Chương 58
Chương 58: Kỹ năng ăn uống gian hiểm
Đăng ngày 27/09/2026
19
Một khối trụ thẳng tắp màu trắng, dài chừng bốn mi-li-mét, rộng một mi-li-mét, đó chính là trứng của Thổ Phong. Đầu trước của trứng đính vào vị trí đường giữa lưng, cách khá xa chân, sát gần vết đốm nâu hình thành do thức ăn trong bụng lộ ra qua lớp da; nhìn từ bên ngoài thì chẳng có điểm gì đặc biệt.
Tôi đã tận mắt chứng kiến quá trình nở của nó. Lớp vỏ mỏng vừa lột ra vẫn còn dính ở phần đuôi, nó đã cắm đầu vào đúng vị trí trứng bám lúc trước. Sinh linh này vừa mới nở, hãy còn vô cùng yếu ớt, nhưng nó đang gắng dùng chút sức lực mọn manh để khoan một lỗ vào bụng con mồi đang nằm sõng soài kia. Quả là một cảnh tượng khiến lòng người xúc động khôn xiết! Suốt cả một ngày ròng, ấu trùng chỉ dùng đôi hàm trên của mình để gánh vác công việc nặng nhọc ấy. Sang ngày thứ hai, da con mồi chùng xuống, cái đầu của kẻ sơ sinh đã chui tọt vào một vết thương tròn trịa đang rỉ máu.
Cũng sàn sàn kích thước quả trứng tôi vừa miêu tả, vóc dáng của ấu trùng chỉ dài rộng vỏn vẹn vài mi-li-mét. Thế nhưng thức ăn của ấu trùng Thổ Phong, tức ấu trùng hoa kim quy — loài kỳ tào — trung bình lại dài ba mươi mi-li-mét, rộng chín mi-li-mét, thể tích gấp sáu bảy trăm lần ấu trùng Thổ Phong vừa mới nở. Phần mông và đôi hàm trên vẫn còn cựa quậy được của con mồi ắt hẳn sẽ khiến những sinh linh bé bỏng vừa chào đời phải khiếp đảm, may sao mũi kim độc của ong mẹ đã gạt bỏ mọi hiểm họa tiềm tàng cho chúng. Nhờ vậy, con sâu non yếu ớt có thể không chút ngần ngại mà bắt đầu ngấu nghiến bụng của kẻ khổng lồ, trông chẳng khác nào một đứa trẻ đang bú sữa mẹ.
Đầu của ấu trùng Thổ Phong càng lúc càng rúc sâu vào bụng kỳ tào, nửa thân trước của nó cũng theo đó mà dài ngoẵng ra, thoạt nhìn hệt như một dải lụa; sở dĩ biến đổi như vậy là để luồn sâu vào cái lỗ hẹp xuyên qua lớp biểu bì. Kỳ lạ thay, nửa thân sau của ấu trùng lại luôn nằm bên ngoài con mồi, kích thước gần như chẳng khác gì hình dáng ấu trùng của các loài côn trùng đào đất cánh màng thông thường. Nhưng một khi nửa thân trước đã chui vào trong thân thể con mồi, nó sẽ trở nên thon dài như cổ rắn, và cứ giữ nguyên tư thế ấy cho tới tận thời khắc nhả tơ kết kén.
Cái lỗ hẹp trên da con mồi dường như là khuôn đúc cho phần thân trước của ấu trùng, về sau nó sẽ luôn duy trì vóc dáng mảnh khảnh như thế. Nếu loài côn trùng đào đất quanh năm suốt tháng đục khoét một con mồi khổng lồ, hình dáng của chúng sẽ gần như trùng khớp với hình dáng của cái hang này. Chẳng hạn như Cự Chung và Languedoc Phi Hoàng Nê Phong, ấu trùng sâu xám và Mao Thứ Sa Nê Phong. Nếu thức ăn nhỏ hơn, hoặc tồn tại ở dạng mảnh vụn, thì sẽ khó xuất hiện hiện tượng thân thể côn trùng bị chia thành hai đoạn có hình dáng khác hẳn nhau như vậy. Chỉ cần ấu trùng ăn từ miếng này sang miếng khác có chút ngắt quãng, thân thể sẽ giữ được hình dạng bình thường.
Tôi nhận thấy ấu trùng Thổ Phong trước sau luôn vùi sâu đầu vào trong cơ thể thức ăn, ít nhất là trong suốt quá trình con mồi dần dần bị nuốt chửng. Ấu trùng chưa từng ngẩng đầu lên, thậm chí đến cái cổ cũng chẳng buồn xoay chuyển. Nó cố thủ ở một chỗ cố định như vậy rốt cuộc là vì mục đích gì? Phải chăng phương thức ăn uống đặc biệt này có lý do tồn tại chính đáng của nó?
Đối với khối thịt chắc nịch như kỳ tào, con mồi của Thổ Phong phải giữ được độ tươi ngon ban đầu cho đến tận phút cuối cùng. Khi cái cổ của ấu trùng từng bước thăm dò sâu vào bên trong, con mồi sẽ lần lượt dâng hiến nội tạng theo từng giai đoạn. Từ những bộ phận không cần thiết nhất, cho đến những phần dẫu cắt bỏ đi vẫn giúp kỳ tào giữ lại một tia sinh khí, và cuối cùng mới là những cơ quan mà một khi mất đi thì sẽ lập tức nhận lấy cái chết không thể cứu vãn. Hoàn thành xong chuỗi trình tự này, cái xác mới nhanh chóng mục rữa.
