Chương 66
Chương 66: Người mẹ chi phối giới tính của trứng
Đăng ngày 27/09/2026
19
Chương này bắt đầu bằng Noãn Thạch Thạch Phong, loài ong có những chiếc tổ cũ kiên cố thường được tái sử dụng. Bởi vậy, mỗi khi mùa xây tổ bắt đầu, những chiếc tổ cũ luôn là mục tiêu tranh giành quyết liệt của các Thạch Phong mẹ. Một khi đã chiếm được căn nhà ưng ý bấy lâu, nó sẽ liều mạng xua đuổi những con mẹ khác. Cái gọi là nhà cũ thực ra không tồi tàn như người ta tưởng, chẳng qua bị đục thủng vài lỗ nhỏ khi những cư dân trước phá kén chui ra, việc tu sửa chẳng có gì khó khăn. Công việc của gia chủ mới không chỉ là dọn sạch những cục đất do chủ cũ húc văng ra ngoài rồi ném đi thật xa, mà còn phải vứt bỏ lớp kén cũ còn sót lại trong phòng. Có điều công việc phía sau rất khó hoàn thành, bởi lớp vỏ tơ mịn màng thường bám rất chặt vào vách đá.
Mỗi khi tìm được một căn phòng, Thạch Phong mẹ liền bắt đầu tích trữ lương thực, đẻ trứng, rồi dùng vữa bịt kín cửa phòng lại. Căn phòng thứ hai, thứ ba cũng được tận dụng tương tự, cứ thế hết phòng này đến phòng khác, chừng nào trứng trong bụng mẹ vẫn chưa đẻ hết thì tất cả các phòng đều sẽ được tận dụng triệt để. Để khiến căn phòng trông như mới, con mẹ thường quét thêm một lớp vữa ngoài vòm tổ. Nếu trứng vẫn chưa đẻ xong, Thạch Phong mẹ lại tiếp tục đi tìm những căn nhà cũ khác. Nhằm tiết kiệm tối đa thời gian và công sức, chỉ khi nào cùng đường không tìm được nhà cũ, nó mới chịu xây tổ mới. Điều này đã được kiểm chứng qua vô số tổ ong tôi tìm thấy; số tổ cũ tôi phát hiện ra nhiều hơn hẳn tổ mới.
Nếu chỉ nhìn bề ngoài thì chẳng thể nào phân biệt nổi. Thạch Phong mẹ luôn thích tân trang tổ cũ, cẩn thận quét dọn và sửa sang lại bề mặt ngoài. Tổ ong kín kẽ không một kẽ hở cũng là để che mưa chắn gió suốt mùa đông dài. Chính vì biết rõ điều đó nên Thạch Phong mẹ mới chịu khó tu bổ mặt ngoài. Nhưng bên trong lại là một câu chuyện hoàn toàn khác, chỉ liếc qua là biết ngay đâu là tổ cũ, đâu là tổ mới. Chẳng hạn như ở một số tổ cũ, thức ăn lưu lại ít nhất một năm trời đã khô quắt, mốc meo, nhưng vẫn còn nguyên vẹn; vài quả trứng thậm chí còn chưa hề phát triển. Lại có những ấu trùng chết non, qua năm tháng dài đằng đẵng đã biến thành những khúc trụ ngắn cứng đờ, hôi thối. Cũng có những con ong trưởng thành kiệt sức trong lúc đục khoét trần tổ mà chết nghẹn bên trong, không tài nào thoát ra được. Trong tổ cũ còn thường xuyên xuất hiện những kẻ ký sinh như Chiết Sí Tiểu Phong hay ruồi giả ong, chúng phải đợi tới tận tháng Bảy mới chịu rời tổ. Thành thử không phải không gian nào trong tổ cũng trống trải: chỗ thì bị những ký sinh trùng chưa kịp vũ hóa trong thời gian Thạch Phong lao động chiếm cứ, chỗ thì chất đầy xác ấu trùng thối rữa, thức ăn khô héo, cùng những con ong trưởng thành chết rục vì không thể tự giải thoát cho mình. Những thứ vô dụng ấy đã chiếm mất một khoảng không gian không hề nhỏ.
Hiếm khi thấy được một tổ ong nào mà mọi gian phòng đều dùng được. Ngoài cách trên, vẫn còn một phương pháp khác để phân biệt tổ mới và tổ cũ. Như tôi từng nhắc tới, kén dính rất chặt vào vách tổ, có lẽ do lực bất tòng tâm, hoặc cảm thấy không cần thiết, nên lũ ong mẹ thường không buồn gỡ lớp màng này ra. Do đó, đáy của chiếc kén mới sẽ lồng vào bên trong đáy của chiếc kén cũ. Một khi xuất hiện lớp áo đôi như vậy, đó chính là minh chứng rõ ràng cho thấy chiếc tổ đã trải qua hai thế hệ trong hai năm. Tôi từng phát hiện ra ba chiếc kén lồng đáy vào nhau. Nghĩa là nếu không có thêm tổ cũ khác, tổ của Noãn Thạch Thạch Phong có thể dùng tới ba năm. Mãi cho đến khi nó lỗ chỗ trăm nghìn vết thủng, nhện cùng đủ loại côn trùng cánh màng nhỏ bé mới kéo nhau vào cư ngụ trong căn nhà lung lay sắp đổ ấy — lúc này, nó mới thực sự trở thành một phế tích hoang tàn.
Theo quan sát của tôi, một chiếc tổ cũ hầu như chẳng bao giờ chứa nổi toàn bộ số trứng của Thạch Phong. Số lượng phòng thường không cố định, nhưng Thạch Phong cần khoảng mười lăm gian nhà, vậy nên một tổ bình thường chứa được chừng một nửa số trứng đã là may mắn lắm rồi. Thông thường, số trứng Thạch Phong tìm thấy trong tổ của kẻ khác chỉ khoảng bốn năm quả, đôi khi hai quả, thậm chí chỉ một quả duy nhất. Sự hạn chế này thực ra rất dễ giải thích: có biết bao loài ký sinh luôn rình rập xâm phạm loài Thạch Phong đáng thương.
