Chương 8
Chương 8
Đăng ngày 13/10/2026
19
Tây Hán do Hán Cao Tổ Lưu Bang lập nên, định đô ở Trường An; Đông Hán do Hán Quang Vũ Đế Lưu Tú lập nên, định đô ở Lạc Dương. Ở giữa từng có triều Tân ngắn ngủi do Vương Mãng soán Hán tự lập (năm 8 - năm 23 Công nguyên).
Lưu Bang thời Hán tuy xuất thân du thủ du thực, nhưng vương triều Hán do hắn dựng nên quả thực hết sức vĩ đại.
Khác với sự thống nhất ngắn ngủi của nhà Tần, nhà Hán thực sự đã làm được việc nghỉ ngơi dưỡng sức. Học thuyết Hoàng Lão được đề xướng thời Tây Hán cùng văn hóa Nho gia thời Đông Hán đều hết sức chú trọng đến dân sinh. Thời Tần, dân số có thuyết nói hai mươi triệu, cũng có thuyết nói ba mươi triệu, nhưng đến thời Hán đã tăng lên tới sáu mươi triệu người.
Lưỡng Hán là vương triều vĩ đại trên thế giới lúc bấy giờ. Từ thời Hán Cao Tổ đến Hán Văn Cảnh, thực lực kinh tế của nhà Hán tăng vọt, trở thành đệ nhất đế quốc phương Đông, sánh ngang Tây La Mã xưng tụng là hai đại đế quốc. Các nước lớn ở Trung Á và Tây Vực nghe danh đều kiêng dè khiếp sợ. Đến thời Hán Vũ Đế, Hán đế quốc đã trở thành đế quốc hùng mạnh nhất thế giới, Hung Nô thảm bại phải chật vật tháo chạy về phương bắc. Trương Khiên đi sứ Tây Vực, lần đầu tiên khai mở "Con đường tơ lụa" lừng danh, thông suốt tuyến đường mậu dịch đông tây, Trung Hoa từ đó trở thành trung tâm của hệ thống thương mại thế giới, mãi cho tới cuộc phản loạn của người Mông Cổ hơn một nghìn năm sau. Chính vì thanh uy của triều Hán truyền xa, ngoại tộc bắt đầu gọi người Trung Hoa là "Hán nhân", còn người triều Hán cũng vui vẻ tự xưng như thế, chữ "Hán" từ đó trở thành danh xưng vĩnh viễn của dân tộc Hoa Hạ vĩ đại.
"Kẻ phạm cường Hán, dù xa tất giết!" Câu nói ấy không đơn thuần là một khẩu hiệu, mà đã nâng tầm khí phái của cả một dân tộc. Nhà Hán là triều đại đầu tiên chủ động xuất kích, đánh đuổi lũ Hung Nô quen thói quấy nhiễu biên cương chạy dạt như chó hoang mất chủ; Phong lang cư tư chính là một cột mốc sừng sững của triều Hán.
Thời kỳ hưng thịnh của nhà Hán là triều đại thực sự phân định rõ ràng văn võ. Võ tướng chịu trách nhiệm bảo vệ quốc gia đánh đuổi ngoại địch, văn quan phụ trách chính sự cải thiện dân sinh, tuyệt nhiên không có cảnh đời sau võ quan gặp văn quan thấp hơn ba bậc, mở miệng ra là chê bai kẻ võ biền thô bỉ. Toàn bộ thời Hán, từ sĩ tộc bên trên đến thứ dân bên dưới đều tràn đầy huyết tính: kẻ xâm lược tất phải chết!
Thậm chí đến tận cuối thời Đông Hán, những tướng lĩnh trấn thủ biên cương ôm mối thù hễ người Hồ thò tay là không chỉ chặt tay mà còn chém luôn cả đầu vẫn còn rất nhiều. Như Công Tôn Toản trấn thủ biên cương ở U Châu, nếu không bị Viên Thiệu trừ khử, biết đâu cũng sẽ trở thành một Vệ Thanh thứ hai chẳng biết chừng.
