Chương 7
Chương 7: Thử Sinh hương Thượng Âm thần châm
Đăng ngày 13/10/2026
19
Đại cô mẫu từng dặn dò nguyên chủ: "Chiếc tráp này quan trọng chẳng kém gì Thử Sinh hương, phải giữ cho thật kỹ. Con còn thì nó còn, tuyệt đối không được để rơi vào tay người khác."
Phùng Sơ Thần nghĩ thầm, chiếc tráp này được coi trọng đến thế, hẳn là chỉ có nó mới thích hợp để cất giữ Thử Sinh hương.
Sách gồm ba bộ y thư chuyên về phụ khoa và ấu khoa: 《Phụ Nhân Đại Toàn Lương Phương》, 《Kinh Hiệu Sản Bảo》, 《Kim Khoa Yếu Lược》, cùng với một bộ 《Thương Hàn Luận》, cộng lại chừng mấy chục cuốn.
Nguyên chủ vừa tròn một tuổi, Đại cô mẫu đã bắt đầu dạy nàng học thuộc y thư; ba tuổi tập nhận mặt chữ, những chữ học được phần lớn cũng rút ra từ sách thuốc. Sau tám tuổi, bà dạy nàng kiến thức chữa trị cho sản phụ cùng trẻ sơ sinh và phép châm cứu, thỉnh thoảng còn dẫn nàng tới Đức Xuân Đường thỉnh giáo Phương lão đại phu những y thuật ngoài phụ khoa và ấu khoa.
Từ năm đến mười tuổi, nguyên chủ sang nhà tiên sinh ở thôn bên cạnh, theo nương tử của tiên sinh học thêm một canh giờ rưỡi vỡ lòng con chữ.
Nguyên chủ vốn cực kỳ thông tuệ, đối với mớ y thư khô khan này lại có hứng thú lạ kỳ. Tính đến nay, nàng đã đọc hết trọn vẹn 《Kinh Hiệu Sản Bảo》 cùng 《Hoàng Đế Nội Kinh》, mấy bộ sách khác cũng đã học được quá nửa.
Đến năm mười tuổi, Đại cô mẫu dạy nàng đốt Thử Sinh hương và thi triển Thượng Âm thần châm.
Để hạ châm được chuẩn xác, từ sau năm tuổi, mỗi ngày nàng còn phải luyện Thái Cực quyền và tập thêm Đạn Chỉ công.
Đốt Thử Sinh hương chẳng cần học, chỉ cần hai chữ cơ duyên. Kẻ không có cơ duyên thì dẫu làm cách nào cũng không thể thắp cháy nén hương này.
Còn cơ duyên cụ thể ra sao, Đại cô mẫu chưa từng nhắc tới.
Cho đến tận bây giờ, nguyên chủ vẫn chưa từng tự tay châm nén Thử Sinh hương nào, chỉ biết bản thân mình có cái duyên để thắp nó lên mà thôi.
Thượng Âm thần châm lại cực kỳ khó học. Không chỉ phải nắm thật vững huyệt vị, góc độ, độ nông sâu và thủ pháp, mà còn phải biết dẫn khí trầm đan điền, dồn hết thảy tinh thần, tâm niệm vào hai đầu ngón tay cầm châm, rót chân khí vào đó, rồi lần lượt hạ châm vào ba đại huyệt Bách Hội, Hoàn Khiêu, Chiên Trung.
Độ nông sâu ở ba huyệt vị đều khác nhau, cách vê chuyển mũi châm cũng chẳng hề giống nhau...
Châm xong xuôi, lại lấy tàn tro khi Thử Sinh hương cháy hết thoa lên nơi vừa hạ châm, đứa trẻ sơ sinh dẫu hấp hối bên bờ cái chết cũng có thể giành lại được một mạng.
Lại thêm nữa, chẳng phải đứa trẻ sơ sinh bệnh nặng nào vừa lọt lòng cũng có thể dùng Thượng Âm thần châm. Nếu bản thân đứa trẻ không có cơ duyên, người thi châm sẽ chẳng thể thắp cháy Thử Sinh hương, tự nhiên cũng không thể vì nó mà hạ Thượng Âm thần châm được.
Những đứa trẻ sơ sinh đủ duyên để dùng tới mũi châm này quả thực ít ỏi vô cùng.
Nói cách khác, Thượng Âm thần châm này tà môn đến kỳ lạ, nhất nhất phải nói đến hai chữ "cơ duyên". Không chỉ người thi châm phải có, mà đứa trẻ được cứu cũng phải có phần duyên ấy.
Hơn nữa, mỗi lần hạ xong một lượt châm, người hành châm sẽ hao tổn hơn nửa phần sức lực, tuyệt đối không được lặp lại lần thứ hai trong vòng ba ngày.
