Chương 9
Chương 9: Sổ tay
Đăng ngày 13/10/2026
19
Hồ đại nhân nghe chuyện, liền cố ý tìm đến huyện lệnh để cầu tình cho Phùng thị.
Ông nói: "Thuở trước quan phủ phán hậu nhân ba đời của Phạm thị không được nhập sĩ, chứ đâu có cấm hậu nhân ba đời của bà ta đỡ đẻ hay hành y. Phùng thị đỡ đẻ cứu người, chẳng hề phạm vào luật lệ.
"Hơn nữa, cứu giúp sản phụ và hài nhi lúc ngàn cân treo sợi tóc, ấy là tạo phúc cho nhân gian, cũng là chuộc tội cho Phạm thị. Mạng người chí trọng, quý tựa ngàn vàng. Một phương cứu tế, công đức khôn xiết..."
Vị huyện lệnh nghẹn lời.
Phùng thị rốt cuộc cũng có được tư cách làm bà đỡ.
Danh tiếng của Phùng bà đỡ ngày một vang xa, người tìm đến nhờ bà đỡ đẻ và thi châm càng lúc càng đông. Chẳng riêng gì bá tánh thường dân, mà cả chốn quyền quý cũng lũ lượt tìm về.
Bà được Thái Y Viện ghi danh vào sổ bộ, trở thành bà đỡ được quan phủ công nhận.
Phép thi châm Thượng Âm thần châm cũng được Thái Y Viện định giá, mỗi lần tám mươi lượng bạc.
Bà không chỉ đỡ đẻ ở chốn thôn quê, nơi ngõ chợ hay chốn hậu trạch nhà quyền quý, mà thỉnh thoảng còn vào phủ đỡ đẻ cho cả nương nương tông thân.
Từng có kẻ ép Phùng bà đỡ phải thi triển Thượng Âm thần châm cho hài nhi đã thoi thóp sắp chết.
Thế nhưng, một khi Thử Sinh hương không bén lửa thì tuyệt đối không thể hạ châm. Dùng châm lúc này chẳng những không cứu nổi đứa trẻ, mà người hạ châm còn phải chịu phản phệ khôn lường.
Bởi vậy, hễ Thử Sinh hương không cháy, Phùng bà đỡ liền dứt khoát chối từ.
Có kẻ ác tâm từng ra tay đánh Phùng thị, dẫu bị đánh đến đầu rơi máu chảy bà cũng quyết không hạ châm.
Lại có kẻ thưa kiện lên quan phủ, mắng bà thấy chết không cứu, uổng danh bà đỡ.
Phùng bà đỡ lại bị nha dịch bắt tới huyện nha, phạt đánh mười roi mây.
Chỉ vì từ chối thi triển Thượng Âm thần châm, bà từng bị người ta lén đánh đập mười mấy lần, chịu trượng hình nơi nha môn tới ba phen.
Nhưng bà vẫn một mực kiên trì như thế, dần dà người đời cũng tin lời bà, chẳng còn ai ép uổng bà hạ châm nữa.
Sau khi danh tiếng vang dội, bạc đỡ đẻ của Phùng bà đỡ được nâng lên mức cao nhất trong giới, sinh thuận thì một lượng bạc, sinh khó thì ba lượng.
Những nhà khá giả đều trả đủ không thiếu một đồng, thậm chí còn hào phóng thưởng thêm.
Còn như gặp phải cảnh nhà nghèo rớt mồng tơi, dẫu họ chẳng có tiền đưa, bà cũng không hề ép uổng. Dốc sức thi Thượng Âm thần châm mà họ gom góp được hai, ba quan tiền đã là may mắn lắm, số bạc ấy còn chẳng đủ bù vào tiền mua dược liệu làm Thử Sinh hương.
Để chuộc tội cho Phạm thị, Phùng thị không chỉ khám bệnh phát thuốc thiện nguyện, mà mỗi tháng còn đỡ đẻ miễn phí hai lần. Hễ Thử Sinh hương cháy lên, dẫu nhà kia có bần hàn đến mức nào, bà cũng dốc lòng hạ Thượng Âm thần châm cứu mạng.
Ngày tháng của Phùng gia dần dà khấm khá hơn, dựng lại gian nhà viện, lục tục tậu thêm ruộng đất, dùng thuốc bổ kéo dài tính mạng cho Phùng Cầu Ân, lại còn gom góp tiền cưới vợ cho ông...
Nhờ đỡ đẻ nhiều, cứu sống vô số sản phụ và hài nhi, lại thêm tính hay làm phúc, Phùng thị được người đời tôn xưng là "Tống Tử Quan Âm", danh xưng Phùng bà đỡ cũng đổi thành "Phùng y bà".