Dân chúng áo vải trong bốn trăm năm nhà Hán đã quen với sự thống trị của thiên tử họ Lưu. Phần lớn mọi người dẫu có chịu khổ chịu nạn, trong lòng vẫn ôm giữ ý niệm thiên tử vốn tốt lành, chẳng qua bị đám quan lại dưới quyền che mắt bịt tai mà thôi, chỉ cần thiên tử nhận ra thì mọi chuyện nhất định sẽ tốt đẹp trở lại.
Ngặt nỗi các hoàng đế cuối thời Đông Hán kẻ sau lại biết tìm đường chết hơn kẻ trước, năng lực so với Lưu Tú, Lưu Triệt kém xa vạn dặm, cơ nghiệp dẫu lớn đến đâu cũng chẳng thể chịu nổi lũ con cháu phá gia chi tử giày xéo đời này qua đời khác!
Có thể nói hoàng đế nhà Hán trải qua bốn trăm năm cai trị đã trở thành một tượng đài mang tính thần thánh. Địa vị thống trị chính thống của hoàng thất nhà Hán mãi đến cuối thời Tam Quốc mới thực sự có người thử lật đổ. Tào Phi bày ra trò hề thiện nhượng là vào năm nào nhỉ? Năm 220 hay 221? Mà hiện tại mới là năm 189, tính ra phải trải qua ba mươi năm chiến loạn nữa thì pho tượng thần nhà Hán mới hoàn toàn sụp đổ, còn mối loạn Hoàng Cân lúc này bất quá chỉ là một vết nứt lớn mới hằn lên trước khi tượng thần tan vỡ mà thôi.
Lưu Biện cũng kể như quá đỗi đáng thương, mới làm hoàng đế chẳng được bao lâu đã sắp bị chuốc thuốc độc chết. Còn có Lưu Hiệp, nghe nói Lưu Hiệp cũng rất khá, nếu không phải cục diện quá nát, chưa biết chừng còn là một bậc quân chủ trung hưng...
Phí Tiềm vừa ngồi trên xe bò đi tới Thôi Gia Trang ở Bắc Mãng Sơn, vừa mặc sức nghĩ ngợi viển vông.
Nói đi cũng phải nói lại, năm nay Lưu Biện và Lưu Hiệp được mấy tuổi rồi? Lưu Biện hình như lớn hơn một chút, dẫu sao cũng là trưởng tử, mười lăm mười sáu tuổi chăng? Đại khái thế. Lưu Hiệp dường như nhỏ hơn nhiều, là bảy tuổi hay tám tuổi?
Đặt vào đời sau, một đứa mới học cấp hai, một đứa mới học tiểu học, đều chỉ là lũ nhóc con trắng trẻo non nớt!
*************
Trong khi Phí Tiềm vô lo vô nghĩ ngao du ngoài thành, thì đầu óc Đại tướng quân Hà Tiến như muốn nổ tung.
Cớ sao một việc theo mắt hắn thấy vốn hết sức đơn giản, mà đám thuộc hạ bên dưới lại có thể nói ra lắm điều đến vậy? Ngặt nỗi người nào nói nghe cũng có phần hữu lý, biết chọn thế nào đây?
Hoạn quan vừa đưa tới một phong chiếu thư, nội dung là Hà thái hậu mời Đại tướng quân Hà Tiến tiến cung gặp mặt.
Hà Tiến tuy xuất thân đồ tể, nhưng nay dẫu sao cũng đứng ngôi Đại tướng quân, dưới trướng vẫn có một đám nhân tài tụ hội. Chẳng hạn như chủ bạ Trần Lâm, bộ tướng Ngô Khuông, cùng với ba vị chư hầu lừng lẫy đời sau là Viên Thiệu, Viên Thuật và Tào Tháo.
Hà Tiến tuy đã ngồi lên vị trí Đại tướng quân, nhưng bởi xuất thân hèn kém nên tâm lý khi đối diện với sĩ tộc vô cùng mâu thuẫn. Hắn vừa tỏ ra ngạo khí bức người, nhưng tận đáy lòng lại tự ti cùng cực. Hắn thực chất vô cùng khát khao nhận được sự thừa nhận của sĩ tộc thế gia, cũng ngỡ rằng rốt cuộc mình cũng sẽ trở thành một phần tử của giới thế gia danh môn.
