Chương 5
Chương 5: Sát cơ ẩn trong lời tiên tri
Đăng ngày 06/10/2026
19
Thời Tùy mạt Đường sơ, anh hùng hào kiệt xuất hiện lớp lớp. Trong "Tùy Đường diễn nghĩa" có những danh xưng như "Tứ mãnh", "Tứ tuyệt", "Thập tam kiệt", trong đó "Tứ mãnh" gồm có: đứng đầu là Kim thế Mạnh Bôn La Sĩ Tín, thứ hai là Thiết thương đại tướng Lai Hộ Nhi, thứ ba là Tứ bảo đại tướng Thượng Sư Đồ, thứ tư là Bát mã tướng quân Tân Văn Lễ. La Sĩ Tín sức mạnh vô song, người đời ngỡ hắn là kẻ tứ chi phát triển mà đầu óc giản đơn, nhưng thực tế chẳng phải vậy, hiềm nỗi trời ghen tài bạc mệnh, hắn qua đời khi tuổi đời còn rất trẻ. Còn như Tần Quỳnh Tần Thúc Bảo, danh tiếng chốn dân gian lại càng vang dội, mức độ truyền kỳ vượt xa những gì văn chương miêu tả, thứ bậc võ nghệ mà một số tiểu thuyết xếp cho hắn cũng có phần thiếu công bằng. Chuyện về hai người này có rất nhiều, trước hết hãy kể về trận chiến đã làm nên tên tuổi của cả hai.
Năm Đại Nghiệp thứ mười nhà Tùy, La Sĩ Tín vẫn còn vị thành niên, mới mười lăm tuổi. Điều khó tin là từ năm mười bốn tuổi, La Sĩ Tín đã vượt qua bài sát hạch của Trương Tu Đà. Khi ấy Trương Tu Đà chuẩn bị cất quân thảo phạt nghĩa quân, La Sĩ Tín tự đề cử mình, xin được ra sức dưới trướng. Trương Tu Đà nhìn đứa trẻ mười bốn tuổi đứng trước mặt mà dở khóc dở cười, nhưng không muốn thẳng thừng từ chối, bèn bảo vóc người nhỏ bé như hắn, giáp trụ cỡ nhỏ nhất trong quân mặc vào cũng còn quá rộng. La Sĩ Tín đáp: "Có gì khó đâu?" Dứt lời, hắn liền khoác liền hai bộ giáp lên người, đeo ống tên rồi tung mình lên ngựa, mọi người còn chưa kịp định thần thì La Sĩ Tín đã bắn một phát tên trúng hồng tâm bia ngắm cách xa trăm thước. Với trải nghiệm của Trương Tu Đà, nhân vật lợi hại nào mà chưa từng thấy qua, nhưng biểu hiện của thiếu niên trước mắt vẫn khiến ông kinh ngạc không thôi, lập tức quyết định giữ La Sĩ Tín lại bên mình. Vậy La Sĩ Tín dũng mãnh tới mức nào? Người khác ra trận giết địch đều mang thủ cấp về lĩnh thưởng, riêng La Sĩ Tín vì giết địch quá nhiều, thủ cấp khó mang theo hết nên cắt mũi để thay thế, thói quen này khiến quân địch nghe danh đã khiếp vía!