Vậy thì sự phân bố giới tính của trứng trong những chiếc tổ cũ bị cạy tung ra này sẽ ra sao? Quy luật sắp xếp một nhóm ong cái rồi đến một nhóm ong đực mà tôi rút ra được từ các tổ mới liệu có còn đúng với tổ cũ hay không? Chừng nào nguyên tắc này còn đúng tuyệt đối, chúng ta sẽ bắt gặp trong tổ cũ lúc thì toàn ong đực, lúc thì toàn ong cái, dĩ nhiên điều đó phụ thuộc vào việc ong mẹ đang ở giai đoạn đầu hay giai đoạn cuối của kỳ sinh sản. Nếu trong tổ cùng lúc xuất hiện cả hai giới tính, điều đó chỉ chứng tỏ những quả trứng này được Thạch Phong mẹ đẻ ra trong giai đoạn chuyển giao của quá trình đẻ trứng.
Thế nhưng thực tế lại hoàn toàn trái ngược. Tình huống phổ biến nhất là trong tổ cũ vừa có ong cái, vừa có ong đực. Bất kể có bao nhiêu gian phòng trống, miễn là nơi ở có dung tích bình thường, thì ong đực luôn chiếm phòng nhỏ, còn ong cái luôn chiếm phòng lớn, điểm này đúng như những gì chúng ta từng thấy. Dựa vào vị trí rìa ngoài có thể đoán ra đâu là phòng cũ của ong đực, và dĩ nhiên cũng có thể nhận biết thông qua cột cát có dung tích trung bình ba mươi mốt milimét khối trong ống thủy tinh đường kính năm milimét. Trong phòng cũ của ong đực có thế hệ ong đực thứ hai, thứ ba, và chỉ duy nhất ong đực mà thôi. Phòng cũ của ong cái nằm ở chính giữa tổ, dung tích cột cát là bốn mươi lăm milimét khối, cư ngụ bên trong là ong cái, và cũng chỉ duy nhất ong cái.
Ngay cả khi một tổ cũ chỉ còn lại hai gian phòng dùng được, một lớn một nhỏ, thì chắc chắn cũng sẽ xuất hiện hai giới tính. Hiện tượng này xuất hiện đã lật nhào quy luật phân bổ giới tính đều đặn trong tổ mới, thay vào đó là sự phân bổ bất quy tắc — một sự phân bổ ăn khớp nhịp nhàng với số lượng và dung tích của các phòng. Thử giả định một tình huống: Thạch Phong đứng trước năm gian phòng gồm hai lớn ba nhỏ, tức tổng số phòng chỉ bằng khoảng một phần ba số trứng cần đẻ, nó sẽ xử trí ra sao? Thực tế chứng minh, nó đã đẻ trứng ong đực vào ba căn phòng nhỏ, và đẻ trứng ong cái vào hai căn phòng lớn.
Những hiện tượng tương tự cứ liên tục xuất hiện, lặp đi lặp lại ở mọi chiếc tổ cũ, khiến tôi buộc phải thừa nhận rằng: Thạch Phong mẹ biết rõ giới tính của quả trứng mà mình sắp đẻ ra. Rốt cuộc thì quả trứng đó luôn xuất hiện trong căn phòng có kích thước vừa vặn nhất. Hơn nữa, tôi cũng phải chấp nhận rằng Thạch Phong mẹ có thể tùy ý thay đổi thứ tự giới tính của các lứa đẻ. Bởi nó căn cứ vào không gian còn sót lại trong chiếc tổ tình cờ chiếm được để quyết định xem rốt cuộc nên đẻ trứng cái hay trứng đực.
Trước đây, khi quan sát những chiếc tổ mới xây, tôi thấy Thạch Phong ban đầu đẻ toàn trứng cái, sau đó mới tới trứng đực. Giờ đây, khi ở trong một chiếc tổ cũ vốn dĩ không thuộc về mình ngay từ đầu, nó buộc phải tùy cơ ứng biến theo điều kiện thực tế mà xáo trộn thứ tự đẻ trứng. Chỉ khi nắm trong tay đặc quyền này, giữa một chiếc tổ cũ tình cờ bắt gặp, nó mới có thể chuẩn xác đẻ trứng vào căn phòng tương ứng với giới tính ban đầu khi phòng đó được tạo ra. Biết làm sao được, khi những căn phòng thích hợp để ở lại ít ỏi đến thế?
Tôi có thể khẳng định nguyên nhân vì sao trong các tổ mới xây, Noãn Thạch Thạch Phong lại sắp xếp trứng theo thứ tự cái trước đực sau. Trong mọi hình khối, hình cầu là kết cấu kiên cố nhất. Do đó, tổ của Noãn Thạch Thạch Phong có dạng bán cầu, còn tổ của Quán Mộc Thạch Phong lại gần như hình cầu. Hai loại tổ này, một xây trên đá cuội, một bám trên cành cây, dù không hề có bất kỳ vật gì che chắn nhưng vẫn chống chọi được mưa sa bão táp, ắt hẳn phải sở hữu sức kháng cự phi thường. Lũ Thạch Phong đắp tổ thành hình cầu quả thực là vô cùng có lý.
Tổ của Cao tường thạch ong được ghép từ một nhóm các phòng dựng đứng san sát nhau. Chiều cao của các gian phòng tính từ tâm vòm tổ sẽ thấp dần ra xung quanh, tất cả là để tạo nên hình cầu cho tổng thể. Góc ngẩng của nó là góc sin của đường cong kinh tuyến tính từ mặt phẳng đá cuội. Phòng lớn nằm ở trung tâm, phòng nhỏ nằm ngoài rìa mép, khiến kết cấu tổng thể càng thêm vững chãi. Bởi vì việc đẻ trứng bắt đầu từ các phòng ở giữa rồi mới kết thúc ở các phòng xung quanh, cho nên trứng ong cái được đẻ vào phòng lớn, còn trứng ong đực đẻ vào phòng nhỏ. Ong mẹ luôn chọn cách sinh con cái trước, rồi mới sinh con đực sau.