Chỉ cần hàm trên của ấu trùng cắn rách lớp da con mồi, vết thương sẽ ứa ra một lượng máu lớn. Đối với ấu trùng sơ sinh, việc hút máu chẳng khác nào bú sữa, nhất là thứ chất lỏng có thể hấp thụ dồi dào lại dễ tiêu hóa này. Đối với kẻ săn mồi bé nhỏ, vết thương của kỳ tào thể hiện công năng hệt như một núm vú. Thế nhưng con mồi dù mang thương tích vẫn không chết ngay, nó sẽ còn sống thêm một khoảng thời gian. Nếu phần thịt bên ngoài đã bị nuốt sạch, ấu trùng sẽ bắt đầu xơi tái đến các cơ quan nội tạng. Trong trạng thái dở sống dở chết ấy, kỳ tào sẽ phải hứng chịu một nỗi đọa đày khác.
Sau khi cơ bắp và các cơ quan chủ yếu dưới da lần lượt biến mất, ngọn lửa sinh mệnh của kỳ tào mới dần dần lụi tàn. Cùng với sự đứt gãy của trung khu thần kinh và mạng lưới khí quản, nó biến thành một tấm da rỗng tuếch, thế nhưng lớp da ngoài của kỳ tào vẫn giữ được nguyên vẹn, ngoại trừ cái miệng vết thương ở chính giữa bụng. Nhưng hễ bị nuốt chửng hoàn toàn, tấm da này cũng sẽ dần dần thối rữa. Phải ăn con mồi theo thứ tự nào, ấu trùng Thổ Phong nắm rõ trong lòng bàn tay. Chiểu theo phương thức thuần thục ấy, con mồi có thể giữ được độ tươi cho tới tận thời khắc cuối cùng. Đánh chén xong bữa ăn thịnh soạn, ấu trùng đã trở nên béo múp míp, phấn chấn rút cái cổ dài ngoẵng ra khỏi tấm da, chuẩn bị dệt kén để hoàn thành quá trình biến thái bên trong.
Ấu trùng Thổ Phong tiến hành bữa ăn một cách đâu ra đấy như thế nào, tôi không thể đưa ra phán đoán rành mạch. Việc tìm hiểu cho tường tận rốt cuộc chuyện gì đã diễn ra bên trong cơ thể con mồi chẳng phải là công việc dễ dàng đối với chúng ta. Tuy nhiên thông qua quan sát trực tiếp, tôi vẫn có thể xác nhận được một phần. Ăn từ cơ quan thứ yếu đến cơ quan chủ yếu để duy trì chức năng sống cho phần còn lại, cách ăn uống ấy quả thực vô cùng xuất sắc. Trực tiếp quan sát con sâu bị ăn thịt, tôi đã có thể kiểm chứng một cách chuẩn xác.
Kỳ tào ban đầu béo múp, sau khi bị ấu trùng Thổ Phong ăn dở sẽ dần trở nên mềm nhũn và nhăn nhúm. Chưa đầy mấy ngày, nó đã từ một dải thịt teo tóp biến thành cái túi da dẹp lép dán sát ngực vào lưng. Dù chỉ còn là dải thịt và túi da, nhưng nó vẫn tươi tắn như thuở ban đầu, tựa hồ chưa từng bị ai chạm tới. Ấu trùng Thổ Phong cắn xé từng miếng một, mà con mồi vẫn cứ sống. Mãi cho đến khi những đòn tấn công cuối cùng của hàm trên ập xuống, sinh mệnh ấy mới chính thức khép lại. Con mồi có thể duy trì chức năng sống lâu đến nhường ấy, há chẳng phải chứng minh rằng việc gặm nhấm diễn ra từng bước một từ phần không trọng yếu tới phần không thể thiếu, và những cơ quan mang tính căn bản nhất luôn bị tấn công sau cùng hay sao?
Nếu trung khu sinh mệnh của kỳ tào bị tổn hại ngay từ đầu, kết cục sẽ ra sao? Tôi đã làm một cuộc phẫu thuật như thế này. Tôi dùng một cây kim khâu nung đỏ tôi luyện rồi mài sắc để chế ra một con dao mổ tinh xảo. Nhờ vào công cụ này, tôi rạch một đường trên mình kỳ tào, sau đó rút ra một hạch thần kinh bên trong. Phẫu thuật kết thúc, tôi nhận thấy vết rạch mình tạo ra trông chẳng có gì đặc biệt, nhưng con kỳ tào kia đã biến thành một cái xác cứng đờ.
Tôi đặt đối tượng thí nghiệm lên một lớp đất mùn tươi xốp, rồi dùng chụp thủy tinh đậy kín lại, mô phỏng hoàn toàn môi trường của những con kỳ tào bị ấu trùng Thổ Phong ăn thịt. Mấy ngày sau, hình dáng bên ngoài của nó không đổi, nhưng màu sắc đã biến thành màu nâu khiến người ta buồn nôn, lại còn rỉ ra chất dịch hôi thối. Cũng ở trong đất mùn, cũng úp dưới chụp thủy tinh, trong cùng một điều kiện nhiệt độ và độ ẩm, một con kỳ tào khác lại luôn giữ cho da thịt tươi nguyên, dẫu cho ba phần tư cơ thể nó đã bị ấu trùng Thổ Phong ăn sạch.