Tháng Chạp cùng năm, thủ lĩnh nghĩa quân Lư Minh Nguyệt khởi nghiệp từ quận Trác dẫn mười vạn đại quân ồ ạt đánh vào Hạ Bi (có thuyết nói là Chúc A), Trương Tu Đà dẫn hơn một vạn quân tới trấn áp. Binh lực chênh lệch dường ấy vẫn chưa phải là điều nguy cấp nhất, dù sao quan binh cũng được huấn luyện bài bản, ngờ đâu hai quân đối đầu hơn mười ngày, lương thảo của quân Trương Tu Đà cạn kiệt. Trong cơn nguy khốn, Trương Tu Đà chỉ còn biết vắt óc nghĩ kế rút quân, bèn hỏi thuộc hạ: "Binh lực của chúng ta đơn mỏng, Lư Minh Nguyệt biết rất rõ. Nay nếu chúng ta rút quân, hắn ắt nóng lòng dẫn đại quân truy kích, lực lượng phòng thủ đại doanh địch tất sẽ sơ hở. Nếu ta tập kích doanh trại của chúng, chưa biết chừng có thể xuất kỳ bất ý giành thắng lợi. Nhưng các vị đều rõ, nhiệm vụ này vô cùng nguy hiểm, ai dám gánh vác trọng trách này?" Chúng tướng sĩ nhìn nhau không ai dám cất lời. Có bản lĩnh mới dám nhận việc khó, lúc này Tần Quỳnh và La Sĩ Tín nhìn nhau một cái, đồng thời bước lên một bước: "Mạt tướng xin đi thử một phen!"
Đêm hôm ấy trời tối mịt, Trương Tu Đà dẫn đại quân bắt đầu rút lui, Tần Quỳnh và La Sĩ Tín dẫn một nghìn tinh binh mai phục trong bụi lau sậy ngoài trại địch. Thấy Lư Minh Nguyệt dẫn quân rời doanh truy sát dọc đường, Tần Quỳnh và La Sĩ Tín liền dẫn một toán quân men theo hàng rào vượt vào trong trại, trong đại doanh chỉ còn số ít binh lính ở lại giữ trại, thấy có người tập kích thì kinh hãi tột độ, đang định chống cự thì Tần Quỳnh và La Sĩ Tín đã chém tới trước mặt, tay nâng đao hạ, hơn mười đầu người rơi xuống đất, trong trại tức khắc hỗn loạn. Hai người hợp lực mở toang cổng trại, đám thuộc hạ đợi sẵn bên ngoài đã sớm nóng lòng lập tức ùa vào, theo kế hoạch định sẵn phóng hỏa khắp nơi, toàn bộ đại doanh chìm trong biển lửa. Địch quân vốn đã hoảng loạn nay lại càng rối bời, nhất thời không biết nên cứu hỏa hay đánh địch trước. Lư Minh Nguyệt đuổi theo đã xa, nghe phía sau truyền lại tiếng huyên náo, quay đầu nhìn lại thấy đại doanh của mình lửa bốc ngút trời, bèn lập tức hạ lệnh dừng truy kích, quay về cứu hỏa. Đúng lúc này, Trương Tu Đà đã dẫn quân quay lại đánh giết, cùng đám người Tần Quỳnh, La Sĩ Tín hai mặt giáp kích, đánh cho quân Lư Minh Nguyệt tan tác tơi bời, Lư Minh Nguyệt vất vả lắm mới dẫn hơn trăm kỵ binh phá vòng vây tháo chạy, coi như nhặt lại được một mạng. Trận chiến lấy ít thắng nhiều nhờ sự phối hợp ăn ý giữa Trương Tu Đà và hai người họ đã khiến sĩ khí của binh sĩ triều Tùy trên khắp các chiến trường dẹp loạn trong nước phấn chấn hẳn lên, cục diện phản loạn ở Sơn Đông và Hà Bắc cũng sáng tỏ đi nhiều.
Tùy Dạng Đế nhận được tiệp báo từ chiến trường, trong lòng vô cùng an ủi, nghĩ đến Trương Tu Đà nhiều năm dẹp loạn lập công hiển hách, La Sĩ Tín tuổi đời còn trẻ mà dũng cảm thiện chiến, cho rằng tấm gương thế này ắt phải biểu dương, hạ lệnh ba quân học tập, bèn vội vã sai họa sĩ cung đình vẽ lại hình ảnh chiến đấu của Trương Tu Đà và La Sĩ Tín, rồi chuyển các bức họa lên Nội Sử Tỉnh.
