Chương 6
Chương 6: Rao hàng
Đăng ngày 08/10/2026
19
Sáng hôm sau, Lưu Phú Quý dẫn Lưu Tương đi xem mấy căn phòng trọ. Cuối cùng, hai người tìm được một căn phòng ngăn bằng ván ép trong tòa nhà cũ trên phố Quế Lâm. Căn phòng vốn được ngăn ra từ phòng khách, rộng khoảng sáu mét vuông, chỉ có một gian sinh hoạt kèm nhà vệ sinh, muốn ngủ phải trèo lên gác xép, bên trong kê vừa một cái tủ quần áo nhỏ và một chiếc bàn xếp. Cửa sổ mở ra giếng trời, ánh sáng không tốt lắm nhưng được cái rẻ, tiền thuê sáu trăm năm mươi đồng một tháng, bao điện nước. Lưu Tương đặt cọc hai tháng và đóng luôn một tháng tiền nhà ngay tại chỗ, cầm lấy chìa khóa.
Hôm dọn nhà, hành lý của hắn chỉ vỏn vẹn một cái bao tải dứa: vài bộ quần áo thay đổi, một cái khăn mặt, một chiếc chậu tráng men, cùng tấm chứng minh thư màu xanh trắng. Hắn cất chứng minh thư vào túi trong áo khoác, lấy tay ấn nhẹ để chắc chắn nó vẫn còn ở đó. Vách ngăn phòng mỏng như tờ giấy, bên cạnh vẳng sang tiếng hát khúc Quảng Đông từ chiếc radio, rả rích réo rắt như lời thì thầm vọng lại từ một thế giới khác.
Hắn ngồi trước bàn xếp một lúc, lấy cuốn sổ tay bìa mềm mới mua ở tiệm văn phòng phẩm ra, nắn nót viết mấy dòng lên trang đầu tiên:
Ngày 28 tháng 12 năm 1980. Vốn ban đầu: 3.720 đô la Hong Kong. Cọc nhà + tháng đầu: 1.950 đô la Hong Kong. Còn lại: 1.770 đô la Hong Kong.
Kế hoạch: Lấy hàng từ Lưu Ký, ra đường phố Thâm Thủy Bộ bày sạp.
Gấp sổ lại, hắn hít sâu một hơi. Từ hôm nay, hắn không còn là chân làm thuê cho ai nữa, hắn là ông chủ của chính mình. Dù ông chủ này hiện chỉ có một gian phòng ván ép chật chội và số vốn một nghìn bảy trăm bảy mươi đồng.
Địa điểm bày sạp đã được hắn khảo sát suốt mấy ngày. Dân buôn bán vỉa hè ở Thâm Thủy Bộ chủ yếu tập trung quanh phố Quế Lâm, phố Bắc Hà và phố Áp Liêu, bán đủ thứ trên đời: quần áo, giày dép, đồ dùng hàng ngày, linh kiện điện tử, đồ điện cũ. Đông người qua lại nhất là tầm chiều muộn đến chín giờ tối, khi dòng người tan làm ghé qua mua tạm món đồ mang về nhà. Lưu Tương chọn một chỗ gần ngã ba phố Quế Lâm và phố Nguyên Châu, bên cạnh là một ông lão bán hạt dẻ rang và một phụ nữ trung niên bán tất. Người qua kẻ lại tấp nập, vị trí không phải đắc địa nhất nhưng may là còn chỗ trống.
Ngày đầu mở sạp, hắn dậy từ rất sớm. Hắn sang Lưu Ký lấy bốn mươi món hàng: hai mươi chiếc áo len dệt kim nữ, mười chiếc áo khoác nam, mười chiếc quần bò ống loe. Tính theo giá sỉ, áo len mười lăm đồng một chiếc, áo khoác hai mươi lăm, quần bò mười tám, tổng cộng hết hơn một nghìn một trăm đồng. Hắn nhét hàng vào hai bao tải lớn, dùng đòn gánh kẹp lại rồi gánh đi bộ hai mươi phút ra phố Quế Lâm. Đòn gánh đè lên vai hằn thành một vệt đỏ rát buốt, nhưng hắn cắn răng không than một tiếng.
Đến nơi, hắn trải tấm bạt nhựa xuống đất, gấp gọn từng món quần áo rồi bày ra, lại lôi từ đáy bao tải một tấm bìa carton viết bốn chữ to tướng bằng bút lông: "Thời trang Hong Kong". Chữ viết nguệch ngoạc nhưng đủ bắt mắt.
Mọi thứ đã sẵn sàng. Hắn ngồi xổm sau sạp, nhìn dòng người ngược xuôi qua lại, há miệng mấy lần nhưng cổ họng nghẹn lại, không thốt nên lời.