Mọi chuyện đều vô cùng thuận tiện và dễ hiểu khi Thạch Phong mẹ tự tay xây tổ. Nhưng nếu nó chọn đẻ con trong một chiếc tổ cũ, vừa không thể thay đổi giới tính của trứng, lại vừa không thể thay đổi bố cục của các phòng, vậy trong tình huống này nó làm sao tận dụng được mấy gian phòng trống lớn nhỏ khác nhau? Lời giải thích duy nhất là nó phải từ bỏ cách phân chia thành hai nhóm đực cái tách biệt, để trứng của nó có thể thích ứng với những nơi ở biến ảo khôn lường. Nếu nó không thể tận dụng tổ cũ một cách kinh tế — mà qua quan sát thì điều này đã bị bác bỏ — thì tức là nó có thể tùy ý quyết định giới tính của quả trứng sắp đẻ ra.
Các loài Bích ong đều cung cấp bằng chứng đanh thép cho khả năng thứ hai này. Nói về Bích ong, chúng chẳng phải những thợ mỏ. Dù cho có dùng lại nhà cũ của kẻ khác, hay tận dụng những thân cây bị khoét rỗng, góc tường, mặt đất, những góc khuất trong bụi cây, vỏ ốc rỗng cùng các gian nhà tự nhiên khác, thì công việc của chúng cũng chỉ dừng lại ở việc tân trang nơi ở, dặm vá các vách ngăn và cửa lớn, tuyệt đối không bao giờ làm cái việc đục giếng đứng cho buồng ong. Nếu Bích ong chịu tìm kiếm một nơi cư ngụ như vậy trong phạm vi rộng lớn thì quá đỗi dễ dàng, kiểu gì cũng thấy. Nhưng Bích ong lại thích quay về nơi chôn rau cắt rốn, nhẫn nại bám trụ ở đó — nó vốn dĩ luôn ưa thích lối sống ru rú trong nhà. Trong căn nhà cũ quen thuộc, nó muốn gầy dựng gia đình của riêng mình. Nhưng các phòng lớn nhỏ không đều, hình dạng thiên biến vạn hóa, số lượng lại ít ỏi, cái dài cái ngắn, cái rộng cái hẹp, chẳng lẽ nó phải bỏ nhà ra đi? Hay là không bỏ sót căn nào mà tận dụng bằng hết? Rốt cuộc thì nó cũng đâu còn lựa chọn nào khác. Để biết Bích ong sẽ lựa chọn ra sao, tôi đã tiến hành thí nghiệm dưới đây.
Phòng thí nghiệm của tôi từ lâu đã biến thành một tổ ong khổng lồ. Tam Xỉ Bích Phong ngoan ngoãn làm tổ trong đủ loại ống với độ dài, đường kính trong và chất liệu khác nhau — bao gồm cả ống thủy tinh lẫn thân cây sậy — hễ là thứ tôi chuẩn bị thì chúng đều tận dụng hết. Trong đó, những ống dài có thể chứa gần như toàn bộ số trứng, xếp theo thứ tự một nhóm ong cái rồi đến một nhóm ong đực. Tôi sẽ không nhắc lại chi tiết chuyện này nữa. Các ống ngắn có độ dài khác nhau, chỉ đủ chỗ cho một phần số trứng. Căn cứ vào độ dày của vách ngăn và nút bịt tổ, cũng như chiều dài tương đối của kén ở hai giới tính, tôi đã giảm thể tích của vài chiếc ống, khiến chúng chỉ vừa vặn chứa được hai chiếc kén khác giới.
Dù là ống sậy hay ống thủy tinh ngắn, Bích ong cũng hào hứng đến chiếm giữ y hệt như với ống dài. Một kết quả thí nghiệm đáng kinh ngạc đã xuất hiện: dẫu Thạch Phong chỉ đẻ một phần số trứng, chúng vẫn luôn bắt đầu bằng ong cái rồi kết thúc bằng ong đực, chuỗi liên kết giới tính này trước sau không hề thay đổi. Vài yếu tố biến động gồm có tỷ lệ số lượng giữa hai loại kén và số lượng phòng ốc, chúng đều có sự tăng giảm nhất định.
Trong thí nghiệm căn bản này, để trình bày quan điểm của mình một cách chuẩn xác hơn, tôi chỉ chọn ra một trường hợp đặc biệt giữa vô vàn ví dụ tương tự. Tôi đặc biệt để tâm đến trường hợp này vì số trứng của nó dồi dào khác thường. Tôi ngày đêm quan sát một con Bích ong đã được đánh dấu trên ngực. Từ ngày mùng 1 đến ngày mùng 10 tháng Năm, nó chiếm ống thủy tinh đầu tiên, đẻ bảy trứng ong cái rồi kết thúc bằng một trứng ong đực. Từ ngày 10 đến ngày 17 tháng Năm, ở ống thứ hai, nó lần lượt đẻ ba trứng ong cái và ba trứng ong đực. Từ ngày 17 đến ngày 25 tháng Năm, trong ống thứ ba, nó đẻ ba trứng ong cái và hai trứng ong đực. Ngày 26 tháng Năm, nó đẻ một trứng ong cái vào ống thứ tư rồi bỏ cuộc, có lẽ do đường kính ống quá lớn. Từ ngày 26 đến ngày 30 tháng Năm, trong ống thứ năm, nó đẻ hai trứng ong cái và ba trứng ong đực. Tổng cộng nó đẻ được hai mươi lăm quả trứng, gồm mười sáu con cái và chín con đực. Cần lưu ý, tôi buộc phải nhấn mạnh một điểm, những cụm trứng này hoàn toàn không ăn khớp với trình tự đẻ trứng vốn bị gián đoạn do nghỉ ngơi. Miễn là hoàn cảnh biến đổi cho phép, việc đẻ trứng vẫn sẽ tiếp diễn. Mỗi khi một chiếc ống đã đầy trứng và được bít kín lại, Bích ong sẽ không ngần ngại đi chiếm ống khác ngay.