Sau khi bị mũi kim nhọn châm một nhát, kỳ tào liền chết bất đắc kỳ tử và nhanh chóng thối rữa. Trong suốt quá trình này, ấu trùng Thổ Phong có thể nhai kỹ nuốt chậm moi rỗng cơ thể con mồi, biến nó thành một tấm da khô khốc, nhưng điều đó không làm nó chết ngay lập tức. Kỳ tào đột ngột mất mạng là do tôi đã phá hủy trung khu thần kinh của nó, còn ấu trùng Thổ Phong thì chỉ tấn công mỡ, máu và thịt; chính vì nguyên do này mà cho đến tận phút cuối, nó vẫn có thể ăn được thức ăn chưa hề biến chất. Hai kết quả khác biệt ấy bắt nguồn từ mức độ quan trọng của các cơ quan bị tổn thương. Giả sử ấu trùng Thổ Phong cũng làm như tôi, nuốt chửng dây thần kinh của con mồi ngay từ đầu, thì những ngày sau đó thứ nó phải đối mặt sẽ là một cái xác thực sự, con mồi của nó chỉ sau một ngày một đêm là bỏ mạng rồi thối rữa. Thổ Phong mẹ vì muốn đảm bảo con mồi tươi ngon mà lại không gây nguy hiểm cho ấu trùng, đã cắm mũi kim độc vào trung khu thần kinh của con mồi, hệt như một bác sĩ ngoại khoa đang tiêm thuốc gây tê. Còn tôi lại như một gã đồ tể tùy tiện cắt xẻ, giật kéo, khó tránh khỏi việc tước đoạt tính mạng con mồi. Trung khu thần kinh bị ong mẹ chích vẫn nguyên vẹn không tổn hại, chỉ có cơ bắp của kỳ tào dưới tác động của nọc độc là không còn co giật được nữa. Phải chăng trong trạng thái tê liệt ấy, sinh mệnh của kỳ tào vẫn âm thầm vận hành? Điều này cũng giống như một ngọn đèn, dẫu lửa đã tắt nhưng bấc đèn vẫn lưu giữ chút hơi ấm. Còn tôi lại như một kẻ thô bạo, chẳng những thổi tắt ngọn đèn mà còn giật phăng bấc đi, chấm dứt tất thảy.
Những quan sát trên đây của tôi đủ để chứng minh rằng, ấu trùng Thổ Phong cũng như những kẻ săn mồi lấy các sinh vật khổng lồ làm thức ăn khác, đều sở hữu một kỹ năng ăn uống vô cùng đặc biệt. Kỹ năng tinh xảo ấy đủ để khiến con mồi đang bị xơi tái vẫn giữ được một tia sinh khí nơi chút tàn tích cuối cùng của sinh mệnh. Nếu thể hình con mồi nhỏ bé, chúng sẽ không cần phải cẩn trọng từng li từng tí đến nhường này. Chẳng hạn như ấu trùng Nê Phong ăn côn trùng hai cánh, hạ miệng từ lưng, bụng, đầu hay ngực đều được, không có quy tắc cứng nhắc. Ấu trùng tùy hứng ăn từng chút một, có thể cắn xé miếng thịt này một lát rồi vứt đấy để ăn miếng khác. Do đó, con mồi sẽ nhanh chóng biến dạng. Nếu một bữa không ăn hết, phần thừa sẽ chóng váng thối rữa. Nếu ấu trùng Thổ Phong cũng tham ăn tục uống như thế, thì thức ăn vốn có thể bảo quản tới nửa tháng sẽ lập tức chết đi, hóa thành một đống rác rưởi hôi tanh khôn tả.
Kỹ năng ăn uống được sắp đặt tài tình nhường này chẳng phải là một công việc thảnh thơi. Ít nhất thì ấu trùng một khi đã đi vào con đường hẹp thì không thể quay đầu lại, bằng không sẽ chẳng thể quay về điểm xuất phát, cũng không thể thi triển nghệ thuật ẩm thực cao siêu được nữa. Tôi phải nói trước một điều, đối tượng thí nghiệm bị thối rữa chỉ trong một ngày một đêm kia tuyệt đối là một trường hợp đặc thù; tôi làm thí nghiệm ấy chẳng qua chỉ để chứng minh rằng trong quá trình bị nuốt chửng, sinh mệnh của con mồi vẫn tràn trề sức sống. Sự dò dẫm của ấu trùng Thổ Phong không thể nào đạt tới mức độ của một cuộc phẫu thuật như vậy. Nhưng tôi vẫn ngờ rằng, do điểm tấn công ban đầu khi ăn khác nhau, kết quả cũng sẽ khác nhau. Việc ấu trùng đục khoét bên trong con mồi ắt phải tuân theo một trật tự nhất định nào đó. Nếu đi chệch khỏi trật tự này, bữa ăn có thể sẽ thất bại. Về phương diện này, khoa học có lẽ cũng đành bất lực; tôi nghĩ, tốt hơn hết hãy để chính loài côn trùng tự giãi bày thế giới độc đáo của riêng chúng vậy!
Tôi tìm được một ấu trùng Thổ Phong sắp sửa trưởng thành. Kiên nhẫn dùng đầu cọ vẽ miết đi miết lại, cuối cùng tôi cũng kéo được chiếc cổ dài của con ấu trùng ra khỏi khoang bụng con mồi. Để không làm nó đau, tôi đã phải tốn không ít công sức. Sau đó, tôi lật con ấu trùng bọ hung lại, để lưng ngửa lên rồi đặt vào một cái rãnh dùng ngón tay ấn lõm xuống trên lớp đất mùn, cuối cùng đặt ấu trùng Thổ Phong lên lưng con mồi. Bây giờ, ngoại trừ việc dưới hàm trên của ấu trùng là lưng chứ không còn là bụng, mọi điều kiện đều y như trước.
