Chương 7
Chương 7: Tiêu điểm nhân vật: Đệ nhất tướng Xuân Thu——Quản Trọng
Đăng ngày 06/10/2026
19
[Tiêu điểm quốc tế]
Tổng công trình sư cải cách mở cửa nước Tề —— Quản Trọng
[Bản tin Tề Tân Xã] Quản Trọng chủ trì cuộc điều chỉnh lớn về quy hoạch hành chính nước Tề, nâng cao rõ rệt hiệu năng hành chính, người nước Tề tôn xưng Quản Trọng là đại sư quy hoạch.
Bản tin cho hay, Quản Trọng thuộc mẫu người hễ có cơ hội là tỏa sáng, chỉ cần tạo điều kiện thuận lợi, hắn tất sẽ làm nên đại nghiệp. Sau khi bước lên trung tâm vũ đài chính trị, Quản Trọng lập tức tiến hành cải cách phân khu hành chính trên quy mô lớn. Hắn chia cả nước thành năm thuộc và hai mươi mốt hương; năm thuộc vùng ngoại ô dành toàn bộ cho nông dân cư ngụ, chuyên tâm sản xuất nông nghiệp trong các khu nông nghiệp hiện đại. Có mười lăm hương toàn bộ là binh sĩ, chính là nguồn bổ sung quân đội của nước Tề. Ba hương dành cho thợ thủ công cư ngụ, làm việc trong các khu công nghiệp. Lại có ba hương dành riêng cho thương nhân, tiến hành giao thương buôn bán trong các khu thương mại. Nhờ đó, cả nước được phân định rõ thành bốn khu chức năng lớn: Sĩ, Nông, Công, Thương; mỗi bên có sự phân công, tự chịu trách nhiệm, bố cục rành mạch, mục tiêu rõ ràng, hiệu suất hành chính được nâng cao vượt bậc.
Chế độ cư trú phân định của Quản Trọng trói buộc các tầng lớp bách tính trong từng khu vực nhất định, không được tự ý chuyển đổi hộ tịch, nghiêm cấm di cư tùy tiện. Người cùng giới sống quây quần bên nhau, khiến cho khi đánh trận ban đêm, chỉ cần nghe tiếng là phân biệt được địch ta; đánh trận ban ngày, chỉ cần nhìn mặt là nhận ra nhau. Hơn nữa, thân phận không được thay đổi qua nhiều đời, nhằm bảo đảm tính quy phạm và sự kế thừa liên tục của kỹ nghệ nghề nghiệp.
Giới kinh tế nhận định, việc Quản Trọng điều chỉnh phân khu hành chính đã thể hiện sự coi trọng cao độ đối với công thương nghiệp, là bước đột phá trọng đại vượt qua tư tưởng trọng nông ức thương truyền thống, mang ý nghĩa mở ra một thời đại mới.
[Bản tin Tề Tân Xã] Hội nghị công tác kinh tế nước Tề vừa được triệu tập gần đây, Quản Trọng đã trình bày báo cáo công tác chính phủ. Báo cáo chỉ rõ: Lễ, nghĩa, liêm, sỉ là bốn rường mối của quốc gia; bốn rường mối không giương thì nước ắt diệt vong. Thế nhưng không thể bàn suông lễ nghĩa liêm sỉ, báo cáo khẳng định: “Kho đẫm mới biết lễ nghi, cơm áo đủ mới hay vinh nhục”, văn minh tinh thần không thể tách rời văn minh vật chất. Báo cáo đề xuất, hiện nay nước Tề cần lấy xây dựng kinh tế làm trung tâm, văn minh vật chất và văn minh tinh thần đều phải nắm chắc, đều phải cứng rắn, thực hiện mở cửa đối ngoại, toàn diện xây dựng xã hội ấm no.
Báo cáo của Quản Trọng đã gây nên sự cộng hưởng mạnh mẽ nơi các đại biểu tham dự, đồng thời tạo ra tiếng vang lớn trong xã hội.
[Bản tin Tề Tân Xã] Quản Trọng áp dụng các biện pháp đắc lực, đẩy mạnh chiêu thương gọi vốn, giúp công thương nghiệp nước Tề phát triển vượt bậc, kinh đô Lâm Tri được bầu chọn là một trong mười đô thị thương mại tràn đầy sức sống nhất thiên hạ.
Quản Trọng chủ trương tối ưu hóa môi trường đầu tư, xóa bỏ rào cản thương mại; đối với ngoại thương đến buôn bán tại nước Tề, chính phủ dành cho họ quy chế đãi ngộ quốc dân và quy chế tối huệ quốc, giảm hoặc miễn thuế quan. Đối với nhân viên thuộc các doanh nghiệp nằm trong top 500 chư hầu, bất kể cổ cồn trắng, cổ cồn xanh hay tầng lớp tinh anh, chính phủ đều bao ăn bao ở, trừ những kẻ bao nuôi tì thiếp.
Quản Trọng quy định việc thanh toán mậu dịch xuất nhập khẩu nhất loạt sử dụng tiền hình đao của nước Tề. Hắn còn cho thiết lập cục vật giá sớm nhất thiên hạ, thông qua phương thức thu mua và bán tháo của chính phủ để điều tiết lượng hàng dư thừa hay thiếu hụt, cân bằng cung cầu trên thị trường, từ đó bình ổn giá cả, bảo đảm thị trường vận hành ổn định và phát triển lành mạnh.
Khi thị trường nội địa dần bão hòa, Quản Trọng bắt đầu mở rộng thương mại quốc tế, phát triển quan hệ kinh tế với các nước Đông Á như Triều Tiên, thiết lập khu thương mại tự do Đông Á, từng bước khai mở nên con đường tơ lụa trên biển.
Dưới sự lãnh đạo của Quản Trọng, chỉ trong vài năm ngắn ngủi, nước Tề đã liên tiếp tạo nên những kỳ tích kinh tế, tổng sản lượng quốc dân tăng trưởng ở mức hai con số mỗi năm, hình thành cục diện phồn thịnh “thương nhân thiên hạ đổ về Tề như nước chảy”. Nước Tề trở thành công xưởng thiên hạ; trong số các doanh nghiệp top 500 chư hầu, có đến hai phần ba là doanh nghiệp nước Tề, ngày càng nhiều người Tề chen chân vào bảng xếp hạng phú hào chư hầu. Người đời gọi phương thức phát triển kinh tế của nước Tề là mô hình Tề quốc, hay còn gọi là “Đồng thuận Lâm Tri”. Quản Trọng cũng được truyền thông quốc tế ca ngợi là vị thủ lĩnh chính phủ có đầu óc kinh tế nhất, đồng thời nhận được tôn hiệu: Tổng công trình sư cải cách mở cửa nước Tề.
[Bản tin Lộ Đầu Xã] Quản Trọng mở kỹ viện quan phương, thúc đẩy hợp pháp hóa ngành kỹ nữ, biến tình dục thành sản nghiệp, khai mở khu đèn đỏ được triều đình bảo hộ. Kỹ viện quan phương của Quản Trọng là điều tiên phong trong thiên hạ, truyền thông tôn xưng hắn là ông tổ nghề kỹ nữ.
Giới quan sát chỉ ra rằng, Quản Trọng cho lập bảy viện kỹ nữ quốc gia tại đô thành Lâm Tri, thu nạp bảy trăm phụ nữ lầm lỡ. Mục đích của Quản Trọng là nhằm giải quyết nhu cầu sinh lý cho lực lượng lao động và thương nhân từ nơi khác đến, từ đó cải thiện môi trường đầu tư, gia tăng sức mạnh mềm của nước Tề, thu hút chiêu thương gọi vốn, đồng thời kích thích tiêu dùng, thúc đẩy ngành dịch vụ nước Tề phát triển. Việc thu thuế phấn son đã làm tăng nguồn thu tài chính quốc gia. Ngoài ra còn giúp giới văn nhân khơi nguồn cảm hứng sáng tác, làm phồn vinh nền văn học, thúc đẩy văn hóa nước Tề phát triển rực rỡ. Giới bình luận nhận định đây là biểu hiện nổi bật của phương châm cầm quyền lấy dân làm gốc, phản ánh tư tưởng quản lý xã hội đầy tính nhân văn của chính phủ nước Tề.