Ngay lúc quân Tùy các nơi đang tích cực trấn áp các cuộc khởi nghĩa nông dân, một lời sấm truyền bắt đầu lan truyền rầm rộ, phá vỡ sự yên bình ngắn ngủi chốn triều đình. Số là khi Tùy Dạng Đế tiến hành đông chinh Cao Câu Ly lần thứ ba, có gặp một phương sĩ tên là An Già Đà, người này tự xưng tinh thông đồ sấm, tâu với Tùy Dạng Đế rằng đồ sấm chỉ rõ "Đương hữu Lý thị ứng vi thiên tử", đồng thời đưa ra một kiến nghị táo bạo mà tàn độc: vì sự vững bền của cơ nghiệp họ Dương, nên giết sạch những người mang họ Lý trong thiên hạ!
Tùy Dạng Đế nghe xong hết sức chấn động. Thời cổ đại, đa phần người ta đều khá mê tín, bậc cai trị do nhọc nhằn lập nên cơ nghiệp nên đối với loại sấm ngôn này càng đặc biệt nhạy cảm. Thời buổi xã hội biến động, sấm ngôn lại càng lưu hành rộng hơn thời thái bình, thường là bởi lòng người thiếu cảm giác an toàn đối với hiện thực, từ đó dự đoán về sự thay triều đổi đại trong tương lai. Tuy ngày nay nhìn lại lịch sử, sấm ngôn phần lớn là công cụ thao túng dư luận chính trị của kẻ có dã tâm, nhưng quả thực cũng có những tiền lệ ứng nghiệm một cách trớ trêu. Chẳng hạn Tần Thủy Hoàng vì cầu tiên hỏi thuốc mà tìm được một cuốn sách, trong đó có câu "Vong Tần giả, Hồ dã", Tần Thủy Hoàng ngỡ "Hồ" là chỉ Hung Nô, bèn vừa xây Trường Thành vừa đem quân đánh Hung Nô, bận rộn không ngơi, rốt cuộc ai ngờ được triều Tần cuối cùng lại sụp đổ trong tay đứa con út Hồ Hợi của ông.
Thế nên, một câu sấm "Đương hữu Lý thị ứng vi thiên tử" bày ra trước mắt, Tùy Dạng Đế làm sao không hoang mang cho được. Bản thân Tùy Dạng Đế vốn là kẻ cực kỳ tự phụ, nhưng tình hình trong ngoài nước đã rối như tơ vò, ông đối với năng lực trị quốc của mình ít nhiều cũng chột dạ, lại thêm sau cuộc phản loạn của Dương Huyền Cảm, ngày nào ông cũng có cảm giác dưới điện đang có người dòm ngó ngai vàng. Vậy nay phải làm sao? Chẳng lẽ thật sự đại khai sát giới, diệt sạch toàn bộ họ Lý trong thiên hạ? Đây tuyệt đối là chuyện hoang đường viển vông, tàn bạo như Tùy Dạng Đế cũng chẳng thể làm ra điều ấy. Vậy thì vờ như không nghe thấy, để mặc mọi chuyện trôi qua? Không được, trong lòng ông luôn nơm nớp lo sợ có kẻ muốn mưu hại trẫm! Giữa tin và không tin, giữa giết và không giết, Tùy Dạng Đế lòng cồn cào như lửa đốt, rốt cuộc là kẻ họ Lý nào mưu toan làm phản? Nghĩ tới nghĩ lui, ông vẫn thấy kẻ địch ắt ẩn nấp trong nội bộ tập đoàn quý tộc Quan Lung, thứ dân áo vải dấy binh khởi nghĩa chẳng thể làm nên trò trống gì, bèn sai người ngầm rà soát hoàng thân quốc thích và triều thần mang họ Lý.