Khi tôi dự tính những chiếc ống chỉ chứa được hai buồng tổ, đa số trường hợp đều đúng như phán đoán: buồng ngoài chứa một con ong đực, buồng trong chứa một con ong cái. Nhưng đồng thời cũng có ngoại lệ, chẳng hạn trong không gian mà tôi ngỡ chỉ chứa nổi một con cái và một con đực, Bích ong — vốn biết tính toán nhu cầu chuẩn xác hơn tôi — lại tìm ra cách nhét vừa hai con ong cái. Rõ ràng nó am tường cách tiết kiệm diện tích hơn nhiều.
Tóm lại, kết quả thí nghiệm hết sức rõ ràng. Khi đối mặt với những chiếc ống không đủ dài để chứa cả đàn con, hành vi của Bích ong giống hệt Thạch Phong khi đứng trước một chiếc tổ cũ. Cách xử sự của hai bên y đúc nhau. Bích ong cũng căn cứ vào không gian sẵn có mà lựa chọn chia nhỏ trình tự đẻ trứng thành từng đoạn ngắn: mỗi đoạn đều bắt đầu bằng ong cái và kết thúc bằng ong đực. Chỉ cần chiều dài ống cho phép, Thạch Phong có thể chia đợt đẻ trứng thành hai nhóm đực và cái. Tôi cho rằng điều này đã chứng minh rõ ràng việc loài côn trùng có năng lực điều khiển giới tính của trứng cho tương thích với điều kiện nơi ở.
Nếu quy nguyên nhân ong đực phát triển sớm thuần túy cho điều kiện không gian thì e rằng quá vội vàng, song ong đực quả thực phá kén chui ra trước ong cái tới hai tuần hoặc hơn. Vừa ra khỏi kén là chúng đã lao vội về phía hoa hạnh nhân, có lẽ để tận hưởng niềm vui dưới ánh mặt trời mà không quấy rầy các chị em vẫn còn đang say ngủ, chúng buộc phải chiếm giữ vị trí ngoài cùng của cụm kén, và đây cũng có thể là lý do khiến mỗi đợt đẻ trứng của Bích ong đều kết thúc bằng con đực. Những kẻ nóng vội, khi kỳ vũ hóa đến gần, sẽ hấp tấp rời khỏi nơi ở mà không ảnh hưởng tới các nhộng khác vũ hóa muộn hơn.
Tôi dùng những đoạn sậy ngắn hơn để làm hàng loạt thí nghiệm trên Lạp Thức Bích Phong. Việc tôi cần làm rất đơn giản: chỉ việc đặt ống sậy bên cạnh tổ của ong thợ đá mái hiên mà Lạp Thức Bích Phong ưa chuộng là xong. Bất kể độ dài ra sao, tôi đều đặt những chiếc giỏ nan đã qua sử dụng ra ngoài trời để tiến hành thí nghiệm với Giác Bích Phong. Kết quả của cả hai loài này đều nhất quán với ong vò vẽ ba chạc.
Lại nói tiếp về những con ong vò vẽ ba chạc làm tổ trong tổ cũ của Cao tường thạch ong ở nhà tôi! Tôi đem những chiếc tổ cũ ấy xếp lẫn với các ống thủy tinh, đặt trong tầm hoạt động của chúng. Tôi chỉ từng thấy ong vò vẽ ba chạc chấp nhận kiểu nhà này trong phòng thí nghiệm. Có lẽ ngoài đồng ruộng, những chiếc tổ ấy nằm đơn độc rải rác từng cái một, mà ong vò vẽ ba chạc lại thích có hàng xóm láng giềng, thích cùng lao động với đông đảo đồng loại, nên nó không quen tiếp nhận những buồng tổ lẻ loi bên ngoài. Khi thấy trên bàn tôi có nhiều bạn ong cùng làm việc, nó liền chẳng hề đắn đo mà dọn vào ở.
Các căn buồng trong tổ cũ đều rộng rãi, Thạch Phong đã trát một lớp vữa dày bên ngoài toàn bộ buồng tổ. Muốn chui ra ngoài, Thạch Phong buộc phải đục thủng một lỗ, không chỉ khoét nắp đậy ở cửa buồng mà còn phải đục xuyên qua cả lớp vữa thô gia cố mái vòm lúc hoàn công. Sau khi đục xuyên qua, một tiền sảnh sẽ hiện ra, đầu kia của tiền sảnh chính là phòng ngủ của Thạch Phong. Dù tiền sảnh có dài ngắn khác nhau, nhưng thể tích phòng ngủ tương ứng cho cùng một giới tính thì luôn cố định.
Trước tiên, tôi cung cấp cho Bích ong những tiền sảnh tương đối ngắn, song sau khi Bích ong dùng nút đất bít kín nơi ở lại, chiều dài vẫn còn thừa thãi. Đây mới đúng nghĩa là một buồng tổ, Bích ong cái thích nơi ở rộng rãi, sống trong căn phòng như thế quả thực vô cùng thoải mái. Bất kể kẻ cư ngụ mang giới tính nào, nó cũng nhỏ hơn nhiều so với chủ nhân ban đầu của căn phòng. Thế nhưng, nếu nhét hai con ong vào thì không gian lại hơi chật chội, chưa kể vách ngăn ở giữa cũng chiếm mất một phần diện tích. Bích ong liền đặt những đứa con cái bé bỏng của mình vào các căn phòng rộng rãi, kiên cố vốn thuộc về Thạch Phong này, và chỉ tuyền ong cái mà thôi.