Người thạo tin tiết lộ, để bày tỏ sự ủng hộ với kỹ viện, bản thân Quản Trọng cũng thường lui tới chốn lầu xanh để làm gương, hao tổn không ít tinh lực cho việc này. Quản Trọng đến kỹ viện tuyệt không ỷ quyền cậy thế, lần nào cũng tự bỏ tiền túi, không dùng công quỹ, không đi xe công vụ, khao kỹ nữ đi ăn đêm cũng chẳng tốn một cắc của công. Nhờ sự nêu gương của tướng quốc Quản Trọng, mức chi tiêu công của chính phủ nước Tề vô cùng ít ỏi. Cung cách phân minh công tư của Quản Trọng đã dựng nên tấm gương sáng cho hàng ngũ quan viên, tạo dựng hình tượng vị quan thanh liêm trước mặt toàn thể bách tính.
Các nhà bình luận thời sự quốc tế nhận định, việc Quản Trọng mở kỹ viện quan phương và quang minh chính đại lui tới chốn ấy còn tốt hơn nhiều so với những tham quan ngoài mặt thì hô hào truy quét tệ nạn nhưng sau lưng lại lén lút bao nuôi tình nhân.
[Bản tin Tề Tân Xã] Kể từ khi luật hôn nhân đầu tiên do Quản Trọng chủ trì ban hành đi vào thực thi, tỷ lệ sinh tại nước Tề đã tăng vọt, giải tỏa áp lực khủng hoảng nhân khẩu của nước này.
Bản tin cho hay, từ xưa dân phong nước Tề đã phóng túng, quan hệ nam nữ hỗn loạn, tỷ lệ thông gian, giấu hôn, ly hôn và trùng hôn ở nam giới đều rất cao; trong khi tỷ lệ sảy thai, phá thai và thai chết lưu ở nữ giới cũng ở mức báo động, năm sau lại cao hơn năm trước. Trái ngược với đà sụt giảm của tỷ lệ tăng dân số, tỷ lệ sảy thai lại leo thang không ngừng, tới mức có chuyên gia kiến nghị đổi khoa sản trong y quán nước Tề thành khoa phá thai. Tất thảy những điều ấy khiến tỷ lệ sinh của nước Tề suy giảm nghiêm trọng, hiện tượng già hóa dân số gia tăng, chất lượng nhân khẩu kém cỏi, khiến công cuộc xây dựng kinh tế, văn hóa và quốc phòng nước Tề đứng trước nguy cơ thiếu hụt nhân lực kế cận.
Quản Trọng nhận định tài nguyên con người là nguồn tài nguyên hàng đầu của quốc gia; số lượng ít ỏi cùng chất lượng thấp kém đã trở thành nút thắt lớn nhất kìm hãm sự phát triển của nước Tề. Hắn quyết định ban hành luật hôn nhân nhằm ước thúc hành vi cưới gả của dân chúng, nghiêm cấm các hành vi loạn luân, buông thả, đồng thời khuyến khích sinh đẻ. Luật hôn nhân nước Tề quy định, nam tử ly hôn ba lần sẽ bị tước quốc tịch; nữ tử ly hôn ba lần sẽ bị nhốt vào kho lương quốc gia chịu phạt giã gạo để cải tạo lao động. Nam tử trước hai mươi tuổi bắt buộc phải thành thân, nữ tử trước mười lăm tuổi bắt buộc phải xuất giá, những ai quá lứa lỡ thì đều bị ghi tên vào sổ đen của quốc gia; đối với những kẻ ngoan cố không chịu kết hôn, tất thảy đều bị đày ra biên cương sung quân, trước khi đi còn bị khắc chữ “Ế” lên mặt.
Luật hôn nhân còn quy định, trong trường hợp cần thiết sẽ điều động nguồn dự trữ mẫu thân trung ương —— tức cung nữ. Quản Trọng đề xuất phóng thích toàn bộ cung nữ chưa từng được lâm hạnh ra ngoài để lấy chồng, nhằm chi viện cho việc tăng dân số ở các địa phương, giúp chính quyền sở tại hoàn thành chỉ tiêu sinh sản.
Sau khi luật hôn nhân được ban bố và thực thi, tỷ lệ ly hôn và sảy thai tại nước Tề giảm mạnh, dân số tăng trưởng nhanh chóng, diện mạo một đại quốc về tài nguyên nhân lực đã dần thành hình.
[Phỏng vấn độc quyền]
Quản Trọng tự tiết lộ tình bạn cách mạng với Bào Thúc Nha
[Bản tin Sở Liên Xã] Có người từng khái quát cuộc đời Quản Trọng bằng hai câu: Phò Hoàn công nhất khuông thiên hạ, kết Thúc Nha vạn cổ cao phong. Quản Trọng phò tá Tề Hoàn công trở thành đệ nhất bá chủ thời Xuân Thu, còn bản thân hắn được xưng tụng là đệ nhất tướng quốc thời Xuân Thu. Một nhân vật được người đời công nhận là kỳ tài thiên hạ, rường cột quốc gia như Quản Trọng rốt cuộc đã được Tề Hoàn công trọng dụng ra sao? Tình bằng hữu giữa Quản Trọng và Bào Thúc Nha mà người đời ca tụng rốt cuộc là thứ thâm tình thế nào? Mới đây, phóng viên Sở Liên Xã mang theo hai thắc mắc ấy, đã có chuyến phỏng vấn độc quyền Tướng quốc nước Tề —— Quản Trọng.
Trong buổi phỏng vấn, Quản Trọng đã cởi mở giãi bày, kể lại những chuyện xưa cũ.
Theo lời Quản tiên sinh, tổ tiên hắn vốn mang họ Cơ, cùng tông tộc với vương thất nhà Chu, là hậu duệ của Chu Mục vương. Phụ thân hắn là Quản Trang, từng giữ chức đại thần nước Tề, làm quan thanh liêm, về sau gia đạo sa sút. Khi Quản Trọng chào đời, trong nhà chỉ còn bốn bức tường xiêu vẹo. Lên vài tuổi thì phụ thân qua đời, mẫu thân tuổi tác đã cao, gia cảnh khốn khó, phải sống nhờ trợ cấp và nương náu trong gian nhà thuê tồi tàn. Con nhà nghèo sớm lo việc nhà, Quản Trọng thuở nhỏ đã phải gánh vác việc gia đình.
Để mưu sinh, hắn cùng Bào Thúc Nha dấn thân buôn bán, bôn ba khắp nơi, tiếp xúc với đủ hạng người, trải nghiệm nhiều cảnh đời, từ đó tích lũy được vốn sống xã hội phong phú. Hắn từng làm lính đặc chủng, từng tham gia chiến tranh tiễu trừ phản nghịch, cũng từng muốn thi cử làm quan, nhưng đều chẳng thành.
Quản Trọng kể, năm xưa Tề Hi công tạ thế để lại ba người con: Thái tử Chư Nhi, Công tử Củ và Công tử Tiểu Bạch. Sau khi Tề Hi công băng hà, ngôi vị truyền cho Thái tử Chư Nhi, chính là Tề Tương công lừng danh hoang đường tột bực.