Ấu trùng Thổ Phong vặn vẹo thân mình vẻ bất an, cái đầu nhỏ chốc chốc lại áp vào lưng con mồi, ghé chỗ này một tí, chạm chỗ kia một tẹo. Thế nhưng nó mãi chẳng tìm được chỗ thích hợp để bám cố định vào. Một ngày trôi qua, con vật nhỏ bé chẳng làm gì cả, chỉ có vẻ bồn chồn bứt rứt. Tôi nghĩ, đói rồi ắt nó phải ăn thôi, ngặt nỗi tôi đã nhầm. Ngoại trừ việc tỏ ra sốt ruột hơn ngày đầu, nó vẫn không chịu làm gì. Tôi thử giúp nó nhưng chẳng mang lại kết quả. Nó đã nhịn ăn suốt hai mươi tư giờ, đứng trước miếng mồi ngon nhẽ ra phải ngấu nghiến mới phải, nhất là với một kẻ ngày thường hễ yên tĩnh là chỉ biết miệt mài ăn uống như nó.
Có vẻ như cơn đói cồn cào vẫn không khiến nó hạ miệng cắn bừa vào bất kỳ chỗ nào. Lớp da trên lưng con mồi đâu có cứng hơn dưới bụng, thế nên không thể có chuyện đôi hàm trên không xuyên qua nổi. Huống hồ, ấu trùng Thổ Phong vừa chui ra khỏi vỏ trứng đã đủ sức đục thủng da con mồi, mà nay nó lại khỏe mạnh đến nhường này. Nếu không phải vì thiếu sức, cớ sao nó lại khăng khăng không chịu tùy tiện chọn lấy một chỗ mà cắn xuống?
Lý do có thể là, cắn từ trên lưng sẽ làm tổn thương mạch máu bên trong, đụng chạm đến trái tim — cơ quan thiết yếu để duy trì sự sống. Tôi đã nhiều lần thử để ấu trùng Thổ Phong tấn công vào lưng con mồi, nhưng lần nào cũng chuốc lấy thất bại. Phải chăng điều này chứng minh rằng con sâu nhỏ đã ý thức được việc xẻ thịt thức ăn bừa bãi từ lưng sẽ khiến con mồi chết đi rồi thối rữa, từ đó rước lấy nguy hiểm cho bản thân? Đó là một cách nhìn nhận sai lầm; trên thực tế, sở dĩ nó làm vậy chẳng qua là chịu sự chi phối của một quy luật tiên nghiệm mà nó buộc phải tuân theo ngay từ khi chào đời.
Xem chừng nếu tôi cứ để mặc ấu trùng Thổ Phong trên lưng con mồi, chúng sẽ chết đói mất. Vì thế, tôi lật bụng con ấu trùng bọ hung lên lại, đặt ấu trùng Thổ Phong lên trên để khôi phục trạng thái ban đầu. Đáng ra tôi có thể dùng tiếp những con ấu trùng Thổ Phong ở thí nghiệm trước, nhưng để tránh việc thay đổi môi trường đột ngột có thể gây ra những xáo trộn không cần thiết, tôi đã chọn một vài cá thể mới chưa từng qua thí nghiệm.
Tôi lấy một con ấu trùng Thổ Phong ra khỏi lọ chứa, rút đầu nó khỏi nội tạng con mồi. Con vật nhỏ kinh hoảng bất an, vừa dò dẫm, do dự, tìm kiếm trên con mồi của mình, nhưng lại chẳng chịu cắm đôi hàm vào bất kỳ chỗ nào. Lúc này trước mặt nó là phần bụng, thế mà sự lưỡng lự nó bộc lộ ra lại y hệt như con ấu trùng đối diện với phần lưng ban nãy. Vì cớ làm sao, chẳng ai rõ được. Có lẽ các nơ-ron thần kinh ở đây còn quan trọng hơn cả mạch máu trên lưng. Con vật non nớt sợ rằng tính mạng mình sẽ bị hủy hoại vì một nhát cắn càn, thế nên nó quyết không tùy tiện cắm đôi hàm vào. Chẳng hạn, nếu sơ ý cắn trúng cái lỗ tôi dùng mũi kim chích vào như dao mổ, thức ăn của nó sẽ mau chóng biến thành một cái xác thối rữa thực sự. Ngoại trừ vị trí trứng bám vào lúc ban đầu, mọi chỗ khác trên da con mồi lại một lần nữa bị nó thẳng thừng cự tuyệt.
Bằng bản năng làm mẹ, ong mẹ luôn chọn cho con mình một vị trí thuận lợi nhất. Thế nhưng về nguyên do sâu xa, tôi chỉ biết lơ mơ, hay đúng hơn là chẳng biết chút gì. Thổ Phong cái cố định vị trí của quả trứng, cũng đồng nghĩa với việc định sẵn nơi mà ấu trùng sẽ đục khoét. Ấu trùng nở ra chỉ được cắn đúng vào điểm đó chứ không được cắn vào bất kỳ chỗ nào khác. Nghĩa là thà chết đói chứ ấu trùng quyết không cắn xé các bộ phận khác của con mồi. Qua đây, ta có thể thấy quy tắc hành vi chịu sự chi phối của bản năng này chặt chẽ đến mức nào.