Kiếp trước hắn làm nghề bán buôn, đàm phán với khách, ký hợp đồng, lập phương án, việc gì cũng rành. Nhưng đó là công việc trong văn phòng, com-lê giày tây, máy lạnh phả vù vù. Giờ bảo hắn ngồi xổm bên lề đường, nhìn người lạ qua lại rồi gào toáng lên "Lại xem đi, đồ rẻ đây này", quả thực là một câu chuyện hoàn toàn khác.
Ông lão bán hạt dẻ rang bên cạnh họ Chung, ngoài sáu mươi, tóc hoa râm, hai bàn tay chai sần. Thấy Lưu Tương cứ ngồi im thin thít, ông cười toe toét: "Chú em, lần đầu ra sạp hả? Không rao thì ai mua? Tưởng đống quần áo đấy tự mọc chân chui vào túi người ta chắc?"
Lưu Tương đỏ bừng mặt. Hắn đứng dậy, hắng giọng một cái rồi cất tiếng bằng tiếng Quảng Đông: "Lại xem đi bà con, đồ thời trang mẫu mới, giá rẻ đây!"
Giọng lí nhí như muỗi kêu. Người cách đó năm mét còn chẳng nghe thấy.
Bác Chung lắc đầu, rồi tự mình hắng giọng hô to: "Hạt dẻ rang đây! Hạt dẻ nóng hổi vừa thổi vừa ăn đây! Mười cắc một túi!" Tiếng rao sang sảng như sấm rền, nửa con phố đều nghe rõ.
Lưu Tương cắn răng đánh liều, hít một hơi thật sâu rồi dồn hết sức bình sinh gào lên: "Thời trang Hong Kong đây! Áo len dệt kim, quần bò, áo khoác! Toàn bộ tính giá sỉ! Đi qua đi lại đừng bỏ lỡ!"
Lần này tiếng đủ lớn. Mấy người đi đường ngoái đầu nhìn, nhưng chưa ai dừng bước. Lưu Tương không nản, tiếp tục rao. Hô chừng mười mấy bận, họng bắt đầu khản đặc, nhưng hắn dần nhận ra quy luật: rao hàng cũng phải có nhịp điệu như hát, đuôi câu phải ngân cao lên thì nghe mới xởi lởi, nhiệt tình. Hắn chỉnh lại giọng, tiếng rao ngày càng trôi chảy.
Cuối cùng cũng có một bà cô tầm bốn mươi tuổi dừng lại, ngồi xổm xuống lật xem đống áo len dệt kim. Bà cầm một chiếc màu đỏ mận lên sờ chất vải, hỏi: "Cái này bao nhiêu?"
Lưu Tương mừng thầm nhưng mặt không đổi sắc: "Ba mươi lăm đồng ạ."
"Ba mươi lăm? Đắt thế, tiệm ngoài đầu phố bán có bốn mươi, đồ vỉa hè của cậu bớt đi, hai mươi lăm thôi."
Lưu Tương quá hiểu mấy bài mặc cả này. Ở sạp hàng hắn gặp vô số lần, khách bao giờ cũng chê đắt trước rồi ép giá sát ván. Hắn cười đáp: "Cô ơi, tiệm đầu phố cô nói cũng lấy hàng từ chỗ cháu đấy. Cô xem chất vải này, cotton nguyên chất chứ không phải sợi tổng hợp đâu. Cô thực bụng muốn mua thì ba mươi, giá chót rồi đấy ạ."
"Hai mươi tám." Người phụ nữ vẫn chưa chịu buông.
Lưu Tương làm bộ ngập ngừng một lúc rồi thở dài: "Thôi được rồi, hai mươi tám bán mở hàng cho cô vậy. Cô là khách đầu tiên, coi như cháu lấy lộc."
Người phụ nữ rút tờ năm mươi đồng, Lưu Tương thối lại hai mươi hai đồng rồi xếp áo vào túi ni-lông đưa qua. Bà đi được hai bước lại quay đầu hỏi: "Này chú em, mai cậu còn ở đây không?"
"Có chứ, ngày nào cháu cũng ở đây."
Mở hàng trót lọt, lòng bàn tay Lưu Tương ướt đẫm mồ hôi. Bán giá hai mươi tám, giá sỉ mười lăm, lời mười ba đồng. Không nhiều nhặn gì, nhưng đây là tiền do chính tay hắn kiếm ra, không phải lương lĩnh từ sạp của người khác, cảm giác khác biệt hoàn toàn.