Thời Tề Hi công còn tại vị, ngài mời Quản Trọng và Bào Thúc Nha làm thầy dạy kèm cho các con, lần lượt phụ đạo cho Công tử Củ và Công tử Tiểu Bạch. Ban đầu Bào Thúc Nha không mấy xem trọng Tiểu Bạch, chẳng mặn mà với việc dạy dỗ vì chê tư chất học trò không tốt, bèn thường cáo bệnh không tới dạy, cũng chẳng giao bài. Quản Trọng biết chuyện, liền khuyên nhủ: “Bào huynh à, không có học trò không dạy được, chỉ có người thầy không biết dạy. Đừng cho rằng cùng làm thầy mà học trò của huynh lại kém học trò của đệ. Tiểu Bạch tuy không thông minh bằng Công tử Củ, tính khí lại nóng nảy, là đứa trẻ khó bảo, nhưng đứa nhỏ này chí hướng rất lớn, nhìn nhận vấn đề sâu xa. Sau này người nắm giữ thiên hạ rất có thể là Tiểu Bạch chứ không phải Công tử Củ đâu.”
Bào Thúc Nha nghe theo lời khuyên của Quản Trọng, nhận chức vụ và dốc lòng phò tá Công tử Tiểu Bạch, đem hết tinh thần trách nhiệm và lòng kiên nhẫn để uốn nắn học trò kém cỏi. Về sau Công tử Tiểu Bạch tiến bộ vượt bậc, cuối cùng quả nhiên lên làm vua nước Tề, lấy danh hiệu là Tề Hoàn công.
Sau khi Tề Hoàn công tức vị, định mời Bào Thúc Nha làm tướng quốc, nhưng Bào Thúc Nha lại tiến cử Quản Trọng. Tề Hoàn công cự tuyệt, nói rằng năm xưa Quản Trọng phò tá Công tử Củ, cản đường ngài về nước tranh ngôi, lại còn bắn tên mưu sát ngài, nên vẫn coi Quản Trọng là kẻ thù không đội trời chung.
Bào Thúc Nha ra sức khuyên can Tề Hoàn công phải bỏ qua hiềm khích cũ, biến thù thành bạn, đồng thời giải thích rằng năm xưa Quản Trọng bắn ngài là do nhận mệnh lệnh từ Công tử Củ, nay nếu xá tội và trao trọng trách, hắn ắt sẽ đem lòng trung thành phụng sự nước Tề như từng phụng sự Công tử Củ.
Trước lời khuyên của Bào Thúc Nha, Hoàn công quyết định tha chết cho Quản Trọng. Khi ấy Quản Trọng và Công tử Củ đang lưu vong ở nước Lỗ. Trước sức ép của Hoàn công, nước Lỗ đã giết Công tử Củ, bắt giam Quản Trọng rồi giải về giao cho Tề Hoàn công định đoạt.
Quản Trọng nơm nớp lo sợ trên đường về Tề, được Bào Thúc Nha đích thân đến tận Đường Phụ nơi biên cảnh đón tiếp, bạn cũ gặp nhau xiết bao mừng rỡ. Bào Thúc Nha lập tức hạ lệnh mở xe tù, tháo bỏ gông cùm, bảo Quản Trọng tắm gội thay y phục để chuẩn bị bái kiến Hoàn công.
Khi ấy Quản Trọng có phần ngượng ngùng, tự thấy mình phò tá Công tử Củ mà không giúp người giành được ngôi vị, lại chẳng thể tuẫn tiết tận trung, trong lòng vô cùng hổ thẹn. Nay lại quay sang phụng sự kẻ thù, e rằng sẽ trở thành trò cười cho thiên hạ.
Bào Thúc Nha trách Quản Trọng là kẻ sáng suốt mà lại nói lời hồ đồ, đến lúc then chốt lại hoá ra ngây ngô khờ khạo. Bào Thúc Nha chỉ rõ: Kẻ làm việc lớn không câu nệ tiểu tiết, người lập đại công chẳng ngại điều tiếng thị phi. Y bảo Quản Trọng rằng hắn có tài trị quốc, Hoàn công có chí xưng bá, nếu hắn phò tá Hoàn công thì sau này ắt công trùm thiên hạ, đức rạng bốn phương.
Cứ thế, dưới sự dẫn dắt của Bào Thúc Nha, Quản Trọng vào bái kiến Hoàn công. Hoàn công lập tức bái hắn làm Tướng quốc nước Tề, kiêm coi việc quân cơ quốc phòng.
Nhắc đến tình bạn Quản Bào, Quản Trọng xúc động nói, thuở hàn vi cùng nhau đi buôn, hễ kiếm được tiền, Quản Trọng luôn chia cho mình phần hơn, chia cho Bào Thúc Nha phần kém. Thế nhưng Bào Thúc Nha chẳng bao giờ so đo. Người ngoài đàm tiếu sau lưng, bảo Quản Trọng tham lam, không trọn nghĩa bạn bè, Bào Thúc Nha nghe được liền ra mặt giải thích, bảo Quản Trọng không phải hạng bất nghĩa, hắn lấy phần hơn là vì cảnh nhà quá đỗi bần hàn. Ba lần Quản Trọng ra trận đều đào ngũ bỏ chạy, người đời chế giễu gọi hắn là “Quản chạy trốn”, mắng hắn tham sống sợ chết. Bào Thúc Nha nghe tiếng chê cười, thấu rõ đó chẳng phải bản tính của Quản Trọng, bèn giải thích với mọi người rằng Quản Trọng không sợ chết, chỉ vì trong nhà còn mẹ già dựa vào một mình hắn phụng dưỡng, hắn vạn bất đắc dĩ mới làm vậy, tuyệt đối không phải cố tình tháo chạy. Tấm lòng của Bào Thúc Nha khiến Quản Trọng vô cùng cảm kích. Quản Trọng từng nhiều lần muốn làm điều tốt cho Bào Thúc Nha, ngặt nỗi lần nào cũng hỏng, chẳng những không thành mà còn chuốc thêm rắc rối cho bạn. Bởi thế, người đời đều chê Quản Trọng bất tài, nhu nhược vô dụng, duy chỉ có Bào Thúc Nha xem hắn là bậc kỳ tài giấu kín. Bào thúc hiểu rõ Quản Trọng chưa thành công là do thời vận chưa tới. Trước kia Quản Trọng mấy lần ra làm quan đều bị bãi chức, Bào Thúc Nha cũng chẳng cho rằng hắn là kẻ vô năng, mà bảo do hắn chưa gặp đúng thời thế.
Cuối cùng, Quản Trọng cảm thán: “Sinh ra ta là cha mẹ, hiểu được ta chỉ có Bào thúc, ta cùng Bào Thúc Nha thực là tri kỷ muôn đời.”
[Ghi chép của phóng viên]
Tình bạn là gì? Tình bằng hữu Quản Bào chính là minh chứng rõ ràng nhất. Điển tích Quản Bào cho thấy một tình bạn chân chính phải hội đủ ba điều: Thấu hiểu, bao dung và tin tưởng. Sự thấu hiểu của Bào Thúc Nha dành cho Quản Trọng vượt xa người thường, có thể gọi là tri kỷ tận đáy lòng; y hiểu cảnh ngộ, hiểu phẩm tính và đặc biệt hiểu rõ tài học của Quản Trọng. Đồng thời, trước những lầm lỡ, sơ suất và thất bại của Quản Trọng, Bào Thúc Nha luôn biết đặt mình vào vị trí của bạn để cảm thông và tha thứ. Ngoài ra, Bào Thúc Nha trước sau luôn trọn niềm tin nơi Quản Trọng, tin rằng hắn đủ năng lực và nghị lực để trị vì đất nước, giúp Hoàn công bước lên ngôi vị bá chủ Xuân Thu. Ơn tri ngộ và phẩm cách khoan hậu của Bào Thúc Nha đã biến tình bạn Quản Bào thành mối giao tình keo sơn gắn bó lưu danh thiên cổ. Tài hoa rực rỡ của Quản Trọng kết hợp hoàn mỹ cùng mỹ đức muôn đời của Bào Thúc Nha đã dệt nên một giai thoại đẹp lưu truyền vạn thế.