Ở những tiền sảnh dài, trước tiên Bích ong dựng một vách ngăn, chia căn phòng thành hai buồng lớn nhỏ khác nhau. Gian phòng rộng rãi nằm ở tầng đáy của toàn bộ buồng tổ, bên trong có một con ong cái; gian phòng nhỏ hẹp phía trên thì dành cho một con ong đực. Sau khi gỡ bỏ nút bít ở cửa lớn, miễn là chiều dài tiền sảnh cho phép, Bích ong sẽ tiếp tục xây tầng thứ ba nhỏ hơn tầng thứ hai một chút. Căn phòng hết sức đơn sơ này là chỗ ở của một con ong đực. Trong tổ cũ của Noãn Thạch Thạch Phong, Bích ong mẹ cứ thế lấp đầy lũ con vào từng gian buồng một.
Nhờ vậy, tôi hiểu ra rằng Bích ong rất biết chắt chiu nơi ở mà nó tìm được: tiền sảnh chật hẹp sẽ được cẩn thận chia thành nhiều tầng cho ong đực ở, còn phòng ngủ rộng rãi vốn thuộc về Thạch Phong sẽ nhường cho ong cái. Bích ong mẹ coi trọng chuyện tiết kiệm không gian đến thế có lẽ là vì thói quen ru rú một chỗ không cho phép nó đi tìm kiếm ở nơi xa xôi hơn. Do đó, nó sẽ tận dụng triệt để những căn phòng tình cờ có được để sinh ra con cái thuộc cả hai giới tính. Những trường hợp này đều chứng minh rõ ràng không chút nghi ngờ: con mẹ có năng lực điều khiển giới tính của trứng dựa trên điều kiện của nơi ở sẵn có.
Đồng thời, tôi cũng đưa cho bầy Bích ong trong phòng thí nghiệm vài tổ cũ của Quán Mộc Thạch Phong, cùng một số khối đất hình cầu bị khoét những lỗ hình trụ tròn. Những chiếc lỗ này giống như những cái hố do ấu trùng vùng vẫy đục ra khi muốn thoát thân trong tổ cũ của Noãn Thạch Thạch Phong. Đường kính lỗ chừng 7 milimét, độ sâu ở tâm là 23 milimét, còn độ sâu ở mép là 14 milimét. Trong những buồng tổ tương đối sâu ở chính giữa, Bích ong đẻ trứng ong cái, và chỉ đẻ ong cái mà thôi. Có đôi khi nó cố ý dựng một vách ngăn rồi đẻ trứng của cả hai giới tính, theo đúng quy luật trước kia: tầng đáy là con cái, tầng trên là con đực. Quả thực nguyên tắc tiết kiệm không gian đã được vận dụng đến mức tột cùng. Gian phòng mà Quán Mộc Thạch Phong cung cấp không những không có tiền sảnh mà còn nhỏ hơn một cỡ so với mức cần thiết, người mẹ chẳng đặng đừng đành dành nơi sâu nhất ở mép lỗ cho con cái, còn chỗ nông hơn thì dành cho con đực.
Tôi cần đặc biệt nhấn mạnh rằng, trong mỗi gian buồng chỉ có con của một người mẹ duy nhất. Vì vậy, khi Bích ong mẹ bay qua bay lại giữa các buồng để đẻ trứng, nó không cần phải bận tâm đến kích thước căn phòng. Nó cứ việc đi từ tâm ra mép, từ mép vào tâm, từ lỗ sâu sang lỗ nông, và ngược lại. Nhưng nếu giới tính được gắn kết theo một trình tự cố định, nó sẽ không làm như thế. Trong cùng một tổ, tôi lần lượt đánh dấu theo thứ tự đóng nắp từng buồng một. Đến khi mở ra về sau, tôi phát hiện giới tính không hề sắp xếp theo trình tự thời gian. Sau con cái là con đực, sau con đực lại là con cái, tôi không tài nào đúc kết ra bất kỳ quy luật nào từ đó. Chỉ có một điểm chắc chắn: những lỗ nông bị ong đực chiếm giữ, còn các lỗ sâu thì do ong cái chia nhau.
Chúng ta đều đã biết ong vò vẽ ba chạc thích tìm đến những nơi tập trung nhiều tổ ong tương tự như chỗ ở của ong thợ đá mái hiên và Mao Túc Điều Phong. Người học trò kiêm bạn hữu thân thiết của tôi là Devillario đã gửi tới từ Carpentras một tảng đất lấy từ sườn dốc nơi đàn Điều Phong cư ngụ. Ngoài giờ làm việc, tôi cẩn thận thăm dò tảng đất lớn lấy từ triền dốc này, tránh làm vỡ nó. Trong những lối đi hết sức ngoằn ngoèo ngoắt ngoéo bên trong tảng đất, kén của Bích ong xếp thành từng chuỗi ngắn; công việc đào xới ban đầu của lối đi là do Điều Phong thực hiện, về sau qua nhiều lần tu sửa, nới rộng hoặc thu hẹp, kéo dài hay cắt ngắn, hết thế hệ ong này đến thế hệ ong khác sinh sôi không dứt trong cùng một tòa thành trì, tạo nên cả một mê cung phức tạp khôn lường.