Tập đoàn quý tộc Quan Lung bắt nguồn từ Bát đại Trụ quốc, Thập nhị Đại tướng quân thời Tây Ngụy. Tám vị Trụ quốc cùng mười hai vị Đại tướng quân này không chỉ nắm giữ mệnh mạch quân sự của vương triều mà còn tạo dựng nên hạt nhân thống trị quốc gia, là hai mươi gia tộc hiển hách bậc nhất toàn vùng Quan Trung. Trong đó, mang họ Lý có ba nhà: một là Ngụy quốc công Lý Bật, một trong Bát đại Trụ quốc, tằng tôn của ông chính là Lý Mật từng theo Dương Huyền Cảm tạo phản, sau khi Dương Huyền Cảm bại trận thì Lý Mật bị bắt rồi trốn thoát, lúc này đang bôn tẩu nơi chân trời góc bể; thứ hai cũng là một trong Bát đại Trụ quốc, Đường quốc công Lý Hổ, cháu nội của ông chính là nhân vật lẫy lừng Lý Uyên; thứ ba là một trong Thập nhị Đại tướng quân, Dương Bình công Lý Viễn, cháu nội của ông là Lý Mẫn, khi đó đang giữ chức Tướng tác giám. Vốn là những quý tộc quyền thế hiển hách, nay bỗng chốc trở thành những phần tử khả nghi mưu đồ soán nghịch. Ba hậu duệ quý tộc họ Lý này vạn lần không ngờ nổi, ngồi yên trong nhà mà tai họa từ trên trời giáng xuống. Họa đã từ trời giáng xuống thì chẳng ai cản nổi.
Lời đồn "Lý thị đương vi thiên tử" khiến Tùy Dạng Đế ngủ không yên giấc, lập tức rút ra một danh sách từ chốn hoàng thân quý tộc, trong đó Lý Mật, Lý Uyên và Lý Mẫn đều có tên. Ngày nay chúng ta nhìn danh sách ấy hẳn sẽ thốt lên: Dương Quảng thật tinh đời! Chính Lý Uyên sau này đoạt lấy thiên hạ của ngươi đấy! Mau giết hắn đi! "Hậu chi thị kim, diệc do kim chi thị tích", người sau nhìn người nay cũng như người nay nhìn về người xưa, chúng ta không thể đoán định lịch sử ngày nay sẽ đi về đâu, thì Tùy Dạng Đế khi ấy cũng chẳng thể biết cuối cùng chính Lý Uyên là người kết liễu vận mệnh Đại Tùy. Trong mắt Dương Quảng lúc bấy giờ, vị Tướng tác giám Lý Mẫn bên cạnh mới chính là "ứng viên số một" cho việc soán đoạt giang sơn. Vì sao lại nói như vậy?
Trước hết là bởi xuất thân hiển hách của Lý Mẫn. Xét về thân phận tổ tiên, Lý Mật và Lý Uyên vượt xa Lý Mẫn, dẫu sao cụ cố hay ông nội của họ cũng là Thượng Trụ quốc, còn ông nội Lý Mẫn chỉ là Đại tướng quân, vả lại Đại tướng quân có tới mười hai người. Nhưng chớ quên phong thủy luân chuyển, người chú của ông nội Lý Mẫn là Lý Mục mới thật ghê gớm. Thời điểm Dương Kiên còn làm Tể tướng phụ chính Bắc Chu, có ý đồ soán đoạt thiên hạ, bấy giờ bị bọn lão thần Uất Trì Huýnh dấy binh chống cự, chính nhờ Lý Mục kiên quyết đứng về phía Dương Kiên nên triều Tùy mới được dựng lập. Theo nghĩa này, Lý Mục chính là đệ nhất công thần khai quốc triều Tùy, ngay cả khi Lý Mục vào chầu, Dương Kiên cũng phải đích thân đứng dậy đón tiếp. Lý Mục không chỉ nhờ đó mà an tọa ghế Thái sư, tất cả con cháu của ông, cho đến cả đứa trẻ còn ẵm ngửa cũng được bái quan Nghi đồng, một nhà có hơn trăm người giữ vị trí cao trong triều, vinh quang hiển hách xưa nay chưa từng thấy, có thể coi là gia tộc quý tộc đệ nhất triều Tùy chẳng sai. Huống hồ phụ thân của Lý Mẫn là Lý Sùng cũng là nhân vật anh hùng, năm Khai Hoàng thứ ba (583) khi giữ chức U Châu Tổng quản, vì kháng cự quân Hung Nô xâm lược mà anh dũng hy sinh. Cho nên Lý Mẫn từ thuở nhỏ đã là nhân vật có tiếng tăm, được Tùy Văn Đế Dương Kiên nuôi dưỡng trong cung, tập tước Quảng Tông Huyện công. Nhìn như vậy, chẳng phải thế gia của Lý Mật và Lý Uyên kém xa rồi sao?