Dù có mất bao lâu đi nữa, những con sâu nằm trên bụng con mồi cuối cùng cũng sẽ tìm lại được cái miệng lỗ nơi chúng cắn nhát đầu tiên. Tuy nhiên, tôi không thể kiên nhẫn chờ mãi, bèn dùng cọ vẽ dẫn lối cho ấu trùng đến vết rách mà chúng từng đục qua. Vừa phát hiện ra kẽ hở này, lũ ấu trùng chẳng chút ngần ngại vươn dài cổ, từng chút từng chút rúc sâu vào khoang bụng con mồi. Thế nhưng việc nuôi dưỡng sau đó không phải lần nào cũng thành công. Có những con ấu trùng lớn rất nhanh, trưởng thành rồi kết kén. Nhưng trường hợp ấy chỉ chiếm một phần, một số ấu trùng bọ hung nhanh chóng ngả sang màu nâu rồi thối rữa. Thế là con ấu trùng Thổ Phong ăn nó cũng chuyển sang màu nâu, trương phình lên như một vật phân hủy, chẳng mấy chốc đã bất động, thậm chí chưa kịp rút thân ra khỏi đống mủ máu đã bị chính con mồi biến chất đầu độc mà chết toi.
Tại sao mọi thứ đã trở lại bình thường — ít nhất là trông có vẻ như thế — mà thức ăn vẫn thối rữa, để rồi ấu trùng Thổ Phong cũng chết theo? Suy đoán của tôi là: khi bị tôi kéo ra khỏi lộ trình cũ trong lúc đang ăn, ấu trùng Thổ Phong đã bị hoảng loạn. Dù có quay lại miệng lỗ xưa, trong một thời gian ngắn nó cũng chẳng thể tìm ra mạch khoáng mình từng khai thác, đành phải liều mạng cắn bừa trong nội tạng con mồi, vài nhát cắn hấp tấp đã bóp chết tia hy vọng mong manh. Sự do dự khiến nó trở nên vụng về. Sai lệch ấy mau chóng đặt dấu chấm hết cho mạng sống của nó. Bị đầu độc chết bởi chính bữa tiệc thịnh soạn thế này thật oan uổng biết bao, đáng lý nếu cứ ăn theo đúng quy tắc, hẳn nó đã có thể lớn lên béo mầm.
Tôi vẫn muốn thử lại một thí nghiệm như thế về cái chết do hoảng sợ khi đang ăn. Lần này, giả thuyết đặt ra là chính con mồi đã làm kinh động đến hành vi của ấu trùng. Con ấu trùng bọ hung mà ong mẹ chuẩn bị cho con mình đã bị gây mê sâu, chẳng thể nhúc nhích, sự tĩnh lặng của nó khiến người ta phải kinh ngạc. Bây giờ tôi sẽ dùng một con ấu trùng bọ hung khác chưa hề bị gây mê để thay thế. Kẻ mới đến này hãy còn tràn trề sức sống, vô cùng hoạt bát. Để ngăn nó quá hiếu động rồi trở mình đè chết ấu trùng Thổ Phong, tôi dùng một sợi dây kim loại thật mảnh cố định nó lên một tấm gỗ bần, bụng ngửa lên trời. Làm như vậy không chỉ ngăn được nó quẫy đạp, mà còn giữ nguyên trạng thái như khi vừa lấy ra khỏi lớp mùn. Tôi còn phỏng theo vị trí đặt trứng của ong mẹ mà trổ sẵn một vết rạch nhỏ cho ấu trùng Thổ Phong, bởi tôi biết thừa bản thân nó chẳng thể tự làm nổi điều này. Kế đó, tôi đặt con sâu nhỏ lên mình ấu trùng bọ hung, đầu áp sát vết thương rỉ máu, rồi đặt cả thảy lên lớp đất mùn trong bình thủy tinh.
Con ấu trùng bọ hung hệt như Prometheus bị trói chặt trên vách đá, không tài nào nhúc nhích, chẳng thể ngoe nguẩy phần đuôi, cũng chẳng dùng chân và hàm trên để cào xé được thứ gì, đành phơi trần thân thể mà không chút kháng cự trước con chim ưng non đang chực nuốt chửng nội tạng nó. Ấu trùng Thổ Phong chẳng chút ngập ngừng lao ngay vào miệng vết thương tôi đã rạch sẵn bằng dao mổ. Nó rúc cổ vào bụng con mồi và nhanh chóng bắt đầu bữa ăn. Hai ngày đầu mọi chuyện diễn ra hết sức suôn sẻ. Nhưng sau đó, tôi đã thấy con ấu trùng bọ hung bắt đầu thối rữa, và ấu trùng Thổ Phong cũng bỏ mạng vì nuốt phải tử thi độc. Nửa thân trên của ấu trùng vẫn còn vùi trong cái xác nhiễm độc ấy.
Cái chết cục bộ này cũng rất dễ lý giải. Để ấu trùng Thổ Phong được ăn uống yên ổn và an toàn, tôi đã trói nghiến con mồi lại khiến nó không thể cựa quậy bên ngoài. Thế nhưng sức sống của nó vẫn còn đó, tôi chẳng thể nào kiểm soát được những vận động bên trong cơ thể nó. Việc bị cưỡng ép không thể nhúc nhích cộng thêm những nhát cắn xé của ấu trùng Thổ Phong đều kích thích nội tạng và cơ bắp của nó co giật. Giác quan của con mồi không hề bị tê liệt, nó chỉ có thể đáp lại nỗi giày vò đau đớn bằng những cơn co thắt. Ấu trùng Thổ Phong bị mất phương hướng chính là do những chấn động và co giật sinh ra từ nỗi đau đớn kia tác oai tác quái.
Vì lẽ đó, con ấu trùng hoảng sợ liền cắn xé mù quáng, cho tới khi giết chết con mồi vốn chỉ mới bị rạch một vết thương. Nhưng nếu con mồi bị ngòi độc chích làm cho tê liệt, tình hình lại hoàn toàn khác hẳn. Không còn cử động bên ngoài, càng không có co thắt bên trong, ấu trùng Thổ Phong có thể tha hồ cắn nuốt từng miếng lớn mà con mồi chẳng hề có chút cảm giác. Không bị quấy nhiễu từ bên ngoài, con sâu nhỏ có thể an tâm hạ miệng, từ đó vận dụng phương thức ăn uống khôn ngoan để nuốt chửng con mồi một cách êm thấm.