Trong những lối đi này, có lối dẫn thẳng vào buồng ngủ rộng rãi của ong vằn, có lối lại chẳng đi tới đâu. Dù thời gian trôi qua đã lâu, người ta vẫn có thể nhận ra dấu vết nhờ lớp bùn mịn nhẵn thín cùng hình dáng thuôn dài hình bầu dục. Ở trường hợp thứ nhất, buồng ngủ sâu bên trong từng là chốn trú ngụ của ong vằn bao giờ cũng bị một con Bích ong cái chiếm giữ. Ngoài lối đi hẹp phía trước, có một, hai, thậm chí ba con ong đực tá túc. Những vách ngăn bằng đất trong tổ đều là công lao của Bích ong, nó dựng lên cốt để ngăn cách các cư dân với nhau. Mỗi cư dân sở hữu một gian phòng khép kín riêng, mỗi con chiếm trọn một tầng.
Nếu như nơi ở không có buồng ngủ tít bên trong, không có căn phòng dành riêng cho ong cái mà chỉ gói gọn trong một ống dẫn đơn giản, thì số lượng buồng ong sẽ thay đổi theo đường kính của ống. Ở chỗ đường kính rộng nhất, một lứa trứng có thể lên tới bốn chiếc, mở đầu là một hoặc hai ong cái, tiếp theo là một hoặc hai ong đực. Thế nhưng rất hiếm khi xuất hiện trật tự đảo ngược, tức vài con đầu là ong đực còn các con cuối lại là ong cái. Lại có những cái kén đơn độc một giới tính, bất kể là đực hay cái. Nếu như trong buồng của ong vằn chỉ có duy nhất một cái kén, thì cái kén đó chắc chắn là của ong cái.
Tôi đã vô cùng chật vật mới tìm thấy vài trường hợp tương tự trong tổ của ong thợ đá mái hiên. Do Thạch Phong không đào lối đi mà chỉ xây buồng này chồng lên buồng khác, nên chuỗi trứng ngắn hơn. Trải qua năm này qua năm khác dưới sự lao động của cả bầy ong, tầng buồng ở ngày càng dày thêm. Những cái lỗ vốn do Thạch Phong đào — để chui ra khỏi buồng đón ánh mặt trời — nay biến thành lối đi được Bích ong khai khẩn. Trong những cụm cư dân ngắn ngủi này thường có đủ cả hai giới tính, và căn buồng ngủ sâu nhất từng thuộc về Thạch Phong nhất định sẽ do một con Bích ong cái chiếm giữ.
Bây giờ, chúng ta hãy xem xét những đoạn ống ngắn và tổ cũ của Noãn Thạch Thạch Phong. Trong một đoạn ống đủ dài, Bích ong sẽ chia trứng thành hai nhóm đực và cái rồi đẻ liền một mạch; còn trong chiếc ống ngắn hơn, nó sẽ chia trứng thành nhiều cụm nhỏ, mỗi cụm đều có cả hai giới tính. Người mẹ này dựa vào điều kiện của nơi trú ngụ tình cờ tìm được để sắp xếp việc sinh nở, nhưng bao giờ cũng đặt trứng ong cái vào căn phòng lớn từng là nơi ở của Thạch Phong và ong vằn.
Đáng kinh ngạc hơn cả là trong những chiếc tổ cũ của Diện Cụ Điều Phong, tôi đã thấy ong vò vẽ ba chạc và Giác Bích Phong cùng nhau tới khai khẩn. Hiếm hoi hơn, những chiếc tổ như vậy còn được Lạp Thức Bích Phong trưng dụng.
Trước hết hãy để tôi nói về tổ của Diện Cụ Điều Phong. Cửa tổ nằm trên một sườn dốc đất sét pha cát, chỉ là vài cái lỗ tròn nhỏ có đường kính chừng 1,5 xentimét. Bất kể công trình đã hoàn thành hay chưa, cánh cửa ấy vẫn luôn rộng mở. Bên trong mỗi lỗ nhỏ đều có một tiền sảnh nông nông, gần như nằm ngang, có đoạn uốn cong, có đoạn lại thẳng tắp. Chúng không chỉ được mài nhẵn cẩn thận mà còn được quét một lớp vôi loãng trắng nhờ nhờ.
Bên dưới tiền sảnh có vài cái hốc hình bầu dục. Trong đống đất, có một lối đi hẹp nối liền các hốc với tiền sảnh. Một khi công việc hoàn tất, những lối đi này sẽ bị trát kín bằng vữa. Ong vằn sẽ mài nhẵn cửa buồng ong sao cho tinh xảo, nhẵn nhụi và phẳng phiu hệt như tiền sảnh. Không những thế, nó còn cẩn thận phết lên đó một lớp vôi trắng còn thừa lúc trát vách ngăn. Sau khi xong xuôi, người ta chẳng còn cách nào phân biệt được lối vào của từng buồng ong nữa.
Buồng ong nằm gọn trong những hốc hình bầu dục đào sâu vào lòng đất. Vách ngăn nhẵn bóng như tiền sảnh và cũng được quét trắng xóa. Nhưng ong vằn không chỉ đơn thuần đào vài cái hốc bầu dục. Nó còn tiết ra một thứ dịch tựa như nước bọt tráng lên bốn vách phòng, không chỉ để trang trí mà còn để gia cố cho căn phòng thêm vững chãi. Chất lỏng này có thể thấm sâu vào đất cát vài milimét, biến cát sỏi thành lớp xi măng vô cùng kiên cố. Tiền sảnh nhờ thế mà được gia cố chắc chắn, toàn bộ công trình vững vàng đến mức có thể giữ nguyên hiện trạng hoàn hảo suốt nhiều năm trời.
Nhờ vách đất được nước bọt gia cố kiên cố như vậy, tôi đã dùng phương pháp làm mòn nhẹ để tách tổ ong ra khỏi lớp đất đá xung quanh. Tôi nhìn thấy trên một ống dẫn uốn cong treo lủng lẳng những khối củ hình bầu dục như những quả nho kéo dài, kết thành những dải hoa văn một hoặc hai tầng. Buồng ngủ nằm ngay trên từng khối củ đó, lối vào được ngụy trang khéo léo thông thẳng tới ống dẫn hoặc tiền sảnh. Vào mùa xuân, ong vằn phá hủy lớp đệm vữa chặn tiền sảnh để chui ra khỏi buồng, bước ra lối đi chung rồi tự do bay ra thế giới bên ngoài. Phía ngoài chiếc tổ bỏ hoang hình thành nên một chuỗi hốc hình quả lê, chỗ phình to chính là tổ cũ, còn đoạn thắt lại là lối thoát hiểm chật hẹp.