Những kẻ bần hàn từng chịu ơn bà nhiều không đếm xuể.
Người biết ghi lòng tạc dạ thì tìm đến xách nước tưới rau, gánh củi sang tạ ơn. Nhưng cũng chẳng thiếu kẻ thích chiếm phần hời, biết rõ tính khí Phùng y bà nên dẫu trong nhà có của ăn của để cũng chẳng chịu trả đủ tiền, thậm chí còn trơ tráo nghĩ rằng nhà mình đang ban cho bà cơ hội chuộc tội, quỵt nợ cũng là chuyện đương nhiên...
Người hiền lành dường như luôn phải chịu thiệt thòi. Kể từ ngày bước chân vào nghề đỡ đẻ, Phùng y bà đã nuốt vào bụng biết bao cay đắng, rơi chẳng biết bao nhiêu nước mắt.
Nghĩ đến những trận đòn roi bà từng phải gánh chịu, cõi lòng Phùng Sơ Thần lại thắt nghẹn.
Nhưng dẫu sao, trần gian vẫn còn nhiều người tốt biết khắc cốt ghi tâm.
Như Hồ đại nhân năm xưa từng nói đỡ cho đại cô mẫu. Trải qua hơn hai mươi năm, từ chức quan thất phẩm bé nhỏ, nay ông đã bước lên hàng tứ phẩm, giữ chức Kinh Triệu phủ thiếu doãn.
Về sau, mỗi bận Hồ phu nhân lâm bồn, hay đến lượt con dâu hạ sinh, họ đều mời Phùng y bà tới đỡ đẻ.
Thế nhưng Phùng y bà đối với họ vẫn giữ chừng mực xa cách, trừ bận đỡ đẻ ra thì tuyệt đối không chủ động đặt chân tới cửa Hồ phủ.
Gia đình duy nhất bà qua lại lui tới chỉ có bên nhà cữu cữu họ Diêu...
Kiếp trước, Phùng Sơ Thần cũng là người mang tính khí thanh cao. Sống thêm một đời, nàng mới thấu tỏ được nhiều điều.
Nàng nghĩ, cảnh nhà mình giờ đây chỉ còn côi cút mấy bóng người, muốn mở y quán thì ắt hẳn sau này sẽ gặp muôn vàn trắc trở. Nàng rất muốn đến Hồ phủ bái kiến Hồ đại nhân để kết chút duyên lành.
Nhưng nhớ tới tính nết cùng những lời dặn dò của đại cô mẫu, nàng lại chẳng dám quá phận vồ vập.
Còn về những cánh cửa hào môn như Dương Hòa Trưởng công chúa phủ, Vũ Nghị Bá phủ hay Hoàng lang trung, nàng lại càng không thể tự tiện bước vào.
Phùng Sơ Thần lại lần giở những cuốn thủ trát trong rương. Cả thảy hai mươi lăm cuốn, đều được ghi chép lại theo lối nhật ký. Bìa cuốn trên cùng viết bốn chữ lớn theo hàng dọc: Phù Sinh Tam Thiên.
Nàng lật qua loa vài lượt, phần lớn trong đó là tâm đắc của đại cô mẫu khi đỡ đẻ, cùng cách xử trí mỗi khi gặp phải chuyện nguy nan bất trắc, lại có cả những nan đề, nghi hoặc mà bà chưa tìm ra lời giải.
Cũng có đôi dòng ghi lại chuyện thường nhật, nhưng ít ỏi vô cùng.
Nét chữ thanh mảnh tú lệ, nhìn vào thấy lòng khoan khoái dễ chịu.
Những tập thủ trát này, đối với Phùng Sơ Thần còn quý giá hơn cả chồng y thư đắt tiền.
Nàng ngồi xuống, mở trang đầu tiên, chăm chú đọc từng câu chữ.
"Ngày hai mươi mốt tháng Giêng năm Thái Sóc thứ mười, gió lạnh gầm rít, hoa mai đỏ ngạo nghễ trong tuyết.
Ta cắm tấm biển trước cổng viện: Ngựa nhanh xe nhẹ, Phùng thị nhận sinh.
Từ nay về sau, ta sẽ như tổ mẫu đỡ đẻ cho sản phụ, ta sẽ dùng cả đời này để chuộc tội thay người.
Nay xin lập lời thề, ôm lòng từ bi, cứu độ chúng sinh, chẳng màng sang hèn giàu nghèo, một lòng cứu giúp, không quản gian nan..."
Năm Thái Sóc thứ mười ư?
Năm nay đã là Kiến Chương năm thứ mười chín rồi...
Phùng Sơ Thần lục tìm trong ký ức của nguyên thân, mãi mới nhớ ra Thái Sóc là niên hiệu của tiên đế.