Bởi thế khi những công tử xuất thân siêu thế gia "tứ thế tam công" như Viên Thiệu, Viên Thuật đứng trước mặt làm thuộc hạ cho mình, đêm đó Hà Tiến đã uống rượu suốt một đêm ròng. Vui chứ, một gã đồ tể pha thịt bán thịt như hắn, nay lại khiến môn phiệt thế gia hạng nhất phải cúi đầu nghe lệnh, sao có thể không vui mừng, không phấn khích cho được?
Thế nhưng gốc rễ của hắn rốt cuộc quá nông cạn. Dẫu sau khi bước lên địa vị cao sang, bản thân cũng từng lén lút dốc sức học hành, nhưng không có ai chỉ bảo, lại thiếu mất nghị lực dùi mài khổ luyện, cho nên đến nay cũng chỉ dừng ở mức nửa thùng nước kêu to, học được dăm ba ngón bề nổi. Còn về việc chấp chính lý sự, trù tính mưu lược thì hoàn toàn mù tịt.
Không hiểu rõ đối thủ chính trị, lại chẳng có thủ đoạn sắt đá, tai lại mềm không có chủ kiến, đó chính là nguyên nhân căn bản khiến Hà Tiến lắc lư tròng trành trong việc xử lý hoạn quan, cuối cùng tự chuốc lấy bi kịch.
Hệt như lúc này, Hà Tiến lại thấy phân vân khó quyết. Hắn triệu tập mọi người dưới trướng cùng nhau bàn bạc, nào ngờ càng bàn lại càng đau đầu nhức óc.
Kẻ khiến hắn đau đầu hàng đầu chính là chủ bạ của hắn, Trần Lâm, tự Khổng Chương.
Chủ bạ của Hà Tiến là Trần Lâm, sau này được xưng tụng là một trong "Kiến An Thất Tử", học vấn văn chương thâm sâu, đặc biệt tinh thông thi phú. Năm xưa Hán Linh Đế an bài Trần Lâm làm chủ bạ Đại tướng quân phủ cũng là muốn cho kẻ bất học vô thuật như Hà Tiến ít nhiều nâng cao chút trình độ học vấn. Ngặt nỗi Trần Lâm và Hà Tiến thực sự là nước với lửa, không thể chung đường. Một kẻ là văn nhân, một kẻ là kẻ thô lỗ; một người thích phong hoa tuyết nguyệt, một người chỉ mê mỹ tửu giai nhân, căn bản chẳng có tiếng nói chung. Ban đầu Hà Tiến còn có đôi chút ý muốn cầu tiến học hỏi, nhưng về sau phát hiện việc mở mang học vấn đối với hắn khó khăn như lên trời, bèn bắt đầu giở đủ trò cùn lầy lội.
Trần Lâm từng khuyên can, từng nỗ lực nhưng đều vô hiệu, rốt cuộc đành triệt để buông xuôi. Vốn dĩ đã coi thường tên đồ tể họ Hà này, nay lại càng không ôm chút hy vọng nào vào hắn nữa, chỉ lo làm tròn phận sự trên tay. Hà Tiến có việc hỏi đến thì hắn đáp, cũng chẳng bận tâm Hà Tiến có nghe hay có làm theo hay không, hoàn toàn biến thành một pho tượng gỗ vô hồn, có cầu mới ứng, không cầu thì chỉ chuyên tâm phận sự, ngoài ra chẳng đoái hoài bất cứ việc gì khác.
Như vừa rồi, Hà Tiến hỏi hắn nhìn nhận thế nào về chiếu thư của Hà thái hậu, hắn bèn khẽ lộ vẻ khinh miệt mà nói: "Chiếu này của Thái hậu tất là mưu kế của Thập thường thị, tuyệt đối không thể đi, đi ắt gặp họa." Nói xong cũng chẳng buồn giải thích, ngươi thích nghe thì nghe, không nghe thì xéo — một chuyện đơn giản đến thế mà cũng nhìn không ra, trong đầu óc ngươi chỉ toàn nhét đầy rượu thịt với đàn bà hay sao?