Chính những kết quả kỳ diệu này đã gợi lên trong tôi sự hứng thú khôn cùng. Trong quá trình thí nghiệm, tôi lại nảy ra một phương pháp mới mẻ hơn. Nhờ những nghiên cứu trước đây, tôi biết ấu trùng của các loài côn trùng đào đất thuộc bộ Cánh màng vốn chẳng nắm rõ đặc tính của con mồi, bởi lẽ các ong mẹ luôn nuôi dưỡng chúng theo cùng một phương thức. Nếu tôi đem những thức ăn khác biệt một trời một vực so với con mồi bình thường cho ấu trùng Thổ Phong ăn, không biết khi chạm trán thứ vốn dĩ không phải thức ăn của mình, chúng sẽ phản ứng ra sao? Tôi muốn thông qua thí nghiệm này để khai mở đôi điều triết lý.
Từ đống đất màu mỡ phì nhiêu, tôi tìm được hai con ấu trùng Bồ Đào Chú Tê Kim Quy. Chúng đã phát triển được khoảng một phần ba kích thước con trưởng thành. Cỡ này tương đương với ấu trùng bọ hung kia, so với thể tích của ấu trùng Thổ Phong cũng không đến mức quá chênh lệch. Tôi tiêm amoniac vào trung khu thần kinh của một con để đưa nó vào trạng thái gây mê, lại rạch thêm một vết cắt nhỏ trên bụng nó rồi đặt ấu trùng Thổ Phong lên trên. Con vật nhỏ tỏ ra vô cùng thích thú với món ăn của mình. Ấu trùng Hoa Viên Thổ Ong ăn ấu trùng Bồ Đào Chú Tê Kim Quy, biểu hiện của nó khác hẳn với ấu trùng Song Đái Thổ Phong, điều này thật kỳ lạ. Khẩu vị của ấu trùng Song Đái Thổ Phong chính là như vậy, nó chẳng chút do dự cắm phập nửa thân mình vào khoang bụng béo mọng. Mọi thứ nó làm trông có vẻ đều rất thuận lợi phải không? Việc nuôi dưỡng nhân tạo một lần nữa đã thành công ư? Sai rồi, hoàn toàn chẳng phải thế! Đến ngày thứ ba, ấu trùng Bồ Đào Chú Tê Kim Quy bắt đầu thối rữa, và ấu trùng Thổ Phong cũng chết theo. Thất bại lần này là do đâu? Do con sâu không rõ cách ăn một món lạ lẫm, đã vội vàng gặm nhấm một chỗ chưa đến lúc được ăn, hay là do kỹ thuật tiêm nước amoniac của tôi chưa đủ thuần thục?
Điều này khiến tôi vô cùng bối rối, xem ra đành phải làm lại từ đầu. Lần này tôi phải hết sức cẩn thận với cái tật vụng chân vụng tay của mình, không can thiệp bừa bãi nữa. Cũng giống như thí nghiệm với ấu trùng bọ hung, ấu trùng Bồ Đào Chú Tê Kim Quy giờ đây bị trói sống trên một miếng gỗ mềm. Tôi rạch một đường nhỏ trên bụng con mồi như thường lệ, dùng vết thương rớm máu này để dụ ấu trùng và giúp chúng thuận lợi chui vào bên trong. Nhưng kết quả vẫn chẳng mấy khả quan. Chỉ trong một khoảng thời gian cực ngắn, ấu trùng Bồ Đào Chú Tê Kim Quy đã biến thành một cái xác thối rữa, ấu trùng Thổ Phong cũng bị trúng độc mà chết ngay trên mình nó. Đây là kết cục đã được định trước: một là nhóc con của tôi chẳng hề quen thuộc với loại thức ăn này, hai là con mồi chưa từng được gây mê.
Được rồi, thế thì làm lại lần nữa. Lần này con mồi đã được gây mê, nhưng cuộc phẫu thuật không phải do một kẻ bất tài như tôi thực hiện, mà nhờ cậy vào một nhà thực hành giàu kinh nghiệm. Tìm ra gã này chẳng tốn của tôi bao nhiêu thời gian. Hôm trước, dưới đáy một đụn cát khuất nẻo, tôi phát hiện ba tổ ấu trùng Languedoc Phi Hoàng Nê Phong, trong mỗi tổ đều có một con Cự Chung được bậc thầy trong các bậc thầy gây mê theo đúng chuẩn mực tay nghề. Đây chính là con mồi tôi cần. Như thường lệ, tôi đặt ba con Cự Chung vào trong một chiếc lọ rải sẵn một lớp đất mùn, lấy trứng của Phi Hoàng Nê Phong ra, khẽ rạch một đường nơi bụng mỗi con mồi, rồi đặt lên đó một ấu trùng Thổ Phong. Suốt hai ba ngày sau, lũ ấu trùng không ngừng thưởng thức món mồi mới lạ này mà không hề xuất hiện bất kỳ phản ứng xấu nào. Chúng ăn uống rất bình thường, điều này tôi nhìn ra từ sự co bóp nơi đường tiêu hóa của chúng. Dù thực đơn thay đổi lớn đến thế, sự thèm ăn của ấu trùng Thổ Phong lại chẳng mảy may bị ảnh hưởng, cũng không khác biệt là bao so với khi ăn ấu trùng bọ hung.