Xa xôi biết nhường nào.
Phùng Sơ Thần tiếp tục lật giở...
"Ngày hai mươi tháng Tư năm Thái Sóc thứ mười, trời quang mây tạnh, trăm hoa khoe sắc.
Vợ Lý Bính Hòa khó sinh, không tìm được bà đỡ đành phải gọi ta tới. Thai nhi ngôi nghịch, ta bảo sản phụ nằm xuống, lựa tay nắn lại ngôi thai cho thuận rồi mới đỡ nàng đứng dậy sinh nở.
Mẹ tròn con vuông.
Tuy chỉ kiếm được mười đồng tiền, nhưng ta và Cầu Ân vẫn vui mừng khôn xiết.
Cuối cùng cũng mở hàng suôn sẻ..."
"Ngày mười bốn tháng Tám năm Thái Sóc thứ mười, hoa quế trổ bông, sắc thu nhuộm hương.
Lưng đau đớn khôn cùng.
Lúc chịu trượng hình, ta cắn chặt răng đến bật máu chứ không thốt ra nửa lời than vãn. Nỗi đau thể xác lúc này, dẫu xé da xé thịt cũng chẳng bằng nỗi nhục nhã khi bị người ta lột đồ kiểm tra thân thể ban nãy.
Nhưng bước này ta buộc phải đi, cũng là tội nghiệp ta phải gánh. Có nếm trải đớn đau, sau này mới mong thanh thản.
Cầu Ân ôm chặt lấy ta mà khóc..."
"Mồng chín tháng Giêng năm Thái Sóc thứ mười một, gió rét thấu xương, tuyết bay ngập trời.
Vợ tư nhà họ Tần sinh nở, chỉ mất ba canh giờ đã mẹ tròn con vuông. Tần thẩm mừng rỡ, chẳng những thưởng cho ta hai mươi đồng tiền lớn, mà còn tặng thêm bốn quả trứng gà nhuộm đỏ.
Cầu Ân ăn trứng, khóe mắt cười cong cong..."
"Ngày mười hai tháng Hai năm Thái Sóc thứ mười một, chim én bay về phương bắc, hoa nghênh xuân hé nở.
Con dâu thứ hai nhà họ Quý trở dạ. Bận rộn suốt hai ngày một đêm mới giữ được bình an cho cả mẹ lẫn con, vậy mà nhà họ Quý chỉ đưa có ba đồng tiền cắc, đến tiền mua thuốc thúc sinh cũng chẳng đủ..."
Đoạn sau chủ yếu ghi chép lại những tâm đắc và nan đề trong nghề y, Phùng Sơ Thần bèn đổi sang một cuốn thủ trát khác, tìm những chuyện thường nhật để đọc tiếp.
"Ngày ba mươi tháng Ba năm Thái Sóc thứ mười hai, mưa phùn dầm dề, hoa hải đường rụng rơi vùi trong bùn đất.
Vất vả suốt một ngày một đêm, đứa nhỏ rốt cuộc vẫn chết non trong bụng mẹ.
A Di Đà Phật, đây là đứa trẻ vắn số đầu tiên kể từ khi ta trở về thôn Bạch Mã, cũng là đứa thứ hai mất trên tay ta từ ngày bước vào nghề đỡ đẻ.
Đinh lão hán thở phào nhẹ nhõm, bụng nghĩ con chết non còn đỡ hơn đứa dở sống dở chết, khỏi phải tốn thêm tiền thang thuốc chạy chữa, chỉ cần năm đồng tiền lớn là đuổi khéo được ta.
Lão bảo con trai dùng cỏ khô bọc cái xác nhỏ lại, mang lên núi chôn bừa đi.
Nhìn thân hình nhỏ bé tái xanh tái ngắt kia đến mảnh vải che thân cũng chẳng có, lòng ta sao nỡ đành hanh.
Ta nói: 'Để ta mang đi chôn cho. Dùng tấm vải ta mang theo này mà bọc lấy, ta còn tụng cho con một biến vãng sinh kinh, mong kiếp sau con được nhìn thấy ánh mặt trời.'
Đinh lão hán chẳng mảy may do dự, đưa ngay đứa bé cho ta bế đi.
Trước đó, ta đã tìm được một mảnh đất vắng bóng chân người ở phía bắc Diệu Thanh sơn, định sẵn làm nơi yên nghỉ cho những hài nhi bạc mệnh. Đã chẳng thể cho chúng nhìn thấy ánh mặt trời nơi cõi thế, há nỡ để chuyện hậu sự của chúng phải chịu cảnh hoang lạnh sơ sài.
Nơi ấy, chính là Thanh Vĩ Đãng..."