Hà Tiến thực ra cũng vô cùng bực bội. Ta là kẻ thô kệch, mỗi lần nói chuyện với ngươi đều phải cẩn trọng từng li từng tí, mệt mỏi muốn chết. Đây rõ ràng là chiếu thư của Thái hậu, cớ sao lại dính dáng tới Thập thường thị? Ngươi cũng không giải thích lấy một câu? Ta đi có nguy hiểm, là loại nguy hiểm gì, nguy hiểm lớn đến mức nào? Nhìn cái bộ mặt khinh bỉ của ngươi xem, tưởng ta là kẻ thô lỗ thì không nhận ra chắc? Nếu không phải vì thanh danh ngươi quá lớn, lão tử đã sớm sai người lấy roi quất cho ngươi một trận, để ngươi biết hoa vì sao lại đỏ!
Hà Tiến nghĩ tới nghĩ lui vẫn không tỏ tường, đành phải muối mặt hỏi: "Thái hậu triệu ta, có họa sự gì?" Có biết ta không đi tức là kháng chỉ hay không, Hà thái hậu dẫu là muội muội của ta, nhưng cũng chẳng đỡ nổi bao nhiêu cái miệng đang chằm chằm rình rập ngoài kia, đến lúc đó để lộ sơ hở thì chẳng bị người ta mắng cho nát nước mới là lạ!
Tiếc thay Hà Tiến hỏi thì hỏi vậy, nhưng mặt không hướng về phía Trần Lâm, cũng không chỉ đích danh Trần Lâm, cho nên Trần Lâm chỉ cụp nửa mi mắt giả vờ như không nghe thấy, rõ ràng lộ ra cái vẻ: kẻ ngốc còn hỏi câu ngu ngốc làm gì, ngoan ngoãn nghe lời là được, không cần giải thích.
Trong đại sảnh lặng ngắt như tờ.
Đại tướng quân, ngài hỏi câu này là câu hỏi kiểu gì vậy?
Trần chủ bạ không lên tiếng, đám người bên dưới cũng chẳng biết trả lời ra sao.
Vẫn là Viên Thiệu phá vỡ bầu không khí tĩnh mịch, giải vây cho Hà Tiến: "Nay mưu đã rò rỉ, việc đã bại lộ, tướng quân vẫn muốn vào cung sao?" Đại tướng quân Hà Tiến, câu này của ngài hỏi hay lắm! Làm sao bọn ta biết được sẽ có nguy hiểm gì, bọn ta đâu phải đám yêm hoạn kia, làm sao biết được bọn chúng muốn đối phó với ngài bằng cách nào?
Huống chi Đại tướng quân Hà Tiến, trước đó ngài làm cái gì? Chẳng phải đã nhắc ngài về chuyện Đậu Vũ rồi sao, do dự trù trừ không chịu hạ thủ, giờ thì hay rồi, lũ hoạn quan đều biết ngài muốn ra tay đối phó với chúng, mưu kế của chúng ta đã rò rỉ rồi, ngài còn vào cung nạp mạng làm gì? Tóm lại vào cung là có nguy hiểm, còn nguy hiểm đến mức nào thì thứ lỗi, không biết.
Tào Tháo đứng một bên cũng lên tiếng: "Nên triệu Thập thường thị ra trước, sau đó mới có thể vào." Tào Tháo đưa ra một kế rút củi dưới đáy nồi, chẳng phải nói Thập thường thị muốn giở trò quỷ sao, cứ dụ đám người này ra ngoài cung trước, như vậy dẫu trong cung có nguy hiểm gì, không có kẻ cầm đầu thì cũng chẳng tác dụng được gì, đến lúc đó Hà Tiến ngài đi vào ắt không còn hiểm nguy.
Ý kiến này nghe qua thì hay, tiếc là cũng giống như chủ ý lần trước, tính khả thi không cao.