Tựu trung lại, tình bạn là sự giao cảm của tâm hồn, là sẻ chia tình cảm, là quan tâm vô tư, là niềm tin son sắt, là lời can gián thẳng thắn và sự khích lệ chân thành. Đó là sự cùng nhau theo đuổi lý tưởng, hợp tác chân thành trên con đường lớn, tương trợ lẫn nhau khi hoạn nạn, là lời ước hẹn thiêng liêng trên đường đời. Tình bạn chân chính đủ sức soi sáng nghìn thu, làm lay động lòng người muôn đời. Mối thâm tình Quản Bào quả thực xứng danh tình bạn đích thực.
[Tiêu điểm thời sự]
Chiến thần Quản Trọng, trăm trận trăm thắng
[Bản tin Lộ Đầu Xã] Quỷ Khấp cốc chôn vùi quân Yến, khiến tướng sĩ nước Tề kinh hồn bạt vía.
Được biết, tháng trước, man tộc Sơn Nhung phương Bắc ngang nhiên cất quân đánh Yến. Quân chủ nước Yến thân chinh dẫn hai vạn tướng sĩ nghênh chiến, chẳng ngờ lại trúng mai phục của thủ lĩnh Sơn Nhung là Mật Lư tại Quỷ Khấp cốc. Quân Yến thảm bại, vứt giáp bỏ chạy, sau cùng chỉ còn một nghìn người thoát thân. Sơn Nhung thừa thắng truy kích, liên tiếp hạ ba thành của nước Yến.
Giang sơn nước Yến ngả nghiêng như cánh bèo trước gió, vận nước nguy ngập trong sớm tối. Yến Trang công hốt hoảng sai sứ cầu viện nước Tề. Tề Hoàn công lập tức nhận lời xuất binh, cùng Tổng tư lệnh Quản Trọng thống lĩnh năm vạn đại quân tiến sang ứng cứu.
Nước Vô Chung cũng phái đại tướng Hổ Nhi Ban dẫn hai nghìn binh sĩ tới trợ chiến. Quản Trọng phong Hổ Nhi Ban làm tiên phong tướng quân. Hổ Nhi Ban một mạch thu phục lại ba thành đã mất của nước Yến, song khi đánh tới địa danh Lý Cương thì chùn bước không dám tiến lên. Hắn bẩm báo với Quản Trọng rằng phía trước chính là Quỷ Khấp cốc, nơi non cao vực thẳm, vách đá chọc trời, tin tức mới nhất cho thấy quân Sơn Nhung đang mai phục tại đó, hai vạn đại quân nước Yến năm xưa chính là vùi thây tại chốn này!
[Bản tin Lộ Đầu Xã] Quản Trọng dùng đội quân người gỗ đối phó với vũ khí hủy diệt quy mô lớn của quân Sơn Nhung, đánh tan quân địch, vượt qua Quỷ Khấp cốc.
Đồng minh Hổ Nhi Ban không dám vượt Quỷ Khấp cốc, nhưng Quản Trọng dọc đường hành quân đã sớm định sẵn diệu kế. Hắn lệnh cho Hổ Nhi Ban đi sau đoạn hậu, rồi giơ lệnh bài sai hai tướng Thành Phụ và Triệu Xuyên của nước Tề dẫn quân tiên phong làm theo kế sách, đồng thời lệnh cho toàn thể tướng sĩ nước Tề chuẩn bị sẵn sàng vượt qua Quỷ Khấp cốc!
Thành Phụ và Triệu Xuyên nhận lệnh bài, lập tức thúc chiến xa xuất kích.
Ngày 16 tháng này, trời vừa hửng sáng, đội thiết xa nước Tề tiến vào Quỷ Khấp cốc. Miệng ngựa kéo xe đều bị rọ sắt bọc kín, bánh xe quấn vải gai để giảm thiểu tiếng động. Tướng sĩ trên xe đều mặc giáp trụ, tay cầm trường mâu, trông vô cùng dũng mãnh, chiến kỳ tung bay phần phật trong gió.
Bấy giờ, thủ lĩnh Sơn Nhung là Mật Lư phất cờ vàng xuất hiện trên đỉnh núi Quỷ Khấp cốc. Người này lưng gấu vai hổ, mũi ưng mắt cắt, thấy quân Tề đã lọt vào trận địa mai phục liền vung cờ lệnh, hô hào đại quân Sơn Nhung dốc toàn lực tấn công.
Quân Sơn Nhung tung ra vũ khí sát thương quy mô lớn gồm tên độc và đá tảng. Đứng từ trên cao, chúng bắn tên như mưa trút xuống đầu quân Tề, rồi lại xô từng tảng đá lớn lăn ầm ầm xuống trận địa, đè bẹp các chiến xa, bẻ gãy hàng ngũ thiết xa của nước Tề.
Mật Lư thấy vũ khí phát huy uy lực ghê gớm thì đắc ý vô cùng, vung lang nha bổng dẫn quân từ trên núi lao xuống định quét sạch chiến trường. Hắn xông tới trước mặt một viên tướng Tề trúng vô số mũi tên nhưng vẫn đứng sừng sững không ngã, liền vung lang nha bổng giáng mạnh vào đầu đối phương. Một tiếng “cốp” vang lên, mũ giáp rơi xuống, Mật Lư trố mắt nhìn, hóa ra bên dưới lớp giáp phục chỉ là một khúc gỗ! Mật Lư bấy giờ mới vỡ lẽ quân Tề sử dụng người gỗ, kêu lớn trúng kế Quản Trọng.
Lúc này tiếng trống trận vang rền, Mật Lư giật mình quay đầu lại, chỉ thấy hai đại tướng Thành Phụ, Triệu Xuyên của Tề dẫn quân ào ạt ập tới. Mật Lư chưa kịp định thần thì tên từ chiến xa nước Tề đã bắn ra như mưa. Do quân Sơn Nhung không có hệ thống phòng thủ cung tiễn, thủ lĩnh Mật Lư trúng tên ngã ngựa, một viên tướng dưới quyền vội liều mình xông vào vòng vây cướp lấy Mật Lư đang trọng thương, rồi tháo chạy về bộ tộc Cô Trúc.
[Bản tin Lộ Đầu Xã] Quân Tề bị địch dụ vào sa mạc, suýt nữa toàn quân bị diệt, Quản Trọng hiến kế lạ cứu nguy cho đại quân.
Người thạo tin cho biết, sau khi Mật Lư chạy trốn tới nước Cô Trúc, Quản Trọng liền áp dụng chiến lược truy kích liên tục và thọc sâu thấu suốt, hạ lệnh cho quân Tề thừa thắng vây chặt nước Cô Trúc.
Nước Cô Trúc phái người trá hàng sang quân Tề, phao tin rằng quốc quân Cô Trúc đã bỏ thành trốn vào sa mạc.
Tề Hoàn công cho hàng tướng dẫn đường tiên phong, dẫn quân đuổi theo.
Ngày 21 tháng này, hàng tướng nước Cô Trúc dẫn đại quân Tề lọt vào giữa sa mạc mênh mông rồi thừa lúc đêm tối lén trốn mất. Bấy giờ trời đã nhá nhem, trông ra bốn bề chỉ thấy biển cát vô tận, gió lốc cuộn cát mịt mù, khí lạnh thấu xương, quân Tề trước sau mất liên lạc. Tề Hoàn công nhất thời luống cuống, vội hỏi Quản Trọng kế sách giải vây. Quản Trọng vuốt râu trầm ngâm, đoạn hạ lệnh cho đội cận vệ khua chiêng gõ trống vang dội để binh sĩ nơi xa nghe tiếng mà tìm về tụ hội đóng trại một chỗ.