Những buồng ngủ hình quả lê treo lơ lửng này là những pháo đài bất khả xâm phạm. Gia đình Bích ong được mẹ xếp đặt chu tất bên trong, vừa an toàn lại vừa thoải mái. Cả ong vò vẽ ba chạc lẫn Giác Bích Phong cũng thường xuyên tới đây định cư. Lạp Thức Bích Phong tuy chê căn nhà này hơi chật chội, nhưng sau cùng vẫn thấy rất vừa lòng.
Tôi đã quan sát tỉ mỉ bốn mươi buồng ong tuyệt mỹ từng được một loài Bích ong sử dụng. Bích ong dùng vách ngăn ngang chia đại đa số buồng thành hai tầng, tầng trên gồm phần còn lại của căn phòng và lấn thêm một chút ra lối đi, còn tầng dưới chiếm trọn phần lớn căn buồng cũ của ong vằn. Bích ong dùng một đống bùn khô méo mó bít kín căn nhà hai tầng ngay tại tiền sảnh. So với ong vằn, Bích ong quả thực là một tay thợ vụng về! Vách ngăn và nút bít của nó quá đỗi tương phản với công trình tinh mỹ của ong vằn, chẳng khác nào một đống rác rưởi nằm chình ình trên mặt đá cẩm thạch nhẵn bóng.
Người quan sát ắt hẳn sẽ kinh ngạc trước thể tích quá đỗi chênh lệch giữa hai căn phòng của Bích ong. Tôi dùng chiếc ống có đường kính 5 milimét để đo đạc: cột cát ứng với buồng trên cao 15 milimét, trong khi cột cát ở đáy lại cao tới 50 milimét, thể tích buồng này chỉ xấp xỉ một phần ba buồng kia. Cái kén của Bích ong đực ở trên và cái kén của Bích ong cái ở dưới cũng chênh lệch chẳng kém. Hiếm hơn nữa, ở những lối đi dài còn xuất hiện kiểu sắp xếp chia làm ba tầng. Tầng đáy vì dành cho ong cái nên bao giờ cũng rộng rãi, còn các tầng trên nhét đầy ong đực và cứ thế hẹp dần.
Trước hết tôi xin nói về trường hợp thứ nhất phổ biến nhất. Đối với Bích ong, một cái hốc hình quả lê là một phát hiện lớn rất đáng tận dụng. Chỉ có đứa con cưng may mắn mới được hưởng diễm phúc ấy. Không gian thế này rõ ràng không thể nhét vừa hai con ong cái vì quá chật chội, nhưng nếu để hai con ong đực ở thì lại thành ra quá ưu ái cho cái giới tính vốn chẳng có đặc quyền này. Hơn nữa, số lượng giữa hai giới tính cũng phải giữ mức cân bằng. Vì thế Bích ong mẹ quyết định dành căn phòng dưới đáy to nhất, nhẵn nhụi nhất và phòng thủ tốt nhất cho một con ong cái. Còn gian nhà nát chật chội nhất trên đỉnh — tức phần mấp mô lấn ra lối đi — được chia cho ong đực. Hai loài Bích ong đã chi phối được giới tính của những quả trứng sắp đẻ, chia trứng thành hai nhóm đực và cái tùy theo sự giới hạn về điều kiện nơi ở. Vô số sự thật đã chứng minh điều này một cách không thể chối cãi.
Giữa vô vàn tổ của Diện Cụ Điều Phong, tôi mới chỉ bắt gặp tổ của Lạp Thức Bích Phong đúng một lần. Phần lớn các phòng vẫn còn ong vằn cư ngụ thì dĩ nhiên nó không dùng được, số buồng có thể tận dụng chỉ chiếm một góc nhỏ. Bích ong dùng vách ngăn bằng vữa xanh chia buồng của ong vằn làm ba phần, tầng đáy dành cho một con ong cái, còn hai tầng kia dành cho những con ong đực có kén nhỏ hơn đôi chút.
Tôi cũng từng phát hiện những ví dụ còn rõ rệt hơn thế. Hai loài Hoàng Ban Phong ở vùng chúng tôi — gồm Hảo Đấu Hoàng Ban Phong và Thất Xỉ Hoàng Ban Phong — đã chọn đủ loại vỏ ốc sên rỗng như ốc sên sọc, ốc sên đất sét, ốc sên đồng cỏ và ốc sên rừng làm tổ ấm cho con non. Trong số đó, vỏ loài ốc sên thông thường hay làm tổ trong đống đá và kẽ tường cũ là được chuộng nhất. Hai loài Hoàng Ban Phong này chỉ định cư ở vòng xoắn thứ hai của vỏ ốc, phần lõi quá hẹp ở giữa không dùng được. Vòng xoắn ngoài cùng lớn nhất cũng bị bỏ trống, nhìn từ cửa vỏ vào thì chẳng thể nào biết được bên trong có tổ ong hay không, trừ phi đập vỡ vòng vỏ cuối cùng mới phát hiện ra chiếc tổ kỳ lạ đang thu mình trong đường xoắn ốc.