Thêm nữa, Lý Mẫn còn là hoàng thân quốc thích chính tông, thê tử kết tóc của hắn chính là cháu ngoại của Tùy Dạng Đế, người cháu ngoại được Tùy Văn Đế yêu chiều nhất: Vũ Văn Nga Anh. Đại tỷ của Tùy Dạng Đế là Dương Lệ Hoa năm mười hai tuổi được Bắc Chu Vũ Đế Vũ Văn Ung ban hôn cho Thái tử Vũ Văn Vận. Đáng lẽ sau khi Vũ Văn Vận tức vị, Dương Lệ Hoa trở thành Hoàng hậu Bắc Chu danh chính ngôn thuận, cuộc sống trôi qua êm ả, nào ngờ Vũ Văn Vận suốt ngày đắm chìm trong tửu sắc, căn bản chẳng đoái hoài chính sự, lại còn lập tới năm hoàng hậu, khiến mối lương duyên tuyệt hảo tan nát như vụn ngọc. Chưa dừng lại ở đó, cha đẻ lại đoạt lấy thiên hạ của nhà chồng, trong lòng Dương Lệ Hoa uất ức khôn xiết, từ đó sinh lòng hiềm khích với Dương Kiên. Dương Lệ Hoa chỉ có duy nhất một người con gái tên là Vũ Văn Nga Anh, Dương Kiên vốn ôm lòng áy náy với con gái nên càng thêm nuông chiều Vũ Văn Nga Anh. Vũ Văn Nga Anh đến tuổi cập kê, không như nữ tử tông thất bình thường hôn sự do hoàng đế định đoạt, Tùy Văn Đế cho phép nàng tự chọn trượng phu. Nghe nói Dương Lệ Hoa bấy giờ mở cuộc tuyển chọn ở cung Hoằng Thánh, buông một bức rèm the, cùng con gái ngồi phía sau, để các công tử quý tộc tham gia đứng trước rèm tự giới thiệu và phô diễn tài nghệ. Đám công tử quý tộc ai mà chẳng muốn kết thân với nhà hoàng đế, mỗi ngày có hàng trăm người đến ứng tuyển, liên tiếp mấy ngày liền mà chẳng một ai lọt vào mắt xanh của Dương Lệ Hoa và Vũ Văn Nga Anh. Mãi cho đến khi Lý Mẫn xuất hiện, cách bức rèm the trắng, chàng trai khôi ngô tuấn tú, phong độ ngời ngời khiến Vũ Văn Nga Anh rung động con tim. Lý Mẫn không chỉ tuấn tú mà còn am tường nhạc cụ, giỏi cưỡi ngựa bắn cung. "Chỉ vì giữa đám đông lỡ nhìn nhau một ánh mắt, mà trọn đời khó quên bóng hình", Lý Mẫn nổi bật hẳn lên, trở thành cháu rể của Tùy Văn Đế, tiền đồ lại càng như mặt trời ban trưa.