Xong đơn đầu tiên, những đơn sau thuận lợi hơn hẳn. Từ bốn giờ chiều đến bảy giờ tối là lúc cao điểm, Lưu Tương bận tối tăm mặt mũi, vừa báo giá vừa thối tiền, lại còn phải để mắt canh chừng kẻ gian thừa lúc lộn xộn thó đồ. Họng rát thì hớp một ngụm nước mang theo rồi lại gào tiếp. Đến hơn tám giờ tối, người đi đường vãn dần, hắn bắt đầu dọn sạp. Đếm lại số hàng còn sót, bốn mươi chiếc đã bán được hai mươi sáu, doanh thu hơn tám trăm đồng, trừ đi vốn nhập và tiền bến bãi tạm thời năm đồng một ngày, hắn bỏ túi gần ba trăm đồng tiền lãi.
Một ngày kiếm ba trăm đồng. Lưu Tương vuốt phẳng từng tờ tiền, xếp ngay ngắn rồi nhét vào túi trong áo, tim đập thình thịch. Hắn làm ở sạp Lưu Ký cả tháng tính cả lương cứng lẫn hoa hồng cũng chỉ nhỉnh hơn một nghìn, giờ một ngày đã kiếm được ba trăm. Dĩ nhiên chuyện này không ổn định, hôm nay may mắn chứ ngày mai biết đâu ế chỏng gọng. Nhưng ít nhất điều này chứng minh con đường hắn chọn là đi được.
Dọn dẹp xong xuôi, hắn lại gánh hai bao tải đi về. Gió đêm Thâm Thủy Bộ thổi tới, mang theo mùi đồ nướng và mùi hạt dẻ rang thơm lừng, ánh đèn neon ven đường nhòe ra từng quầng sáng trong bầu không khí ẩm ướt. Bước giữa dòng người, Lưu Tương bỗng thấy mình thực sự thuộc về thành phố này, không phải dựa vào sự bao bọc của người chú họ, mà bằng chính đôi bàn tay mình.
Đến ngày thứ ba, hắn gặp rắc rối.
Chiều hôm đó, Lưu Tương vẫn bày sạp ở phố Quế Lâm như thường lệ. Buôn bán thuận lợi, hắn đã bán được mười mấy chiếc, đang cúi người thối tiền cho khách thì bỗng thấy ánh sáng trên đầu bị che khuất. Ngẩng lên, hai gã đàn ông đã đứng chắn trước mặt hắn.
Một gã chừng ngoài ba mươi, đầu đinh, cổ đeo sợi dây chuyền vàng to bản, mặc áo sơ mi lụa hoa hòe hoa sói banh ngực, lộ ra một góc hình xăm. Gã còn lại trẻ hơn, tầm đôi mươi, tóc húi cua, khoác áo da đen, hai tay đút túi quần, mặt không cảm xúc đứng bên cạnh.
Gã đeo dây chuyền vàng ngồi xổm xuống, dùng hai ngón tay lật lật mấy chiếc áo trên bạt rồi ngước lên cười, lộ ra một chiếc răng bọc vàng.
"Mới tới hả?" Giọng Quảng Đông của gã sặc mùi Triều Châu.
Tim Lưu Tương thót lại một nhịp. Hồi còn ở sạp, hắn từng nghe Lưu Phú Quý nhắc qua: dân bán dạo lề đường tháng nào cũng phải nộp tiền bảo kê. Đám thu tiền là đầu gấu quanh vùng, chúng chia địa bàn rõ ràng, ai muốn kiếm ăn trên đất của chúng đều phải nôn tiền ra. Đứa nào không chịu nộp, nhẹ thì bị lật sạp, nặng thì ăn đòn no đòn nhừ tử.
"Tôi... mới tới được ba ngày." Lưu Tương cố giữ giọng bình tĩnh.
Gã dây chuyền vàng đứng dậy, phủi bụi trên tay, nhàn nhạt nói: "Con phố này tao coi. Mày bày sạp ở đây, có biết luật không?"
"Luật gì ạ?" Lưu Tương vờ ngây ngô.
Gã dây chuyền vàng xòe ba ngón tay: "Một tháng ba trăm. Hôm nay nộp trước một trăm rưỡi, tính cho nửa tháng sau của tháng này."
Ba trăm đồng. Lưu Tương nhẩm tính trong đầu, một ngày hắn kiếm ròng từ hai đến ba trăm, số tiền này tương đương với lợi nhuận hơn một ngày công. Không ít, nhưng cũng chẳng phải là quá sức. Hắn nhớ lại lời Lưu Phú Quý: "Bớt một chuyện hơn thêm một chuyện, đưa được thì đưa cho xong, đừng đối đầu với bọn chúng."
Không chút chần chừ, hắn mở túi bao tử đếm đủ một trăm năm mươi đồng, hai tay đưa qua, giọng điệu cung kính: "Anh, đây là phần tháng này. Sang mùng một tháng sau em sẽ nộp đủ cả tháng."