Ráng gượng tới lúc trời sáng, sa mạc nắng gắt như thiêu như đốt, cát vàng mênh mông chẳng phân biệt nổi phương hướng, tướng sĩ thảy đều lo lắng khôn xiết. Quản Trọng thấy vậy chợt nảy ra sáng kiến, thưa với Hoàn công: “Thần nghe nói ‘ngựa già biết đường’, ngựa nước Yến phần nhiều sinh ra ở Mạc Bắc, ắt quen thuộc đường sá nơi đây. Chúa công thử sai người chọn vài thớt ngựa già thả đi trước, họa chăng chúng có thể dẫn đường cho chúng ta thoát hiểm.”
Hoàn công nghe theo, truyền đem mấy thớt ngựa già bản địa thả ra dẫn đường, đại quân theo sát phía sau, quả nhiên tìm được lối ra khỏi vùng đất hiểm.
Câu nói “ngựa già biết đường” của Quản Trọng đã cứu cả đại quân Tề. Tin tức truyền về nước, dân chúng hò reo vui mừng, câu nói ấy lập tức trở thành câu thành ngữ phổ biến nhất trong năm của nước Tề.
[Bản tin Lộ Đầu Xã] Nghệ thuật dụng binh của Quản Trọng đạt tới độ xuất quỷ nhập thần, một mồi diệt gọn nước Cô Trúc.
Theo truyền thông nước Tề tiết lộ, quốc quân Cô Trúc thấy quân Tề bị dụ vào sa mạc, liền đem binh đánh chiếm thành Vô Đệ của nước Yến, đuổi lính Yến giữ thành đi. Quản Trọng thấy vậy liền nảy ra diệu kế, lệnh cho một toán dũng sĩ cải trang thành dân thường trà trộn vào trong thành, hẹn nửa đêm đốt lửa làm hiệu. Sau đó chia quân làm ba cánh đánh vào ba cửa đông, nam, tây của thành Vô Đệ, chừa lại cửa bắc cho địch tháo chạy, đồng thời sai Thành Phụ dẫn quân mai phục ngoài cửa bắc. Đêm ấy, nội ứng của quân Tề mở toang cổng thành cho đại quân tràn vào. Quân chủ Cô Trúc thấy thế nguy bèn cắm đầu tháo chạy về hướng bắc, vừa lao ra khỏi cửa thành đã bị phục binh của Thành Phụ chặn đánh. Hai bên giáp lá cà, quân chủ Cô Trúc bỏ mạng giữa đám loạn quân.
Tề Hoàn công diệt xong nước Cô Trúc, mở rộng bờ cõi năm trăm dặm, đem toàn bộ đất đai ấy trao trả cho Yến Trang công. Chư hầu bốn phương không ai là không nể sợ uy danh và cảm phục ân đức của nước Tề.
[Thời sự trực tuyến]
Một chiến dịch vận hành thành công của Công ty Bá nghiệp nước Tề
[Bản tin Tề Tân Xã] Công ty Bá nghiệp nước Tề chính thức thành lập Ban dự án “Chiến dịch tiêu diệt Lai Di”. Vừa qua, bộ phận tuyên truyền của Công ty Bá nghiệp nước Tề đã ra thông cáo về việc thành lập dự án này.
Thông cáo như sau ——
Tên dự án: Chiến dịch tiêu diệt Lai Di
Giám đốc dự án: Quản Trọng
Thành viên ban dự án: Bào Thúc Nha, Ninh Thích, Thấp Bằng, Tân Tu Vô, Dịch Nha.
Ngân sách dự án: Bốn vạn hai nghìn lượng vàng
Nghiệm thu dự án: Tề Hoàn công
Kết quả nghiệm thu: Xuất sắc
[Bản tin Tề Tân Xã] Hôm trước, bộ phận tuyên truyền Công ty Bá nghiệp nước Tề đã công bố tình hình vận hành dự án “Chiến dịch tiêu diệt Lai Di”.
Trước trận đánh, Quản Trọng tổ chức một cuộc thao diễn lớn, mời Tề Hoàn công, Bào Thúc Nha, Ninh Thích, Thấp Bằng, Tân Tu Vô, Dịch Nha an tọa trên lễ đài thị sát.
Tướng sĩ xếp thành các phương trận tề chỉnh, thanh thế ngút trời.
Quản Trọng đích thân gióng trống, đoạn chỉ vào chiếc hòm lớn đặt trước đài nói rằng nơi đây chứa bốn vạn hai nghìn lượng vàng, tương đương toàn bộ ngân sách một năm của nước Tề, nay sẽ đem toàn bộ làm tiền thưởng ban cho các tướng sĩ dũng cảm giết giặc trong trận chiến sắp tới.
Nghe tin Tướng quốc Quản Trọng phát lượng tiền thưởng lớn đến vậy, ba quân tướng sĩ vô cùng phấn khích, tiếng reo hò vang dậy như sấm rền.
Quản Trọng lại gióng lên một hồi trống, truyền: “Quân địch có một nghìn tên, kẻ nào đi đầu xông phá trận địa, đánh tan quân giặc sẽ được thưởng một trăm lượng vàng.”
Dứt lời, một binh sĩ tuốt kiếm bước ra thưa: “Thần làm được!”
Quản Trọng ghi tên người ấy lại rồi bảo: “Nếu quả thật làm được, sau trận đánh cứ tới lĩnh thưởng.”
Quản Trọng lại gióng trống lần nữa, truyền: “Hai quân giao chiến, kẻ nào bắt sống tốt trưởng của địch sẽ được thưởng một trăm lượng vàng.”
Lại có một binh sĩ tuốt kiếm bước ra nhận lời.
Quản Trọng liền ghi lại họ tên, bảo nếu làm được thì sau trận tới lĩnh thưởng.
Quản Trọng gióng trống lần thứ tư, truyền: “Hai bên đối trận, kẻ nào chém được thủ cấp chủ tướng của địch sẽ được thưởng một nghìn lượng vàng.”
Lúc này có mười người đồng thanh xin nhận, Quản Trọng ghi lại danh tính tất cả, căn dặn tới lúc đó ai làm được sẽ ban thưởng một nghìn lượng vàng.
Sau cùng, Quản Trọng tuyên bố dự án này áp dụng phương thức định lượng công trạng và trả lương theo hiệu quả, tiền thưởng phát dựa trên số lượng quân địch tiêu diệt được, làm nhiều hưởng nhiều, tính theo đầu người: Cứ giết một tên địch thưởng mười lượng vàng. Tổng ngân sách dự án là bốn vạn hai nghìn lượng vàng.
Thấy Quản Trọng đem toàn bộ ngân khố quốc gia ra phát thưởng, Tề Hoàn công có phần tiếc của. Quản Trọng bèn thưa với Hoàn công rằng vàng ròng khó mua lòng dũng cảm của tướng sĩ, có trọng thưởng ắt có dũng phu, không ban thưởng hậu hĩnh thì lấy đâu ra kẻ liều mình! Đợi khi đánh bại giặc, chiếm lấy bờ cõi rộng lớn của chúng, riêng tiền tô đất thu về sẽ vượt xa bốn vạn hai nghìn lượng vàng này. Ta đang làm đại sự, chút kinh phí cỏn con này có gì đáng tiếc.
Tề Hoàn công rốt cuộc bằng lòng với phương hướng vận hành dự án do Quản Trọng đề ra.