Sau khi đập vỡ vỏ ốc, thứ đầu tiên đập vào mắt tôi là một vách ngăn ngang trộn lẫn giữa hạt cát mịn với nhựa cây tươi thu thập từ thông Aleppo và tuyết tùng. Lớp tiếp theo là một pháo đài dày cộp đắp bằng tạp chất tự nhiên. Đất cát, lá kim bách xù, cụm hoa của cây lá kim, phân ốc khô, vỏ ốc nhỏ, mẩu đất vụn, thứ gì chúng cũng vớ lấy dùng được. Kế tiếp là một vách ngăn bằng nhựa cây nguyên chất, mở ra căn phòng rộng rãi chứa một cái kén lớn. Sâu xuống dưới nữa là lớp vách ngăn thứ hai cũng bằng nhựa cây nguyên chất, một căn phòng nhỏ chứa một cái kén bé. Do hình dáng vỏ ốc khác nhau nên kích thước hai buồng cũng không đồng đều. Khi đường xoắn ốc tiến dần về phía miệng vỏ, lòng ống sẽ nhanh chóng đạt đường kính cực đại. Như vậy, tận dụng bố cục sẵn có của các khoang nhỏ, bầy ong chỉ cần đắp thêm vách ngăn mỏng là quyền sở hữu của buồng lớn phía trước và buồng nhỏ phía sau đã được an bài xong xuôi.
Nhân đây tôi cũng xin chỉ ra một ngoại lệ rất quan trọng: ong đực của Hoàng Ban Phong thường có vóc dáng to lớn hơn ong cái. Nói chính xác thì toàn bộ những loài ong dùng nhựa cây làm vách ngăn trong vỏ xoắn ốc đều rơi vào trường hợp này. Tôi từng thu thập hàng chục chiếc tổ dạng ấy. Ở đa số các tổ, cả hai giới tính đều cùng tồn tại. Và con ong cái có vóc dáng nhỏ bé hơn sẽ chiếm căn phòng phía sau, còn con ong đực to lớn hơn lại ở căn phòng phía trước. Những chiếc vỏ ốc nhỏ hơn, hoặc đoạn sâu bên trong bị xác ốc khô bịt kín, thì chỉ có độc một phòng; đôi khi cả hai phòng đều cùng bị ong đực hoặc ong cái chiếm cứ, đôi khi lại chỉ có duy nhất một con đực hoặc một con cái. Tình huống thường thấy nhất vẫn là cả hai giới cùng xuất hiện, trong đó ong đực ở đằng trước, ong cái ở đằng sau. Những con Hoàng Ban Phong biết nhào nặn nhựa cây và sống trong vỏ ốc này hoàn toàn có thể điều tiết khoảng cách giữa hai giới tính một cách có quy luật dựa trên điều kiện của cấu trúc xoắn ốc.
Dẫu vậy, tôi buộc phải thừa nhận một thất bại của mình. Trong một thân sậy tựa bên tường viện có một tổ Giác Bích Phong rất đáng để nghiên cứu. Nó trú ngụ trong một đoạn sậy có đường kính trong 11 milimét, nửa chiều dài của ống phân bố mười ba chiếc tổ, dù ngoài cửa đã có nút bít chặn lại, ít nhất nhìn bề ngoài thì việc đẻ trứng của Bích ong tại đây đã hoàn toàn trọn vẹn.
Thế nhưng, sự phân bổ số trứng lần này lại vô cùng kỳ lạ. Đầu tiên, có một vách ngăn nằm cách đốt sậy đáy một khoảng nhất định, vuông góc với trục giữa của ống sậy. Một con ong cái ở trong gian phòng lớn này. Bích ong đổi ý vì đường kính ống quá lớn; rốt cuộc nếu chỉ xếp duy nhất một lứa trứng theo hàng dọc thì quá đỗi lãng phí. Thế là trên bức vách ngăn vừa dựng xong, nó lại dựng tiếp một vách ngăn dọc vuông góc, chia tầng thứ hai thành hai phòng: gian lớn dành cho ong cái, gian nhỏ dành cho ong đực. Kế tiếp, nó lại xây thêm vách ngăn ngang thứ hai cùng một vách ngăn dọc thứ hai, lại ngăn ra hai phòng lớn nhỏ khác nhau; phòng lớn cũng dành cho ong cái, phòng nhỏ dành cho ong đực. Kể từ tầng thứ ba, vị kiến trúc sư dường như bị chính đồ án của mình làm cho rối trí; Bích ong từ bỏ sự chuẩn xác về mặt hình học. Thao tác hỗn loạn khiến các vách ngăn ngày càng xiên xẹo. Điểm duy nhất không đổi là tầng nào cũng gồm hai gian tổ một lớn một nhỏ, lần lượt bố trí một Bích ong cái và một Bích ong đực.
Thế nhưng bắt đầu từ đáy gian tổ thứ mười một, vách ngăn ngang lại vuông góc với trục giữa. Bích ong bắt đầu lặp lại công việc như ở tầng đáy, không có vách ngăn dọc, chỉ một gian tổ thênh thang chiếm trọn cả thân sậy; kẻ cư ngụ bên trong rõ ràng là một con ong cái. Cuối cùng, Bích ong dựng một vách ngăn ngang cùng một vách ngăn dọc, ngăn thành gian tổ số 12 và số 13 dành riêng cho hai con ong đực.
Tình trạng lẫn lộn hai giới tính kiểu này thực sự rất kỳ quặc. Điều ta đã biết là, khi Bích ong phân tách nghiêm ngặt hai giới tính theo một chuỗi thẳng hàng chuẩn xác, hẳn đường kính ống phải rất hẹp, đòi hỏi các gian tổ phải xếp chồng nối tiếp nhau. Đường ống kể trên có đường kính khác hẳn những gì thường gặp trong công việc thường ngày của nó. Công trình kiến trúc phức tạp và gian nan này, nếu vòm đỉnh quá rộng thì có lẽ sẽ không đủ kiên cố. Vì thế, Bích ong xây thêm vài vách ngăn để chống đỡ mái vòm, và chính các vách ngăn đan xen này đã tạo ra những gian tổ bất quy tắc. Thế là các bà mẹ liền căn cứ vào dung tích lớn nhỏ khác nhau để chi phối giới tính của từng quả trứng.
