Chương 7
Chương 7: Hành trình xin việc ở Ngõa Cương trại của Lý Mật
Đăng ngày 06/10/2026
19
Lịch sử Tùy Đường cực kỳ thú vị
Chuyến tìm việc ở Ngõa Cương trại của Lý Mật
Một, Lý Mật bôn đào tới Ngõa Cương trại
Một làn sóng khởi nghĩa mới bùng lên dữ dội sau khi Tùy Dượng Đế rời khỏi Lạc Dương. Vì sao việc Tùy Dượng Đế xuôi nam lại vấp phải sự phản đối kịch liệt của đông đảo triều thần? Thực tế, những đại thần này có khứu giác chính trị vô cùng nhạy bén, họ hiểu rằng một khi Tùy Dượng Đế xuống phía nam thì chẳng khác nào phát đi một tín hiệu chính trị cho các thế lực đang rắp tâm mưu đồ: Tùy Dượng Đế đã từ bỏ quyền kiểm soát thực tế đối với các vùng Trung Nguyên, Sơn Đông, tạo cơ hội cho những kẻ có dã tâm thừa cơ hành động. Quả nhiên, sau khi Tùy Dượng Đế tới Giang Đô, các cuộc khởi nghĩa nông dân ban đầu đã nhanh chóng chuyển hóa thành phong trào tập thể nổi dậy của các hào môn vọng tộc, quân phiệt cùng giới huân quý.
Thời loạn Tùy Đường đầy sóng gió chính thức mở màn, mười tám lộ phản vương, sáu mươi tư lộ khói lửa đua nhau xuất hiện, Trung Nguyên chao đảo, thiên hạ phân tranh, anh hùng trục lộc, hươu chết về tay ai vẫn còn là một ẩn số. Những câu chuyện kinh tâm động phách sắp sửa diễn ra, trước hết hãy cùng điểm qua các đợt cao trào khởi nghĩa nông dân cuối thời Tùy.
Khởi nghĩa cuối thời Tùy lớp này chưa dứt lớp khác đã dâng lên, tập trung thành ba đợt cao trào lớn. Đợt thứ nhất nổ ra vào năm Đại Nghiệp thứ bảy, chủ yếu tập trung ở hạ lưu lưu vực sông Hoàng Hà thuộc vùng Sơn Đông, Hà Bắc. Trong giai đoạn này, Tùy Dượng Đế dốc sức xây dựng công trình, tuần du hưởng lạc, ráo riết chuẩn bị chinh phạt Cao Câu Ly, trưng tập hàng triệu binh dân trên cả nước, trong đó sức dân vùng Sơn Đông bị bóc lột nặng nề nhất, rốt cuộc thổi bùng các cuộc khởi nghĩa nông dân quy mô lớn. Thủ lĩnh nghĩa quân phần lớn xuất thân từ nông dân, đại diện ở vùng Sơn Đông có Vương Bạc, Trương Kim Xưng, Cao Sĩ Đạt và Lưu Bá Đạo; Hà Bắc có Tôn An Tổ và Đậu Kiến Đức; Hà Nam có Trạch Nhượng. Đợt khởi nghĩa thứ hai bùng lên vào năm Đại Nghiệp thứ chín, phân bố chủ yếu ở Sơn Đông và vùng Giang Nam. Chịu ảnh hưởng từ cuộc binh biến của Dương Huyền Cảm, bắt đầu từ năm này, các nơi dấy binh làm loạn đều lấy mục tiêu xưng vương xưng bá, tranh giành Trung Nguyên làm tôn chỉ cốt lõi. Lãnh tụ nghĩa quân xuất thân từ đủ mọi tầng lớp, từ nông dân không tấc đất cắm dùi cho tới địa chủ cự phú một phương, từ kẻ mù chữ cho tới sĩ tộc uyên thâm kinh sử; vùng Sơn Đông có Mạnh Nhượng, Hách Hiếu Đức, Tôn Tuyên Nhã và Cách Khiêm làm đại diện; Giang Nam có Đỗ Phục Uy, Phụ Công Thạch, Lưu Nguyên Tiến, Chu Nhiếp và Quản Sùng. Đợt cao trào thứ ba xuất hiện vào năm Đại Nghiệp thứ mười ba, tức sau khi Tùy Dượng Đế rời Lạc Dương xuôi nam đến Giang Đô, chủ yếu phân bố ở Tây Bắc, Quan Trung, Hà Đông, Hà Tây và Hồ Nam; đặc điểm nổi bật là có thêm các quân phiệt, huân quý nhảy vào cuộc tranh đoạt, tiêu biểu gồm Tiết Cử, Lý Quỹ, Lưu Vũ Chu, Lý Uyên, Tiêu Tiển, Lương Sư Đô và Từ Viên Lãng. Làn sóng khởi nghĩa này đã trực tiếp đẩy đại Tùy đến bờ diệt vong.