Gã dây chuyền vàng nhận tiền, đếm lại, vẻ mặt hơi bất ngờ, có lẽ không nghĩ thằng nhóc này lại biết điều đến thế. Gã nhét tiền vào túi quần, vỗ vỗ vai Lưu Tương, lực tay không nhẹ không mạnh: "Biết điều đấy, nhóc con. Sau này có ai kiếm chuyện với mày, cứ xưng tên A Cường này ra."
Dứt lời, gã dắt thằng đầu cua quay lưng bỏ đi. Tên đầu cua từ đầu chí cuối không hé răng nửa lời, chỉ liếc Lưu Tương một cái trước khi đi, ánh mắt không rõ là cảnh cáo hay tò mò.
Bác Chung đứng bên cạnh chứng kiến toàn bộ sự việc, đợi hai tên kia đi xa mới khẽ bảo Lưu Tương: "Chú em, mày làm thế là phải đấy. Thằng Cường là đại ca khu này, nộp tiền cho nó rồi thì nó để yên cho làm ăn. Trước có đứa bướng không chịu nộp, hôm sau sạp bị lật tung, người thì phải nhập viện nằm."
Lưu Tương gật đầu, ngồi thụp xuống tiếp tục xếp lại đống quần áo bị lật lung tung. Tay hắn khẽ run, không phải vì sợ, mà vì tức giận. Kiếp trước hắn là người có vai vế đàng hoàng, chưa bao giờ phải chịu sự ức hiếp nhục nhã thế này. Nhưng hắn hiểu rõ, đây là Hong Kong năm 1980, luật giang hồ đầu đường xó chợ vốn dĩ là như vậy. Hắn không phải anh hùng hảo hán, hắn chỉ là một thằng nhóc nghèo rớt mồng tơi đi bán dạo kiếm cơm, chưa có tư cách để làm mình làm mẩy.
Một trăm năm mươi đồng, coi như tiền học phí.
Gấp gọn quần áo xong xuôi, hắn đứng dậy, hắng giọng rồi lại cất tiếng rao.
"Thời trang Hong Kong đây! Áo len, quần bò, áo khoác! Toàn bộ tính giá sỉ bà con ơi..."
Tiếng rao vẫn lớn, vẫn tràn đầy nội lực như cũ. Người đi đường chẳng ai hay biết, thằng nhóc đang cười tươi rói kia vừa bị cướp mất nửa ngày tiền lời. Nhưng chuyện đó không quan trọng. Quan trọng là hắn vẫn đang rao, vẫn đang bán, và vẫn đang tiến về phía trước.
Lúc dọn sạp, bác Chung dúi cho hắn một túi hạt dẻ rang, bảo: "Tao mời đấy. Người trẻ cố gắng lên, đừng sợ mấy cái ngữ đó, bọn nó chỉ giỏi bắt nạt người hiền lành thôi."
Lưu Tương nhận túi hạt dẻ, bóc một hạt bỏ vào miệng, vừa thơm vừa ngọt, nóng đến mức hắn phải phả hơi phù phù.
Về đến căn phòng ván ép, hắn ghi chép sổ sách ngày hôm nay vào cuốn sổ tay: Doanh thu 742, vốn 418, tiền bảo kê 150, lãi ròng 174. Cộng với hai ngày trước, ba ngày hắn đã bỏ túi ngót nghét bảy trăm đồng. Cứ theo đà này, một tháng có thể kiếm được năm, sáu nghìn, ăn đứt việc đi làm thuê ở sạp.
Gấp sổ lại, hắn ngả lưng xuống giường, vết nứt trên trần nhà dưới ánh đèn vàng vọt trông như một dòng sông ngoằn ngoèo. Tiếng hát khúc Quảng Đông bên vách đã dứt, thay vào đó là tiếng cãi cọ của một đôi nam nữ, cách một bức tường mỏng nghe lúc được lúc mất, chẳng khác nào tiếng đài radio bị nhiễu sóng.
Hắn nằm tính toán bước tiếp theo trong đầu. Bán sạp lề đường chỉ là bước khởi đầu để kiếm chút tiền mồ hôi nước mắt. Chờ gom đủ vốn liếng, hắn sẽ tiến sang những thị trường lớn hơn, làm những mối làm ăn tầm cỡ hơn. Năm 1981 sắp gõ cửa rồi, hắn biết năm đó sẽ diễn ra những biến cố gì: đại lục vừa rục rịch cải cách mở cửa, đặc khu Thâm Quyến còn chưa chính thức thành lập, nhưng cánh cửa lớn kia đang từng chút một hé mở.
Sờ tấm chứng minh thư màu xanh trắng trong túi áo, hắn tự nhủ số vốn trong tay mình lúc này vẫn còn quá mỏng.