Thế nhưng bất hạnh thay, sang đến ngày thứ tư, ba con Cự Chung lần lượt thối rữa, ấu trùng Thổ Phong cũng theo đó mà chết. Đây là một kết quả đầy sức thuyết phục. Nếu tôi để trứng Phi Hoàng Nê Phong nở ra, ấu trùng nở ra sẽ lấy Cự Chung làm thức ăn, dẫu có thử một trăm lần, cảnh tượng tôi chứng kiến cũng sẽ là một màn khó tin. Trong gần hai tuần lễ, một con Cự Chung bị gặm từng miếng, bị khoét rỗng, ngày càng gầy rộc đi, cuối cùng khô héo mà chết. Nhưng bất kể bị dày vò ra sao, gã này vẫn giữ được độ tươi ngon ban đầu. Nay ấu trùng Thổ Phong đã thay thế ấu trùng Phi Hoàng Nê Phong. Tuy kích thước chúng tương đương nhau, lại cùng ăn một món, nhưng món ăn này chỉ vì đổi thực khách mà chuyển từ tươi ngon sạch sẽ thành thối rữa ươn hôi. Thức ăn dưới miệng ấu trùng Phi Hoàng Nê Phong giữ được vẻ tinh khiết dài lâu, tới miệng ấu trùng Thổ Phong lại biến thành mủ máu chứa độc.
Nọc độc mà côn trùng cánh màng dùng để làm tê liệt con mồi có tính chất chống rữa đặc biệt, điều này tôi rất chắc chắn. Ba con Cự Chung kia đã trải qua một cuộc phẫu thuật kỳ lạ của Phi Hoàng Nê Phong, có thể giữ tươi nguyên dưới hàm lớn của ấu trùng Phi Hoàng Nê Phong, thì lẽ ra giữ tươi nguyên dưới hàm lớn của ấu trùng Thổ Phong cũng không phải vấn đề gì. Nhưng sự thật lại không phải vậy, thế là mọi suy nghĩ liên quan đến việc chống rữa đều bị phủ định. Bởi lẽ chất chống rữa có thể giữ tươi trong trường hợp thứ nhất, thì đến trường hợp thứ hai chẳng có lý do gì lại không phát huy tác dụng. Tất cả những điều này đều không giải thích được vì sao các ấu trùng khác nhau ăn cùng một loại thức ăn lại dẫn tới kết cục khác biệt.
Nếu độc giả có thể giải đáp nghi vấn này, xin hãy nêu ra nguyên nhân mà các bạn cho là đúng. Rốt cuộc nguyên nhân nào khiến cho món ăn tươi ngon dưới miệng Phi Hoàng Nê Phong hễ rơi vào miệng Thổ Phong lại nhanh chóng thối rữa như vậy? Quan điểm của tôi là, hai loài ấu trùng này đều có phương thức ăn uống độc đáo của riêng mình, phương thức ấy do chính con mồi của chúng quyết định. Phi Hoàng Nê Phong khi ăn Cự Chung biết cách giữ cho con mồi còn một hơi tàn cho đến tận giây phút cuối cùng, đó chính là nghệ thuật ăn uống mà nó tinh thông. Nhưng khi ăn ấu trùng bọ hung, nó lại không làm được như thế. Vì cơ chế sinh lý khác nhau, kỹ năng ăn uống theo từng giai đoạn của nó biến mất, bởi vậy món ăn vốn có thể giữ tươi sẽ nhanh chóng hóa thành một đống thịt thối rữa ươn hèn. Tương tự như vậy, Thổ Phong dẫu biết cách ăn phần ấu trùng bọ hung của nó, nhưng lại chẳng hiểu gì về nghệ thuật ăn Cự Chung, mặc dù nó vô cùng thích món ngon này. Khi chui vào cơ thể Cự Chung, nó chỉ biết dùng hàm lớn chém loạn xạ, khiến con mồi bị nó giết chết mà không thể giữ tươi được lâu.
Tôi nhận thấy dùng Cự Chung đã được Phi Hoàng Nê Phong gây mê để cho ấu trùng Thổ Phong ăn, dẫu thức ăn khác nhau, nhưng chỉ cần thức ăn còn tươi thì ấu trùng Thổ Phong vẫn giữ được trạng thái tốt. Chỉ khi con mồi khô quắt, nó mới mất đi sinh khí. Một khi con mồi thối rữa, chúng sẽ vì ăn phải thứ độc tố khủng khiếp sản sinh khi động vật phân hủy—mà hóa học gọi là tử độc—mà bị trúng độc chết. Bởi vậy, dù ba cuộc thí nghiệm của tôi đều thất bại, tôi vẫn có lý do để tin rằng, chỉ cần Cự Chung không thối rữa, việc nuôi dưỡng chéo loài này hoàn toàn có thể thành công.
Đó là một kỹ năng ăn uống vi diệu và nguy hiểm biết bao! Lũ ấu trùng ăn thịt có thể gặm nhấm một con mồi nguyên vẹn suốt nửa tháng trời rồi mới giết chết nó. Cách ăn uống liên tục này e rằng ngay cả nền sinh lý học mà chúng ta hằng tự hào cũng chưa chắc miêu tả được chính xác! Những điều chúng ta không sao hiểu nổi, lũ côn trùng nhỏ bé này lại học được. Thông thường, những người theo thuyết Darwin sẽ bảo rằng đây là do thói quen, họ chủ trương bản năng là do tập tính hậu thiên tạo thành.