Tóm lại, Lý Mẫn bị coi là kẻ khả nghi nhất ứng với sấm ngôn. Ban đầu Tùy Dạng Đế vì niệm tình cháu ngoại gái nên muốn Lý Mẫn tự sát để tỏ rõ sự trong sạch, nhưng Lý Mẫn đời nào chịu uổng mạng như thế? Trong lúc nguy cấp, hắn tìm đến đường thúc Lý Hồn để bàn bạc đối sách. Không bàn thì thôi, hễ bàn lại phạm vào đại kỵ, càng khắc sâu mối nghi ngờ trong lòng Tùy Dạng Đế: phụ thân của Lý Hồn chính là đệ nhất công thần khai quốc triều Tùy Lý Mục đã nói ở trên, thế lực họ Lý lớn mạnh chỉ đứng sau họ Dương!
Tệ hại hơn, Lý Hồn trước đó vốn có hiềm khích với anh vợ là Vũ Văn Thuật. Vũ Văn Thuật vừa thấy Tùy Dạng Đế sinh lòng nghi kỵ đối với Lý Hồn và Lý Mẫn thì trong lòng mừng rỡ khôn xiết, ông trời rốt cuộc đã mở mắt! Hắn liền chạy đến tâu với Tùy Dạng Đế: "Từ xưa đến nay, lời phương sĩ ắt có căn nguyên, không thể không tin. Không giấu gì bệ hạ, Lý Hồn gần đây hành tung vô cùng khả nghi, suốt ngày tụ tập với bọn Lý Mẫn trong phủ, lại còn lén lút đuổi hết tả hữu, chẳng biết bàn mưu tính kế điều gì, e là chuyện mờ ám không thể đưa ra ánh sáng. Bệ hạ nhất định phải cẩn trọng, kẻo sau này hối không kịp!" Tùy Dạng Đế nghe xong nổi trận lôi đình, lập tức lệnh cho Vũ Văn Thuật phụ trách điều tra việc này.
Khoác lên mình tội danh vô căn cứ, cả nhà Lý Hồn và Lý Mẫn đều bị tống vào ngục tối, khiến toàn thể triều đình chấn động dữ dội. Thủ đoạn của Vũ Văn Thuật lúc này lại càng thêm đê hèn, hắn dường như rất hiểu sự mềm yếu của nữ nhân, hỏi cung không tìm Lý Hồn, không tìm Lý Mẫn, mà nhằm thẳng vào Vũ Văn Nga Anh, buông lời đe dọa: "Phu nhân à, người là cháu ngoại của hoàng đế, mất Lý Mẫn thì sau này lo gì không tìm được tấm chồng tốt. Lý Mẫn và Lý Hồn đều là những kẻ nguy hiểm trong đồ sấm, không còn đường sống nữa đâu. Việc cấp bách lúc này, phu nhân nên nghe ta một lời, tìm cách tự bảo toàn bản thân mới là người đàn bà thông minh."
Vũ Văn Thuật giở thủ đoạn hèn hạ này dĩ nhiên có phần vì đón ý hoàng đế, song phần lớn là do tư thù với Lý Hồn, bụng dạ hắn vốn đen tối, thấy người khác yên ổn là không chịu được. Trong lịch sử loại người này đâu có ít: lũ khốc lại thời Tần Hán, đám thái giám Cẩm y vệ, Đông xưởng, Tây xưởng triều Minh, bọn họ vì muốn hãm hại người khác mà tinh thông việc thêu dệt tội danh, dùng nhục hình ép cung, đánh đập bức cung, tống tiền vơ vét, bất kể thủ đoạn bẩn thỉu nào cũng dám dùng, chỉ cần thấy người khác sống không bằng chết là cảm thấy khoái trá tột cùng, tâm lý biến thái ấy người thường khó lòng hiểu nổi. Đám người này tựa như cơn dịch bệnh lớn, có thể khuấy đảo thiên hạ ra vẻ chướng khí mù mịt, rốt cuộc chính quyền có phải sụp đổ trong tay đám này hay không còn chưa biết chừng. Nhưng tục ngữ có câu: "Thiện ác đáo đầu chung hữu báo, cao phi viễn tẩu dã nan đào", "Người ác người sợ trời không sợ, người hiền người khinh trời chẳng khinh", gieo nhân nào gặt quả nấy, Vũ Văn Thuật và hai người con trai Vũ Văn Hóa Cập, Vũ Văn Trí Cập về sau phải chịu quả báo nhãn tiền, đoạn này xin tạm gác lại.