Tào Tháo ngoài việc xuất thân có chút dính dáng tới hoạn quan ra, bản thân hắn cũng thực sự không coi trọng việc Hà Tiến trở mặt quyết đấu với hoạn quan. Ngoại thích cùng hoạn quan tranh đấu vốn là truyền thống ưu tú của nhà Hán, một tên đồ tể họ Hà như ngài thì có bao nhiêu bản lãnh mà đòi triệt để nhổ sạch hoạn quan? Ta tuy không biết nguy hiểm là gì, nhưng ta hiến cho ngài một kế đảm bảo có thể hóa giải nguy hiểm đó, còn có làm được hay không thì lại là chuyện khác.
Hà Tiến nghe xong đề nghị của Tào Tháo thì lửa giận bốc lên đùng đùng. Lần trước ngươi bảo xử lý hoạn quan chỉ cần tìm một ngục lại là xong, ta thật lòng tin theo, kết quả vẫn là Viên Thiệu tốt bụng giải thích cho ta hiểu, nói đó là việc nhìn thì đẹp đẽ nhưng thực tế bất khả thi, ta còn chưa tìm ngươi tính sổ, nay ngươi lại bày cái chủ ý quái quỷ gì cho ta đây?
Nếu ta có thể trực tiếp hạ lệnh sai khiến Thập thường thị đi đông đi tây, thì ta còn phải đối phó với cái thớ Thập thường thị làm mẹ gì nữa? Chính vì chúng không nghe lệnh ta nên mới rắc rối đấy chứ, ngươi còn nói cái gì mà triệu chúng ra ngoài? Lấy cái gì mà triệu?
Hà Tiến giận quá hóa cười, nói: "Ấy là kiến giải của con trẻ! Ngô chưởng quyền bính trong thiên hạ, Thập thường thị dám làm gì ta?" Nghe rõ chưa, con trẻ, chính là nói ngươi đó Tào Tháo Tào A Man, đừng tưởng ta dễ bị xỏ mũi, ta là Đại tướng quân nắm đại quyền, cẩn thận kẻo ta trở mặt.
Viên Thiệu chắp tay nói: "Công tất muốn đi, bọn ta xin dẫn giáp sĩ hộ tống, để phòng bất trắc." Ngài đã muốn tìm đường chết thì cứ việc tìm đường chết đi, dẫu sao việc bọn ta nên làm cũng đã làm cả rồi, dẫn thêm người ít ra cũng tạo chút uy hiếp đối với lũ hoạn quan kia.
Hà Tiến gật đầu, đây coi như là một đề xuất không tệ, bèn lấy hổ phù giao cho Viên Thiệu và Tào Tháo, bảo mỗi người điều động năm trăm binh sĩ làm hộ vệ. Đã làm thì phải làm cho thật rầm rộ, vài chục vài trăm người sao có thể làm nổi bật uy phong của Hà Tiến ta?
Đúng lúc này, Viên Thuật bất ngờ đứng ra, chủ động xin lệnh: "Bản Sơ, Mạnh Đức huynh đều có chức trách tại thân, e rằng có điều bất tiện. Chi bằng để ta dẫn binh, tất bảo toàn chu đáo cho tướng quân." Viên Thiệu, Tào Tháo đều là Tây Viên Bát Hiệu Úy có chức quan chính thức, có hổ phù của tướng quân thì điều được binh không sai, nhưng rốt cuộc không có chiếu chỉ của hoàng đế, vạn nhất bị truy cứu thì lúc đó khó bề giải thích, chẳng thà để kẻ không có quân chức như ta thống lĩnh, sẽ không để lại lời đàm tiếu cho người ta bắt bẻ.
Đạo lý này nói ra quả thực không sai chút nào, thế nhưng Viên Thuật xưa nay làm việc chỉ chực lười biếng trốn tránh, hôm nay sao lại chủ động đến vậy? Viên Thiệu trong lòng khẽ động, quay đầu liếc nhìn Tào Tháo một cái.
Tào Tháo cũng đồng thời nhận ra, bèn đưa mắt đáp lại Viên Thiệu: Sự tình khác thường, tất có trò quỷ!
