đoạn đường ai nấy đi!
Đại tẩu dắt cháu về nhà mẹ đẻ.
Nhị ca chống cành cây, dắt díu đi ăn mày, từ đó một đi không trở lại, đời này chẳng còn gặp nhau.
Lão gia tử mười lăm tuổi số phần may nhất, vào chùa cạo đầu làm hòa thượng.
Những chuyện này Chu Doãn Thông chưa từng trải qua, thậm chí là những ký ức hết sức xa lạ. Thế nhưng khi bước qua cổng chính Hoàng lăng cao hai trượng, dài bảy mươi lăm trượng, muôn vàn hình ảnh bỗng ùa về trong tâm trí hắn, rõ mồn một và thê lương khôn xiết.
Nỗi bi thương ấy khiến khoé mắt hắn bất giác trào lệ.
Hoàng thái tôn rơi lệ, đàn thần tử theo sau lập tức khóc than vang trời dậy đất.
Vượt qua chính môn Hoàng lăng, đặt chân lên thần đạo dằng dặc, phóng tầm mắt ngắm nhìn những công trình lăng tẩm nguy nga tráng lệ, Chu Doãn Thông bỗng hiểu ra vì sao lão gia tử biết rõ xây đắp Hoàng lăng và hoàng thành là hao người tốn của, nhưng vẫn cắn răng dựng nên ngôi mộ lớn nhất, tốt nhất và tráng lệ nhất gầm trời.
Dẫu cho nấm mồ này chỉ để cho thiên hạ ngắm nhìn. Dẫu cho những người nằm trong lòng mộ chưa từng được hưởng lấy một ngày sung sướng!
Chuyện bi thương nhất trên đời, chẳng gì bằng con muốn phụng dưỡng mà cha mẹ chẳng còn. Chẳng gì bằng khi đứa con đã công thành danh toại, mà mẹ cha chưa từng được hưởng lấy một ngày phúc phận.
Dù nay hắn đã tôn quý làm thiên tử, dù là bậc cửu ngũ chí tôn!
Nhưng tận sâu trong đáy lòng, hắn vẫn mãi là đứa con của hai người nông dân nghèo khó. Hắn thà đem tất cả kỳ trân dị bảo trong thiên hạ để đổi lấy giây phút được hầu hạ bên gối mẹ cha.
Hắn coi hết thảy vinh hoa phú quý như mây khói, chỉ mong sao, dẫu chỉ là trong mộng, được tận mắt nhìn thấy cha mẹ người thân ăn trọn một bữa no.
Hắn xây nấm mồ lớn nhất thế gian, chẳng phải để khoe với thiên hạ rằng mình rạng danh hiển hách dường nào!
Mà là để bù đắp nỗi day dứt khôn nguôi trong lòng đối với cha mẹ và các bậc huynh trưởng.
Thần đạo rất dài, bàn chân mang giày cỏ của Chu Doãn Thông đã be bét máu thịt, mỗi bước đi đều in lại vết máu đỏ tươi.
Hai bên đường, những pho tượng người và thú bằng đá cao lớn, sống động như thật. Tựa như những kẻ chứng kiến buổi đại lễ tế bái này, những bậc quý nhân mà trước kia người nhà họ Chu với chẳng tới, nay lại đang lặng lẽ, tận tụy canh giữ địa cung này.
Qua thần đạo, bước lên ngự kiều, hai bên là kim điện minh lâu, tráng lệ trang nghiêm, nguy nga lộng lẫy!
Xưa kia gò mả thứ dân, nay thành lăng tẩm đế vương.
Hoàng lăng chôn cất cụ cố Chu Doãn Thông, cùng ba vị huynh trưởng, một người tẩu tử và hai người cháu của lão gia tử.
Đi tiếp về phía trước, hai bên đông tây dựng hai tấm bia đá khổng lồ, một là bia chữ, hai là bia Hoàng lăng do chính tay lão gia tử ngự bút.
Năm xưa sau khi Lý Thiện Trường xây xong Hoàng lăng, lão gia tử xem xong bài văn bia thì giận dữ lôi đình.
"Toàn là lời phấn son tô vẽ của bọn văn thần, e rằng chẳng đủ để răn dạy con cháu đời sau!"
Thế là, người đích thân hạ bút, vừa rơi lệ vừa viết nên bài văn bia.
Đứng trước bia Hoàng lăng, Chu Doãn Thông ngửa đầu ngước nhìn.
"Bất hiếu tử, nhi hoàng đế Chu Nguyên Chương cẩn thuật!"
"Quỳ!"
Giữa tiếng xướng lễ của quan viên Lễ bộ, Chu Doãn Thông quỳ dưới chân bia, cất cao giọng đọc bài văn của hoàng tổ.
"Tích ngã phụ hoàng, ngụ cư thị phương, nông nghiệp gian tân, triêu tịch bàng hoàng..."
Phía sau Chu Doãn Thông, lão thái giám gù lưng Cẩu Nhân bỗng thẳng đứng người dậy, lớn tiếng hô: "Điện hạ, to tiếng lên!"
"Nga nhĩ thiên tai lưu hành, quyến thuộc ly ương..."