Cuộc chiến tranh bá của các anh hùng cuối thời Tùy tuy vô cùng đặc sắc nhưng đầu mối chằng chịt, giữa các bên lại ít có sự đan xen trực tiếp, muốn thuật lại cho mạch lạc là cả một công phu. Có những cánh nghĩa quân vừa mới manh nha đã bị bóp chết ngay từ trong trứng nước; có thủ lĩnh ý chí không kiên định, vừa thấy có lợi liền thỏa mãn dừng bước, nhanh chóng bị kẻ mạnh hơn thôn tính. Lại thêm những tập đoàn phản loạn hùng mạnh như gia tộc Lý Uyên xuất hiện, khiến nhiều nhánh phụ còn chưa kịp triển khai thì màn kịch tranh bá đã vội hạ màn. Các bậc hào kiệt chỉ đành hội ngộ nơi chín suối để tiếp tục ân oán giang hồ, đoạn sau đó ra sao chẳng một ai hay biết.
Chúng ta hãy bắt đầu từ Lý Mật, một đại quý tộc thuộc tập đoàn Quan Lung. Lý Mật là con nhà quan lại danh gia vọng tộc chính cống, gia thế hiển hách không hề thua kém Lý Uyên. Như đã giới thiệu sơ lược ở phần trước, cụ cố của hắn là Lý Bật, một trong Bát đại Trụ quốc của Tây Ngụy, từng lập chiến công hiển hách trong vô số trận đánh lớn, là một đại anh hùng lẫy lừng; ông nội Lý Diệu giữ chức Thái bảo Bắc Chu, được phong Hình quốc công; cha hắn là Lý Khoan làm Thượng trụ quốc triều Tùy, được phong Bồ Sơn quận công. Giữa niên hiệu Khai Hoàng, Lý Mật tập tước Bồ Sơn công, thuộc tầng lớp thế gia huân quý chính thống mẫu mực, sinh ra vốn dĩ đã có tư cách an nhàn hưởng phúc cả đời. Ngặt nỗi Lý Mật nuôi chí lớn, thừa hưởng dòng máu mạnh mẽ từ Lý Bật. Cụ cố của hắn từng răn dạy: "Kỳ thực ta chẳng cần gắng gượng, cứ ăn ngon mặc đẹp nương nhờ thế lực gia tộc cũng đủ an hưởng tuổi già. Nhưng trượng phu sống trên đời, sao có thể tầm thường vô vị như thế? Phải xông pha trận mạc, bảo quốc an dân, lập nên công trạng mới xứng danh!" Lời dạy ấy đã trở thành triết lý sống của Lý Mật. Sống giữa thời loạn, Lý Mật cảm thấy thời cơ của mình đã điểm!
Trước đó đã nhắc tới việc Lý Mật tham gia cuộc binh biến của Dương Huyền Cảm, gánh vác toàn bộ công việc mưu hoạch; khi Dương Huyền Cảm bại trận đền mạng, Lý Mật lập tức đứng đầu sổ đen truy nã của triều đình, bắt đầu những ngày tháng trốn chạy lưu vong. Là kẻ đào phạm bị triều đình gắt gao lùng bắt, lựa chọn bày ra trước mắt hắn chẳng có bao nhiêu, thế là hắn đành tìm đến nương nhờ Hách Hiếu Đức ở quận Bình Nguyên gần đó. Hách Hiếu Đức vốn là một trong những thủ lĩnh nghĩa quân nông dân thời kỳ đầu, dưới trướng tụ tập mấy vạn dân nghèo, tiền đồ ban đầu khá xán lạn. Đáng tiếc là tầm nhìn tiểu nông của người này đã ăn sâu bám rễ, gã tự thấy việc dấy binh chỉ vì không có cơm ăn, làm sao hiểu được phép dùng người đãi kẻ sĩ; lại thấy Lý Mật là trọng phạm triều đình đang truy nã nên chẳng hề dành cho hắn sự đãi ngộ xứng đáng. Lý Mật dẫu sao cũng là con em quý tộc đầy bụng kinh luân mưu lược, đời nào chịu nổi nỗi uất ức ấy, lập tức dứt áo ra đi.