Lại nói tiếp về Vũ Văn Nga Anh. Vũ Văn Nga Anh từ nhỏ ngậm thìa vàng mà lớn lên, đã từng nếm trải cảnh ngộ thế này bao giờ, từ khi vào ngục tối tăm mấy ngày liền, tinh thần suy sụp đến mức hoảng loạn, nghe những lời này của Vũ Văn Thuật thì đầu óc hoàn toàn mê muội: "Xin đại nhân cầu xin với cữu cữu tha mạng, chỉ cần tha cho ta một con đường sống, bảo ta làm gì ta cũng cam lòng." Vũ Văn Thuật mừng thầm mưu kế đã thành, bèn bảo Vũ Văn Nga Anh: "Bà có thể khai thế này: Nhà họ Lý quả thực có ý mưu phản, Lý Hồn từng nói với phu quân Lý Mẫn của bà rằng: 'Tên của cháu đã ứng vào đồ sấm của phương sĩ, thiên hạ ắt thuộc về cháu. Nay bệ hạ cùng binh độc vũ, bách tính khổ không xiết, đây cũng là ý trời muốn diệt vong Đại Tùy. Nếu bệ hạ lại đông chinh Cao Câu Ly, cháu và chú tất sẽ được phong làm đại tướng, mỗi người thống lĩnh hai vạn binh mã, gom lại là khoảng năm vạn. Lại thêm anh em con cháu nhà ta đông đúc, đến lúc đó kêu gọi bọn họ tòng quân, với bối cảnh nhà họ Lý ta, ai nấy đều có thể làm chủ soái. Bấy giờ chia quân đóng ở các cánh, đợi khi thời cơ chín muồi, chú và cháu trước hết dẫn quân tập kích ngự doanh của bệ hạ, rồi anh em con cháu ở các cánh quân hưởng ứng, bắt trọn tướng lĩnh các đạo. Trong vòng một ngày, thiên hạ ắt về tay họ Lý chúng ta.'" Đây chẳng phải trắng trợn xúi giục Vũ Văn Nga Anh mưu sát phu quân hay sao? Vũ Văn Nga Anh đâu có ngốc nghếch, làm sao có thể đồng ý?
Vạn lần không ngờ nàng lại thực sự đồng ý! Con người một khi bị dày vò đến bờ vực thì lý trí tiêu tan, lương tri rũ bỏ, giới hạn đạo đức chẳng còn, điều gì cũng dám làm ra. Lúc này trí khôn của Vũ Văn Nga Anh đã cạn kiệt, không những bảo sao nói vậy, nàng còn yêu cầu Vũ Văn Thuật đọc lại một lượt để tự tay chép từng chữ, tránh bỏ sót. Tùy Dạng Đế cầm tờ khẩu cung trong tay, xúc động đến rơi lệ, nắm chặt tay Vũ Văn Thuật bảo: "Nếu không có thông gia ra tay, giang sơn xã tắc Đại Tùy của trẫm coi như xong rồi!" Đáng thương thay, tính mạng của ba mươi hai người vô tội thuộc hai nhà Lý Hồn, Lý Mẫn và toàn tông tộc đều uổng mạng trong tay Vũ Văn Nga Anh, thân quyến trong vòng tam tộc cũng bị lưu đày ra ngoài Lĩnh Nam. Vũ Văn Nga Anh cứ ngỡ mình có thể bảo toàn tính mạng, ngờ đâu mấy tháng sau vẫn nhận được một bầu rượu độc do chính người cậu ruột Tùy Dạng Đế ban cho, cuối cùng hương tiêu ngọc vẫn.