Sau đó, Quản Trọng triệu tập cuộc họp ban dự án, yêu cầu các tướng lĩnh cấp cao phải đối đãi lễ độ với binh sĩ: Khi giáo úy tiền tuyến tới gặp, phải hạ mình bước xuống hai bậc thềm đón rước; binh sĩ nào còn cha mẹ ở nhà thì thưởng bốn gánh rượu bốn hũ thịt; kẻ không còn cha mẹ thì thưởng cho vợ con ba gánh rượu ba hũ thịt. Quản Trọng yêu cầu bộ phận tuyên truyền phổ biến quy định này đến toàn thể nhân lực tham gia dự án, nhất là đội ngũ trực tiếp chiến đấu.
[Bản tin Tề Tân Xã] Sáng nay, Công ty Bá nghiệp nước Tề đã tổ chức buổi họp báo, người phát ngôn bộ phận quan hệ công chúng đã trình bày quá trình thực thi chiến dịch tiêu diệt Lai Di.
Người phát ngôn cho hay, khi quân Lai Di vừa giáp mặt quân Tề, khí thế quân Tề quá đỗi ngút trời, tiếng bước chân, tiếng hò reo, tiếng chiêng trống vang rền chấn động non sông, khiến quân Lai Di nghe thấy hồn xiêu phách lạc, tan vỡ tháo chạy. Quân Tề thừa thắng truy kích như chẻ tre, không gì cản nổi, quét sạch bờ cõi Lai Di như nước lũ tràn bờ, chẳng tốn một hòn tên mũi đạn mà bình định toàn cõi.
Chiến sự khép lại, dự án hoàn thành, Tề Hoàn công đích thân tới nghiệm thu và đánh giá kết quả đạt loại xuất sắc.
Giới truyền thông bình luận rằng dự án tiêu diệt Lai Di do Quản Trọng chủ trì sở dĩ giành toàn thắng theo kiểu “không đánh mà khuất phục được người”, nguyên nhân cốt yếu nhất chính là nhờ áp dụng chế độ khen thưởng và khích lệ vật chất đích đáng.
[Góc nhìn kinh tế]
Quản Trọng dùng chiến tranh thương mại đánh bại nước Lỗ
[Bản tin Sở Liên Xã] Không cần phát động cỗ máy chiến tranh, chẳng hao tổn một binh một tốt, Quản Trọng vẫn có thể biến nước Lỗ hùng mạnh thành phiên thuộc của nước Tề. Quản Trọng đã thực hiện điều đó ra sao? Xin mời theo dõi phóng sự chuyên sâu của Sở Liên Xã ——
Trong trận Trường Thược giữa Tề và Lỗ, quân Tề bị đại tướng Tào Quệ của nước Lỗ đánh cho đại bại. Để rửa mối nhục quốc thể, Quản Trọng hiến kế cho Tề Hoàn công dùng thủ đoạn kinh tế để làm sụp đổ nước Lỗ.
Tề Hoàn công từng bảo với Quản Trọng rằng khi xưa nước Lỗ từng ngăn cản ngài về nước kế vị, nay nước Lỗ lại là đối thủ cạnh tranh lớn nhất và là mối đe dọa tiềm tàng của nước Tề, bởi vậy ngài căm ghét nước Lỗ nhất, muốn biến Lỗ thành đất chư hầu phụ thuộc của Tề. Song nước Lỗ vốn là quốc gia chuộng võ, thi hành chính sách quân sự đi đầu, muốn dùng vũ lực đánh bại họ là điều muôn vàn khó khăn, trận Trường Thược chính là minh chứng. Dùng biện pháp đàm phán lại càng không xong, bởi đối phương căn bản chẳng chịu hòa đàm. Tề Hoàn công rối bời trong lòng, bèn hỏi Quản Trọng đối sách phá địch.
Quản Trọng thưa: “Đối phó với nước hiếu võ, chớ nên dùng vũ lực. Dùng vũ lực dẫu đối phương có thần phục thì cái giá ta phải trả cũng vô cùng to lớn, tổn phí quá cao. Huống chi dẫu trả giá đắt đỏ, đối phương chưa chắc đã chịu cúi đầu. Thắng địch bằng binh đao là hạ sách, thắng bằng mưu trí mới là thượng sách. Ta có thể dùng mưu lược kinh tế kéo sụp đối phương, dùng sức mạnh tiền tệ đánh bại quân thù. Nước Lỗ dân đông, thích hợp phát triển các ngành cần nhiều nhân công như dệt lụa. Xin chúa công đi đầu mặc y phục bằng vải đề của nước Lỗ, rồi bảo quần thần cũng mặc theo, từ đó dẫn dắt bách tính cả nước đổ xô đi mua lụa Lỗ, tốt nhất là khiến toàn bộ y phục của người Tề đều nhập từ nước Lỗ, biến Tề thành thị trường tiêu thụ vải vóc lớn nhất của Lỗ. Người Lỗ thấy dệt vải kiếm được món hời lớn thì nông dân Lỗ sẽ bỏ đồng ruộng mà theo nghề dệt, lũ lượt kéo nhau vào thành thị làm thợ, nông nghiệp ắt phải hoang phế. Nông nghiệp là gốc rễ quốc gia, nông nghiệp Lỗ sụp đổ thì nước Lỗ há có thể đứng vững? Nước Lỗ suy vi tự khắc phải cầu xin nước Tề che chở, đến lúc ấy ta lấy danh nghĩa bảo hộ mà đóng quân tại Lỗ, chẳng phải nước Lỗ sẽ trở thành phiên thuộc của ta sao?”
Tề Hoàn công nhận thấy Quản Trọng là bậc cao nhân, lời hắn nói ắt là cao kiến, bèn đi đầu mặc áo vải đề do nước Lỗ dệt, rồi kéo theo toàn thể bách tính cùng mặc đồ Lỗ.
Trước đó, nam nhân nước Tề chuộng mặc y phục nước Hàn, phong trào chuộng đồ Hàn lan khắp giới mày râu nước Tề. Nữ nhân nước Tề lại thích mặc đồ nước Tần. Kể từ khi Tề Hoàn công đổi sang mặc đồ Lỗ, do sức ảnh hưởng của ngài quá lớn, người theo gót đông đảo, dân chúng cả nước không phân biệt nam nữ đều nhất loạt đổi sang mặc y phục nước Lỗ. Trong chốc lát, phong trào chuộng đồ Lỗ lan rộng khắp cõi nước Tề.
Cùng lúc đó, Quản Trọng đích thân sang nước Lỗ làm công tác vận động. Trong buổi tiệc chiêu đãi và tọa đàm công thương nghiệp do nước Lỗ tổ chức, Quản Trọng phát biểu rằng bách tính nước Tề vô cùng say mê y phục nước Lỗ, cho đó là hợp thời trang, tân tiến. Ngoài ra, nước Lỗ nhân công dồi dào, giá công rẻ mạt nên giá thành sản phẩm rất thấp, sức cạnh tranh mạnh mẽ. Nếu nước Lỗ sản xuất số lượng lớn, nước Tề sẵn sàng thu mua toàn bộ. Nước Tề nguyện ký hiệp định thương mại tự do với nước Lỗ, miễn thuế quan cho y phục xuất khẩu của Lỗ, dành cho Lỗ quy chế tối huệ quốc. Quản Trọng cam kết nước Tề sẽ là thị trường vĩnh viễn cho ngành dệt lụa nước Lỗ; chỉ cần Lỗ ra sức phát triển ngành dệt may thành trụ cột quốc gia thì chẳng bao lâu nữa nước Lỗ sẽ giàu mạnh, chính phủ không cần thu thuế nông nghiệp của dân, gánh nặng của bách tính nước Lỗ sẽ được giảm thiểu tối đa.
Lời lẽ của Quản Trọng làm xiêu lòng Lỗ Trang công. Chính phủ nước Lỗ thấy nguồn thu chênh lệch từ xuất khẩu vải vóc quá lớn bèn dốc toàn lực thúc đẩy nghề dệt phát triển.