Đại cô mẫu trong bốn ngày liền hạ châm tới hai bận, sức cùng lực kiệt, rốt cuộc qua đời. Có lẽ bởi thân thể bà vốn dĩ đã suy kiệt tới cùng cực, dẫu có quá hạn ba ngày thì cũng chẳng thể gượng nổi nữa.
Nguyên chủ phải học ròng rã suốt ba năm trời, mãi đến tháng trước mới xem như nắm được Thượng Âm thần châm.
Bản thân nàng cũng chưa từng đích thân hành châm cứu người, chỉ là một tháng trước có theo chân Đại cô mẫu đến nhà họ Lý xem đỡ đẻ. Khi Đại cô mẫu châm nén Thử Sinh hương, hạ xong Thượng Âm thần châm, bên tai nguyên chủ bỗng vang lên mấy tiếng cười khúc khích non nớt, ngay sau đó, đứa trẻ ngạt thở liền tìm lại được nhịp thở đầu tiên.
Tiếng cười kia mềm mại đáng yêu khôn xiết, dường như có thể làm tan chảy cõi lòng người ta.
Nhưng cũng quái dị khôn cùng. Chỉ có người có duyên thắp cháy Thử Sinh hương và biết thi triển Thượng Âm thần châm mới nghe được thanh âm ấy, còn những người khác có mặt trong phòng đều chẳng hề hay biết gì.
Tiếng cười trẻ thơ kỳ bí đó rốt cuộc là ai, ngay cả Đại cô mẫu cũng chẳng rõ.
Phùng Sơ Thần lại một lần nữa thầm thở dài, tận cùng của khoa học chính là huyền học, trên đời này có quá nhiều điều mà khoa học chẳng thể nào giải thích nổi.
Mà những chỗ huyền diệu của Trung y dường như cũng chẳng hề ít, kiếp trước không ít kẻ tự xưng chuyên gia, mở miệng là đòi truy tận nguyên lý với chi tiết, cứ vin vào đó mà công kích Trung y không ngừng.
Tận mắt chứng kiến những điều huyền diệu này, Phùng Sơ Thần cũng chỉ đành tự nhủ rằng trong nhân gian vẫn còn biết bao lĩnh vực mà khoa học chưa từng chạm tới...
Từng có người muốn bái Phùng y bà làm sư để học Thượng Âm thần châm, thậm chí có kẻ mang cả ngàn lượng bạc đến dâng tặng chỉ mong học được ngón nghề này, nhưng Phùng y bà đều khước từ.
Bà chỉ bảo: "Thứ này không phải muốn học là học được, phải có cơ duyên."
Người ngoài cứ ngỡ bà giấu nghề không chịu dạy, duy chỉ có nguyên chủ mới hiểu rõ, chuyện này thật sự cần đến cơ duyên trời định.
Điều khiến nguyên chủ hối hận nhất, chính là lúc Đại cô mẫu sang nhà họ Thái đỡ đẻ, nàng vì bận đưa Phùng Bất Tật lên kinh thành khám bệnh nên đã không đi cùng. Giá như lúc ấy nàng có mặt, để nàng thay bà hạ châm, thì Đại cô mẫu đã chẳng phải mất mạng...
Nguyên chủ có cơ duyên, nhưng nay linh hồn trong thân xác này đã đổi người khác, chẳng biết liệu bản thân nàng còn giữ được phần duyên ấy hay chăng.
Thứ gọi là cơ duyên xưa nay vốn là điều mịt mờ khó đoán định nhất trần đời.
Trong lòng Phùng Sơ Thần không khỏi thắp thỏm chẳng yên.
Trong một chiếc tráp nhỏ khác đựng mấy tờ khế ước, mấy tờ ngân phiếu cùng một ít thỏi bạc nén.
Gia sản tích cóp của nhà này gồm một trăm mẫu ruộng, cả tòa nhà viện này, hơn một trăm lượng ngân phiếu và bạc vụn, thêm hơn năm quán tiền đồng.
Toàn bộ gia tài gom lại ngót nghét hơn chín trăm lượng bạc.
Hơn hai mươi năm qua, số tiền Phùng y bà kiếm được thực chất không hề ít. Thế nhưng tiền thuốc men thang dược đổ vào người đệ đệ Phùng Cầu Ân và đứa cháu trai Phùng Bất Tật đã hao tổn phần lớn, lại thêm chi phí phối chế hương liệu, phát chẩn thuốc thang cho người nghèo, chừng ấy năm ky cóp lại cũng chỉ còn chừng này của nả.
Nhất là Phùng Cầu Ân và Phùng Bất Tật, mạng sống của hai cha con họ căn bản đều phải dùng tiền bạc mà níu giữ lại từng ngày.
Đại cô mẫu từng dặn, trước khi Phùng Sơ Thần xuất giá thì những thứ này giao cho nàng bảo quản, hễ chi dùng món tiền lớn nào đều phải nói rõ với Vương thẩm, đợi Phùng Bất Tật tròn tám tuổi thì cũng phải cho nó hay.