Chỉ một câu sấm ngôn đã diệt sạch gia tộc Lý Mục, đệ nhất quý tộc Quan Lung, vụ án này không nghi ngờ gì là kỳ án oan khuất lớn nhất triều Tùy. Thế nhưng Tùy Dạng Đế không ngờ rằng, giang sơn xã tắc của mình chẳng những không vì tiêu diệt Lý Hồn và Lý Mẫn mà trở nên vững bền, ngược lại còn khiến toàn thể huân quý run rẩy sợ hãi, chốn triều đình người người tự thấy nguy nan, mỗi sáng thức dậy đều phải sờ lại xem đầu trên cổ còn hay mất, chẳng còn bụng dạ nào mà dốc lòng làm việc.
Sau khi Lý Hồn và Lý Mẫn bị xử tử, Tùy Dạng Đế vẫn chưa thôi nghi kỵ, ông lại thấy Lý Uyên rất có phong thái thiên tử. Như đã nói ở trước, Lý Uyên xuất thân hiển hách, tổ phụ là Lý Hổ, một trong Bát đại Trụ quốc. Ngoài ra ông còn có quan hệ thân thích với Tùy Dạng Đế, mẫu thân của ông và mẫu thân của Tùy Dạng Đế là chị em ruột, hai người vốn là anh em bạn dì. Bấy giờ, Lý Uyên đang phụng mệnh trấn thủ quận Hoằng Hóa (nay thuộc các huyện Khánh Dương, Hoa Trì tỉnh Cam Túc), nắm binh quyền tương đối độc lập. Tùy Dạng Đế triệu Lý Uyên vào chầu, Lý Uyên chỉ muốn trốn càng xa càng tốt, chẳng lẽ lại ngàn dặm dâng nộp đầu mình? Lập tức cáo bệnh để giữ mạng!
Tùy Dạng Đế trong lòng càng thêm ngờ vực, bèn gọi cháu gái của Lý Uyên là Vương phi tần vào trước mặt tra hỏi: "Cậu của ngươi là thế nào, hạ chiếu gọi vào chầu mà dám chậm trễ sao?" Vương thị đành biện bạch: "Cậu thần nhiều năm chinh chiến bên ngoài, e là thân thể mệt mỏi, tích tụ thành bệnh, bằng không đã sớm vào bái kiến bệ hạ rồi." Tùy Dạng Đế nổi máu tàn độc, buông lời: "Sao khéo ngã bệnh thế, sao không thấy hắn bệnh chết đi?" Vương thị sợ đến biến sắc mặt mày, không biết ứng đối ra sao. Lý Uyên nghe ngóng được chuyện ấy, càng thêm tin chắc Tùy Dạng Đế đã nổi sát tâm, nhất định phải tìm kế tự bảo toàn tính mạng. Thế là ông bắt đầu chểnh mảng chính sự, nhận hối lộ, suốt ngày ở nhà chìm trong men rượu và hoan lạc. Tùy Dạng Đế nghe xong trái lại an lòng, tưởng rằng kẻ này bất quá chỉ là một tên bị thịt vô dụng! Rất tốt, trẫm rất hài lòng!
Một màn thủ đoạn này của Tùy Dạng Đế tuy khiến bản thân ông yên tâm, nhưng lại đặt giang sơn Đại Tùy lên đầu trứng. Bao nhiêu trung thần lương tướng như Lý Uyên chẳng dám hăng hái tận tụy vì nước nữa, chỉ dám ở nhà tiêu cực lười nhác, vết rạn nứt nội bộ tập đoàn thống trị khó lòng hàn gắn. Đối với quốc gia, đây là một thảm họa âm thầm không tiếng động, chính cuộc triều Tùy từ đó ngày một lụn bại, trượt dốc không phanh.