Trước khi đưa ra kết luận cuối cùng, chúng ta hãy tùy ý nhìn vào một loài côn trùng cánh màng nào đó, thế hệ đầu tiên của nó không hề có kỹ năng ăn uống để giữ thức ăn không bị thối rữa. Giờ đây tôi thử dùng một con ấu trùng bọ hung, hoặc bất kỳ con mồi to xác nào có thể bảo quản lâu ngày để nuôi dưỡng thế hệ sau. Không có ảnh hưởng của thói quen, cũng chẳng có yếu tố di truyền, nhóc con cứ việc tùy tiện cắn xé thức ăn. Nó sẽ không biết quý trọng thức ăn, càng không biết mình đang mạo hiểm dường nào khi đụng tay đụng chân trên thân thể con quái vật khổng lồ này. Kết quả đã được chứng minh rồi đấy, những nhát cắn loạn xạ mất kiểm soát của hàm lớn sẽ mang tới hậu quả chí mạng, đó là chết vì tử độc của miếng mồi thối rữa do chính nó giết chết.
Dù là kẻ mới vào nghề cũng phải hiểu rõ đạo lý này: muốn nòi giống sinh sôi nảy nở, phải nắm được những điều cấm kỵ và được phép khi moi móc nội tạng con mồi. Bí mật mà con người khó lòng hiểu thấu này, chúng bắt buộc phải lĩnh hội trọn vẹn mới không vì tùy tiện cắn bậy một miếng khi ăn mà rước lấy số phận bi thảm không đáng có. Từ khi Thổ Phong xuất hiện trên thế gian, chúng đã nắm vững kỹ thuật cắt xẻ. Nhưng khi tôi cho chúng ăn Cự Chung đã được Phi Hoàng Nê Phong gây mê, chúng vẫn khó tránh khỏi kết cục chết vì thức ăn thối rữa. Chúng được rèn luyện nghiêm ngặt trong việc tấn công ấu trùng bọ hung, nhưng đối với con mồi mới lại hoàn toàn không biết phải hạ miệng thế nào. Nghiền ngẫm tỉ mỉ từng chi tiết trong lúc ăn là điều chúng còn thiếu sót, vậy thì khi ấu trùng lần đầu cắn vào một con mồi béo múp míp, tình cảnh sẽ ra sao? Chẳng còn nghi ngờ gì nữa, chúng sẽ chết vì thiếu kinh nghiệm. Trừ phi tổ tiên chúng không sợ tử độc, mà lũ ấu trùng ngày nay lại mất mạng vì ăn phải tử độc. Đây rõ ràng là một điều phi lý.
Tôi không chấp nhận, tin rằng người khác cũng không thể chấp nhận được, lũ ấu trùng thời cổ đại thích ăn chắc chắn cũng phải là thịt tươi. Huống hồ chúng không thể nào dựa vào cơ may ngẫu nhiên mà đột nhiên giành lấy thành công trên con mồi rẫy đầy hiểm nguy. Tình huống vô cùng phức tạp, muốn tìm ra sự trùng hợp ngẫu nhiên là chuyện không tưởng. Ngay từ đầu, ấu trùng Thổ Phong ăn uống đã có quy tắc nghiêm ngặt, quy tắc ấy phù hợp với cơ chế sinh lý của con mồi, chỉ khi tuân theo cơ chế này thì Thổ Phong mới duy trì nòi giống được đến ngày nay. Nếu thuở ban đầu chúng không có quy tắc ăn uống xác định, Thổ Phong sẽ chẳng thể truyền đời. Có thể là bản năng bẩm sinh phát huy tác dụng, cũng có thể là thích nghi với thói quen hậu thiên.
Đối với tôi, đây thực sự là một thu hoạch kỳ lạ. Nếu thuở đầu Thổ Phong là một sinh vật khó tin, thì việc thừa nhận hậu duệ của nó đối với chúng ta cũng là điều khó tin. Chẳng có thứ gì bắt đầu từ con số không. Cho nên khi một quả cầu tuyết nhỏ chầm chậm lăn thành một quả cầu tuyết khổng lồ, điểm khởi đầu của nó không phải là con số không, mà là quả cầu tuyết nhỏ, bất kể nó có nhỏ bé đến mức nào. Tôi tìm tòi mọi khả năng để quan sát những thói quen tồn tại ở hậu thiên, câu trả lời nhận được lần nào cũng là con số không. Côn trùng nếu không hiểu, dẫu chỉ một chi tiết nhỏ chưa tỏ tường, muốn học hỏi ở hậu thiên sẽ vô cùng gian nan, thậm chí là bất khả thi, bởi nó chưa kịp lớn đã phải bỏ mạng. Không có quả cầu tuyết nhỏ, quả cầu tuyết lớn biết lấy từ đâu ra. Nếu hậu thiên chẳng cần học gì cả, nó đã nắm rõ như lòng bàn tay mọi điều mình cần biết, thì khi ấy nó mới có thể sinh sôi nảy nở thịnh vượng. Bản năng là bẩm sinh, chính điều đó giúp nó con cháu đầy đàn. Thứ gọi là bản năng này chẳng cần học bất cứ điều gì, chẳng bao giờ quên bất cứ điều gì, cũng không hề biến đổi theo dòng thời gian.
Tôi ôm đầy hoài nghi với mọi thứ, nhưng chưa từng dựng lên bất kỳ học thuyết nào, ấy là bởi tôi không muốn biện luận về những điều mơ hồ, tôi chỉ để sự thật lên tiếng. Sau khi nghe và thấy cùng một sự thật, việc chúng ta cần làm chỉ là dựa vào năng lực của mỗi người để phán đoán xem bản năng rốt cuộc là năng lực bẩm sinh hay là thói quen tích lũy từ hậu thiên.