Tới khi Phùng Sơ Thần lấy chồng, tiền bạc trong nhà sẽ do Phùng Bất Tật nắm giữ, nhưng nếu Phùng Bất Tật muốn tiêu khoản gì lớn thì bắt buộc phải bàn bạc trước với Phùng Sơ Thần và Vương thẩm...
Ở một ngăn tủ khác cất hơn một trăm lượng bạc, hơn tám quán tiền đồng, bên trong còn kẹp hai tờ giấy trắng, ghi chép chi chít tên họ từng nhà và số tiền phúng viếng gửi tới.
Đây chính là số tiền phúng điếu nhận được sau khi Đại cô mẫu tạ thế.
Bạc nén phần lớn là do những nhà quyền quý giàu có gửi sang, con cái họ từng được Thượng Âm thần châm cứu sống một mạng, tấm ân tình ấy họ vẫn khắc ghi trong dạ.
Nhớ được món ân tình ấy, dẫu gửi nhiều hay ít cũng đều là tấm lòng thơm thảo của người ta.
Phùng Sơ Thần lại mở rương lớn ra.
Một chiếc rương đựng mấy bộ váy áo cũ cùng vài món đồ dùng thường ngày, còn chiếc rương có khóa kia lại xếp ngay ngắn hơn hai mươi cuốn sổ tay ghi chép.
Phùng Sơ Thần ngồi xếp bằng trên bờ trĩ, cẩn thận lục lọi từng mảnh ký ức về Đại cô mẫu. Có những chuyện là do đích thân bà kể lại, nhưng nhiều hơn cả là nghe từ miệng phụ mẫu cùng bà con lối xóm trong thôn.
Tối ngày mười bốn tháng trước, Đại cô mẫu gọi nguyên chủ cùng Phùng Bất Tật, Vương thẩm và Bán Hạ lại bên giường, đặt bàn tay nhỏ bé gầy gò của Phùng Bất Tật vào lòng bàn tay nguyên chủ, dặn dò chuyện hậu sự.
Bà bảo mai này Phùng Sơ Thần xuất giá, Bán Hạ sẽ theo làm nha hoàn của hồi môn, kèm theo hai mươi mẫu ruộng và hai mươi lượng bạc làm của riêng mang về nhà chồng.
Phần sản nghiệp còn lại để dành cho Phùng Bất Tật trang trải sinh hoạt, chữa bệnh và cưới vợ sau này. Vương thẩm sẽ chịu trách nhiệm chăm bẵm Phùng Bất Tật, nếu Bất Tật may mắn sống thọ thì phải có trách nhiệm phụng dưỡng Vương thẩm lúc tuổi già. Phùng Sơ Thần dẫu có gả đi rồi cũng phải để mắt đỡ đần cho đệ đệ...
Nhược bằng gặp phải hoạn nạn không thể vượt qua, có thể tìm đến Hồ phủ cầu xin Hồ đại nhân.
Người ấy ắt sẽ ra tay giúp đỡ.
Bà còn đặc biệt nhấn mạnh: "Năm xưa con trai của Hồ đại nhân là đứa trẻ đầu tiên ta dùng Thượng Âm thần châm cứu sống, ngần ấy năm trời ta chưa từng mở lời làm phiền đến ngài ấy nửa câu. Phải là lúc lâm vào bước đường cùng không còn lối thoát mới được tìm tới, bằng không tuyệt đối chớ đến quấy rầy.
"Còn như những nhà quan lại khác, ta cứu người, họ trả tiền chẩn trị, đôi bên xem như sòng phẳng. Các con là hậu nhân của ta, sống ở đời phải giữ lấy một đoạn ngạo cốt, ngàn vạn lần chớ có dẫm chân vào con đường xu nịnh, bấu víu quyền quý..."
Lời trăng trối cuối cùng của Phùng y bà là: "Món nợ nghiệt ngã mà tổ mẫu các con từng gây ra, cả đời này ta đã thay người trả lại gấp bội phần rồi. Trời xanh có đức hiếu sinh, Bất Tật cùng con cháu đời sau sẽ chẳng phải gánh chịu tai bay vạ gió nữa đâu. Ta nhắm mắt rồi, cứ đem chôn ở Cửu Pha lĩnh. Thôi, ta mệt rồi, mấy đứa lui ra nghỉ ngơi cả đi."
Dặn dò đâu vào đấy xong, bà liền nhắm mắt ngủ thiếp đi.
Mấy người nguyên chủ dẫu trong lòng trĩu nặng buồn thương, song chẳng một ai ngờ được những lời ấy lại chính là di ngôn cuối cùng của Đại cô mẫu trên cõi đời này.
Sáng sớm hôm sau, nguyên chủ sang phòng gọi Đại cô mẫu dậy dùng bữa, mới bàng hoàng nhận ra hơi thở của bà đã dứt tự bao giờ.