Một năm sau, Quản Trọng phái người sang nước Lỗ thị sát, thấy khắp nơi trên đất Lỗ toàn là xưởng dệt, khói bụi ô nhiễm mịt mù, sông ngòi chứa đầy nước thải, đường sá ngập tràn rác phế thải. Đồng ruộng bỏ hoang không người cày cấy, cỏ dại mọc đầy, nông dân đều vào thành làm thợ, con trẻ không người chăm sóc bơ vơ nheo nhóc, tội phạm thiếu niên tăng gấp bội, cả một thế hệ coi như lỡ dở.
Thấy tình cảnh ấy, Quản Trọng nhận định thời cơ chuyển biến hòa bình nước Lỗ đã chín muồi. Hắn khuyên Hoàn công lập tức cởi bỏ y phục nước Lỗ, đổi sang mặc trang phục truyền thống của Tề, hạ lệnh phế bỏ hiệp định thương mại tự do với Lỗ, sai cơ quan ngôn luận nước Tề đồng loạt tung tin bất lợi về hàng hóa nước Lỗ, đồng thời đóng cửa khẩu không cho nhập khẩu vải vóc của Lỗ nữa. Nền kinh tế nước Lỗ vốn phụ thuộc hoàn toàn vào xuất khẩu, một khi nước khác không mua hàng thì lập tức sụp đổ. Nước Tề ngừng nhập khẩu khiến lượng lớn vải đề tồn đọng trong các xưởng dệt nước Lỗ chỉ sau một đêm liền biến thành đống giẻ vụn vô giá trị.
Mười tháng sau, Quản Trọng lại sai người sang Lỗ dò la, thấy nông nghiệp nước Lỗ đã tan hoang, ngành dệt cũng tê liệt, hoàn cảnh bị tàn phá nặng nề, bách tính vừa thiếu ăn vừa mất kế sinh nhai. Nước Lỗ rơi vào cơn khủng hoảng lương thực và nạn thất nghiệp trầm trọng, buộc phải mua lương thực với giá cắt cổ. Nước Tề bán lương thực cho Lỗ với giá gấp trăm lần giá thu mua trong nước, bao nhiêu của cải nước Lỗ tích lũy được trước kia đều chảy ngược về túi nước Tề; chẳng những thế, chính phủ nước Lỗ còn thâm hụt ngân khố nặng nề, sáu phần mười sản nghiệp thực tế trong nước đều bị người Tề thâu tóm.
Hai năm sau, chính phủ nước Lỗ khánh kiệt, phải xin nước Tề che chở bảo hộ phá sản, nước Lỗ chính thức biến thành chư hầu phụ thuộc của Tề. Lỗ Trang công hoàn toàn tâm phục khẩu phục Tề Hoàn công. Không lâu sau, để lấy lòng Hoàn công, Lỗ Trang công đứng ra làm mối Vương Cơ, con gái của Chu thiên tử, gả cho Tề Hoàn công. Ngày rước dâu, đoàn xe hoa của Vương Cơ dài dằng dặc như rồng lượn, gây chấn động khắp cõi. Tề Hoàn công trở thành hiền tế của Chu thiên tử, vị thế quốc tế càng thêm vững chắc. Tề Hoàn công bởi thế rất đội ơn Lỗ Trang công, hứa sẽ chung sống hòa bình với nước Lỗ, cùng nhau xây dựng xã hội hòa thuận dưới triều Chu.
[Ghi chép của phóng viên]
Phương thức tốt nhất để làm suy vong một quốc gia là khiến nó tàn lụi trong êm thấm. Quản Trọng quả nhiên là bậc đại mưu lược gia, có thể dùng thủ đoạn kinh tế để khiến nước Lỗ tự sụp đổ không kèn không trống. Vào thời Xuân Thu, ngoài Quản Trọng ra nào có ai thi triển được mưu lược biến chuyển hòa bình đến mức thần sầu như thế? Chỉ riêng điểm ấy thôi, Quản Trọng đã hoàn toàn xứng đáng với danh xưng “Xuân Thu đệ nhất tướng quốc”. Về sau, Quản Trọng đúc kết mưu lược của mình thành bộ sách “Quản Tử”, đưa ra ba mươi sáu kế về chiến tranh kinh tế làm chấn động học giới đương thời, sách vừa ra mắt đã được các bậc yếu nhân chư hầu xem như khuôn vàng thước ngọc trong việc trị quốc.
[Thời sự trực tuyến]
Quản Trọng là bậc thầy điều tiết vĩ mô với mưu trí hơn người
[Bản tin Tề Tân Xã] Quản Trọng dùng “Mưu gấm đẹp” giải quyết êm thấm ba vấn nạn lớn của nước Tề: Nạn cho vay nặng lãi tràn lan, phân hóa giàu nghèo và gánh nặng của nông dân.
Tin tức nội bộ nước Tề cho thấy nông dân Tề không có tiền đóng thuế, buộc phải vay tiền vay thóc của giới cho vay nặng lãi trong dân gian, phải gánh mức lãi suất cao ngất ngưởng, khiến kẻ nghèo càng nghèo, người giàu càng giàu, phân hóa giàu nghèo ngày càng nghiêm trọng. Quản Trọng nhận định tình trạng này nhất định phải ngăn chặn. Hắn bố trí bốn người gồm Tân Tu Vô, Thấp Bằng, Ninh Thích, Bào Thúc Nha lập thành đoàn điều tra triều đình, chia nhau đi khắp các địa phương tra xét tình hình cho vay nặng lãi rồi báo cáo lên. Bốn vị đặc sứ tra xét xong xuôi, trở về kinh đô bẩm báo: Theo kết quả điều tra, các chủ nợ trong toàn quốc đã cho hơn ba nghìn hộ dân nghèo vay tổng cộng ba vạn quan tiền và ba vạn chung lương thực.
Quản Trọng nghe xong, thấy nông dân vay nợ nhiều như thế, tiền lãi phải trả gấp bốn năm lần thuế khóa triều đình, gánh nặng quá sức nặng nề; nếu không giải quyết tận gốc ắt sẽ dẫn đến phân hóa giàu nghèo cùng cực, cuối cùng gây nguy hại cho nền an định quốc gia.
Quản Trọng định lấy gấm vóc dự trữ của triều đình ra trả nợ thay cho dân nghèo, nhưng lại không muốn xuất ra quá nhiều gấm. Vốn am hiểu thuật điều tiết vĩ mô, Quản Trọng lập tức nghĩ ra một kế: Trước tiên đẩy giá gấm lên cao, sau đó mới dùng gấm dự trữ của triều đình trả nợ cho dân; giá gấm tăng lên thì chỉ cần bỏ ra một lượng gấm rất nhỏ là có thể thanh toán hết các món nợ.
Làm sao để đẩy giá gấm lên? Quản Trọng lại hiến kế: Hắn thỉnh Tề Hoàn công ban hành chiếu chỉ, quy định rằng phàm những ai tới kinh đô dâng lễ vật cho triều đình thì lễ vật bắt buộc phải là loại gấm dệt hoa văn mỹ lệ. Chiếu lệnh vừa ban ra không lâu, gấm đẹp nước Tề trở nên khan hiếm, cung không đủ cầu, giá cả tăng vọt. Lượng gấm triều đình dự trữ tại Sạn Đài nhờ đó cũng tăng giá theo.