Chu Doãn Thông gần như gào thét, dưới ánh mắt của bầy tôi, hắn rống lên từng câu chữ.
"Điền chủ đức bất ngã cố, hô sất hiên hiên, ký bất dữ địa, lân lý trù trướng. Hốt y huynh chi khảng khái, huệ thử hoàng nhưỡng, bấn vô quan quách, bị thể ác thường, phù yểm tam xích, điện hà hào tương..."
"Ngã hà tác vi, bách vô sở trường, y thân tự nhục, ngưỡng thiên mang mang, ký phi khả ỷ, lữ ảnh tương tương, triêu đột xuy yên nhi cấp tiến, mộ đầu cổ tự dĩ xu thương, ngưỡng cùng nhai thôi nguy nhi ỷ bích, thính viên đề dạ nguyệt nhi thê lương, hồn du du nhi mịch phụ mẫu vô hữu, chí lạc phách nhi ương dương!"
(Sáng sớm, trông thấy nơi nào bốc khói cơm là vội vã chạy đến hóa duyên; chiều tối, thấy ngôi chùa cổ liền vội vã ghé vào nương náu. Có khi ngửa mặt ngắm vách đá chót vót mà tựa lưng vào vách biếc, nghe tiếng vượn hú thê lương dưới bóng trăng khuya. Hồn phách lơ lửng, cha mẹ chẳng còn, thất hồn lạc phách, dạt dẹo bốn phương, gió tây hạc thét, sương tuyết lạnh lùng. Ta như đám cỏ bồng trôi dạt theo cơn gió, trong lòng cồn cào như nước sôi lửa bỏng.)
Càng đọc càng gào thét, Chu Doãn Thông dần hiểu ra. Lão gia tử thuở thiếu thời cũng từng mê muội lầm than, từng hỏi đất trời tiền đồ mình nơi nao, cũng từng ngậm ngùi đau xót, tâm can chết lặng!
Chu Doãn Thông cũng đã hiểu được tâm tư của lão gia tử khi dám bất chấp thiên hạ bàn tán để xây dựng Trung Đô Phượng Dương.
Trung Đô Phượng Dương chẳng phải thứ dựng lên để bày biện, nó cũng như Hoàng lăng vậy, đều được lập nên vì tổ tiên nhà họ Chu.
Rõ ràng người chẳng tin quỷ thần, nhưng vẫn ngẩng cao đầu báo cáo với tiền nhân. Hậu duệ của họ, tên Chu Trọng Bát từng nuốt cỏ cây lót dạ, đói đến cuốc đất chôn thân quyến cũng không nổi sức năm xưa, nay đã nên danh thành toại nhường nào! Đó là lời cáo úy dâng lên cha mẹ người thân, rằng con cháu họ Chu về sau sẽ chẳng bao giờ vì đói khát, vì dịch bệnh mà phải chết nhục nhã nữa.
"Thân chinh Kinh Sở, tướng bình Hồ Tương, Tam Miêu tẫn phục, Quảng Hải nhập cương. Mệnh đại tướng quân, đông bình hồ Ngô Việt, Tề Lỗ diệu hồ tinh tràng, tây hữu hồ Y Lạc Hào Hàm, địa hiểm Hà Hoàng, nhập Hồ đô nhi thị bất dịch, tứ hổ thần lộ phong nhận nhi xán nhược tinh mang."
Cha mẹ, hãy nhìn con trai Chu Trọng Bát của người, rốt cuộc đã thành bậc hào kiệt một thời.
Các huynh trưởng, tẩu tử, hãy nhìn đệ đệ của mọi người, nay đã quân lâm thiên hạ!
"Mang đất... cho điện hạ cõng!"
Giữa tiếng hô của Cẩu Nhân, mấy cung nhân liền đặt chiếc đòn gánh nặng trịch mang hai thúng đất lên đôi vai chưa từng làm việc nặng của Chu Doãn Thông.
"Tế lễ, bắt đầu!"
Chu Doãn Thông quỳ rạp xuống, sống lưng oằn đi dưới sức nặng của đòn gánh, bả vai buốt nhói như kim châm. Hắn cắn chặt răng, từng bước từng bước quỳ bò tiến lên từng bậc đá men theo tường Kim Cương.
"Mệt không!" Cẩu Nhân cất giọng the thé hỏi.
"Không mệt!" Chu Doãn Thông nghiến răng đáp.
"Điện hạ hét to lên!"
"Không mệt!"
Phải, nếu đôi vai này đến chút gánh nặng cỏn con ấy còn không gánh nổi, thì mai sau, lấy gì gánh vác cả giang sơn thiên hạ!
Đầu gối cũng đã rách toạc, máu tươi đầm đìa, nhuộm manh áo tang thành một màu đỏ thẫm.
Cuối cùng, hắn cũng quỳ bò lên tới bảo đỉnh.
Chu Doãn Thông dường như bị rút cạn toàn bộ sức lực, khắp người đau đớn khôn cùng. Nhưng hắn vẫn gắng gượng, rải lớp đất mới lên bảo đỉnh hoàng lăng.