Kế đó, Quản Trọng bảo Tề Hoàn công hạ lệnh triệu kiến các chủ nợ và mở yến tiệc thết đãi họ. Sau tuần rượu, Hoàn công vén áo đứng dậy bảo các chủ nợ rằng: Quốc gia trăm mối tơ vò, vạn bất đắc dĩ mới sai quan lại thu thuế của nông dân. Nghe nói chư vị từng đem tiền thóc cho dân nghèo vay mượn, giúp họ hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế. Triều đình có tích trữ loại gấm hoa văn tinh xảo, mỗi sấp trị giá vạn tiền, nay muốn đem số gấm này thay dân nghèo trả nợ cho chư vị, để họ thoát khỏi cảnh nợ nần đè nặng.
Các chủ nợ đều rập đầu bái lạy thưa rằng: Quốc quân quan tâm muôn dân dường ấy, chúng thảo dân xin tình nguyện hiến tặng các văn tự nợ cho triều đình.
Hoàn công lại phán: “Như vậy sao được! Chư vị đã giúp dân nghèo nước ta mùa xuân có cái cày, mùa hạ có cái bừa, quả nhân cảm kích chư vị còn chưa có gì ban thưởng, chút lễ mọn này nếu chư vị không nhận thì lòng quả nhân sao yên.” Cứ thế, triều đình xuất ra chưa đầy ba nghìn sấp gấm dệt đã thanh toán xong toàn bộ nợ gốc lẫn lãi cho dân nghèo khắp bốn phương, xóa sạch nợ nần cho họ. Kế dùng gấm đẹp của Quản Trọng thực sự là tốn ít tiền mà giải quyết được việc lớn.
Bách tính nước Tề vô cùng đội ơn triều đình và Tề Hoàn công. Truyền thông nước Tề hết lời ca ngợi nỗ lực của Quản Trọng trong việc giảm nhẹ gánh nặng nông dân và giải quyết vấn đề nông nghiệp nông thôn, xưng tụng kế gấm đẹp của Quản Trọng đúng là cẩm nang diệu kế, vừa đẹp đẽ lại vừa tuyệt diệu!
[Bản tin Lộ Đầu Xã] Quản Trọng dùng “Mưu ngọc bích” nhẹ nhàng giải quyết bài toán kinh phí cho Tề Hoàn công khi triều kiến Chu thiên tử.
Tề Hoàn công muốn đi bái kiến Chu Hi vương nhưng ngặt nỗi không có lộ phí, bèn nhờ Quản Trọng nghĩ cách.
Quản Trọng liền khuyên Hoàn công hạ lệnh xây thành ở đất Âm Lý, yêu cầu đắp ba tầng tường thành, mở chín cửa thành. Nhân công trình ấy sai thợ ngọc đẽo gọt các tấm ngọc bích bằng đá, ngọc bích dài một thước định giá một vạn tiền, loại tám tấc định giá tám nghìn, loại bảy tấc định giá bảy nghìn. Đợi số ngọc bích hoàn thành đủ số lượng, Quản Trọng liền sang phía tây bái kiến Chu Hi vương, thưa rằng Tề Hoàn công muốn dẫn đầu nguyên thủ các nước chư hầu đến triều bái tông miếu tiên vương và xem lễ tại triều Chu, xin thiên tử hạ lệnh: Phàm chư hầu thiên hạ ai đến triều bái tông miếu tiên vương và xem lễ ở Chu thất đều bắt buộc phải mang theo cung đỏ và ngọc bích đá. Kẻ nào không mang theo cung đỏ và ngọc bích đá thì không được tham dự đại hội, đồng thời bị tước bỏ tư cách chư hầu.
Chu Hi vương chuẩn tấu.
Sau khi chiếu lệnh của Chu Hi vương ban ra, sứ giả các nước đều chở theo vàng bạc, châu ngọc, lương thực, gấm vóc lụa là đổ xô sang nước Tề tìm mua ngọc bích đá. Ngọc bích của Tề bán rất chạy, triều đình nước Tề thu về món lợi khổng lồ, đến mức tám năm liền không cần thu thuế của dân mà bách tính vẫn sung túc đủ đầy, Quản Trọng đã thực hiện được lý tưởng trị quốc “giấu của trong dân”.
Giới thạo tin nước Tề tiết lộ Quản Trọng đặc biệt coi trọng việc giấu của trong dân. Hắn từng phát biểu rằng: Người lãnh đạo thi hành vương đạo sẽ giấu của trong dân; người thi hành bá đạo sẽ giấu của nơi quyền quý; còn kẻ hôn quân thì chỉ biết vơ vét của cải nhét đầy túi riêng. Song hai hạng người sau rốt cuộc chỉ có mạng kiếm tiền mà không có mạng tiêu tiền, bởi nhân dân sớm muộn cũng sẽ tiêu diệt bọn họ.
[Bản tin Tề Tân Xã] Quản Trọng dùng “Mưu rùa quý” nhẹ nhàng giải quyết tình trạng thiếu hụt lương thực phục vụ chiến tranh.
Theo tin đưa, một người ở Bắc Quách trong lúc đào đất đã bắt được một con rùa lớn sống trăm năm, bèn đem rùa thả vào chậu lớn nuôi dưỡng. Quản Trọng biết tin, lập tức phái đặc sứ triều đình, mang theo mười cỗ xe ngựa và trăm lượng vàng đến nhà người bắt được rùa, tuyên sắc lệnh: “Nhờ ngươi bắt được rùa thần, triều đình quyết định trọng thưởng, phong quan chức tước, đồng thời ban thưởng một trăm cân vàng.” Đặc sứ bảo rằng đây là hậu duệ của hải thần Biển Đông, là rùa thần linh thiêng, bắt buộc phải giao nộp cho quốc gia; triều đình mang về sẽ đặt nuôi trên đài cao, coi như bảo vật trấn quốc. Không lâu sau, nước Tề cất quân đánh Cô Trúc. Quản Trọng hay tin có một hào phú họ Đinh tích trữ lương thực nhiều vô kể, đủ cho ba quân ăn trong năm tháng, liền triệu chủ nhà họ Đinh tới bảo: “Ta có một con rùa thần là vật báu vô giá, nay nước nhà sắp có chiến sự, cấp bách cần quân lương, ta muốn đem bảo vật này thế chấp cho ngươi để mượn số lương thảo ấy.” Họ Đinh bằng lòng dâng lương thực cho triều đình nhưng không dám nhận bảo vật, Quản Trọng ép nhận mới chịu. Người họ Đinh nhận rùa thần về, liền sửa sang nhà cửa, trải chiếu hoa cung kính phụng dưỡng.
Sau khi đánh bại Cô Trúc, Quản Trọng quyết định dùng rùa thần để quản lý tài chính. Hắn công bố cho toàn thể bách tính mức giá định sẵn cho từng bậc rùa thần: Rùa Văn Hành giá bảy nghìn lượng vàng, rùa Niên giá bốn nghìn lượng vàng, rùa Hắc Tử giá một nghìn lượng vàng. Khi quốc gia nguy nan thì đem rùa thần ra làm vật báu thế chấp, lúc thái bình thịnh trị thì để rùa thần tham gia vào việc lưu thông hàng hóa. Quản Trọng nhận định, quốc gia muốn kiểm soát thị trường, ngoài việc nắm giữ lương thực và tiền tệ, còn bắt buộc phải nắm giữ các vật báu quý hiếm. Quản Trọng nói: Một quốc gia phát triển bậc nhất thì triều đình không thể thiếu rùa quý trị giá vạn lượng vàng; quốc gia phát triển trung bình thì triều đình không thể thiếu rùa quý giá nghìn lượng vàng; quốc gia đang phát triển thì triều đình không thể thiếu rùa quý giá trăm lượng vàng. Triều đình vận dụng nguồn bảo vật dự trữ này, kết hợp cùng hiệu lệnh chính sách của quốc gia, ắt có thể giải quyết cơn nguy cấp nhất thời, đồng thời điều tiết được vật giá trên thị trường, công dụng của nó chẳng khác nào nguồn vàng dự trữ của quốc gia vậy.