Thiên hạ rộng lớn, nghĩa quân dấy lên khắp nơi, vậy mà nhìn quanh chẳng có lấy một chỗ dung thân cho Lý Mật. Cùng đường không nơi nương tựa, Lý Mật đành trôi dạt tới một thôn nhỏ ở Hoài Dương (nay thuộc Chu Khẩu, Hà Nam), đổi tên họ thành Lưu Trí Viễn. Để kiếm miếng cơm qua ngày, công tử quý tộc Lý Mật đành phải tự mưu sinh, mở lớp chiêu mộ vài đứa trẻ trong thôn rồi làm thầy đồ dạy học. Ngày tháng từ đó tạm yên bình, nhưng thử hỏi trong lòng hắn làm sao tránh khỏi u uất? Hôm ấy, gió thu hiu hắt thổi qua đất Hoài Dương, sau một chầu rượu say túy lúy, Lý Mật ngẫm chuyện xưa nhìn cảnh nay, cõi lòng dâng trào muôn vàn cảm xúc, bèn vung bút viết nên bài thơ mang tên "Hoài Dương cảm hoài": "Kim phong đãng sơ tiết, ngọc lộ điêu vãn lâm. Thử tịch cùng đồ sĩ, uất đào thương thốn tâm. Dã bình gia vĩ hợp, thôn hoang lê hoắc thâm. Thiếu thính lương đa cảm, tước ỷ độc triêm khâm. Triêm khâm hà sở vi, trướng nhiên hoài cổ ý. Tần tục do vị bình, Hán đạo tương hà ký. Phàn Khoái thị tỉnh đồ, Tiêu Hà đao bút lại. Nhất triêu thời vận hội, thiên cổ truyền danh thụy. Ký ngôn thế thượng hùng, hư sinh chân khả quý." Ý thơ than thở: Tiết đầu thu, gió lạnh vừa nổi, rừng cây xơ xác, kẻ cùng đường này lòng mang muôn mối âu sầu đau đớn. Đồng hoang lau sậy ngút ngàn, thôn xóm điêu tàn cỏ dại mọc sâu. Nghe nhìn cảnh vật mà cảm khái khôn nguôi, đứng tựa một mình lệ đẫm vạt áo. Vì sao lệ lại ướt áo? Ấy là bởi nỗi trĩu nặng hoài niệm việc xưa. Thói Tần còn chưa dứt, đạo Hán gửi gắm nơi đâu? Phàn Khoái vốn chỉ là phường buôn bán nơi chợ búa, Tiêu Hà cũng chỉ là chân lại dịch múa bút gọt gươm. Một sớm gặp thời vận, danh tiếng lưu truyền thiên cổ! Nhắn gửi người anh hùng trên cõi đời, chớ để sống uổng phí một kiếp mà thẹn với lòng! Viết xong, Lý Mật tủi thân bật khóc nức nở, lý tưởng thì tràn trề mà thực tế lại quá đỗi phũ phàng. Giữa chốn thôn dã chất phác thuần hậu, hành động say rượu múa bút viết thơ tỏ ra quá mức dị thường. Lịch sử đã nhiều lần chứng minh, lúc nhàn rỗi chớ nên viết thơ càn, nhất là không được làm thơ ở nơi đất khách quê người, chẳng phải Tống Giang trong "Thủy Hử" cũng vì viết thơ phản nghịch mà bị bắt đó sao?
Sau khi cuộc phản loạn của Dương Huyền Cảm thất bại, đại quý tộc Lý Mật biến thành đào phạm hạng nhất bị cả triều đình lùng sục, từ đó phải phiêu bạt chốn giang hồ, bắt đầu hành trình phiêu lưu đầy trắc trở. Hắn vất vả lắm mới tạm yên thân tại một thôn nhỏ ở Hoài Dương, sống đời dạy học gõ đầu trẻ, nào ngờ chỉ vì một phen quá chén mất kiểm soát cảm xúc, hạ bút viết ra bài thơ mang ý tứ đại nghịch bất đạo mà bị kẻ xấu tố giác. Thái thú Hoài Dương là Triệu Đà lập tức phái quân lùng bắt, may nhờ Lý Mật đón được phong thanh từ trước nên đã kịp thời cao chạy xa bay.
Lâm vào bước đường cùng, Lý Mật trốn sang huyện Ung Khâu (nay là huyện Kỷ, Hà Nam) lân cận, đến nương nhờ em rể là Huyện lệnh Ung Khâu Khâu Quân Minh. Khâu Quân Minh thấy anh vợ tìm đến thì hồn xiêu phách lạc: vốn là một quan chức cơ sở của triều đình, y nắm rất rõ phép tắc triều cương, tội chứa chấp đại đào phạm của quốc gia chẳng những khiến bản thân rơi đầu mà họ hàng trong vòng chín tộc cũng khó lòng thoát khỏi vạ lây. Nhưng người em rể này rốt cuộc vẫn là kẻ thật thà, sợ nha môn người đông miệng lắm làm lộ tin tức, bèn lén đưa hắn tới nương náu ở nhà một du hiệp địa phương là Vương tú tài.
Vương tú tài tuy là người đọc sách nhưng trong xương tủy lại mang đậm hào khí trượng nghĩa, thấy Lý Mật xuất thân quý tộc mà dám từ bỏ vinh hoa phú quý trước mắt để đứng lên chống lại bạo chính của nhà Tùy, trong lòng muôn phần ngưỡng mộ, chẳng nói hai lời liền thu nhận Lý Mật, thậm chí còn gả con gái cho hắn. Bôn ba lưu lạc hơn hai năm trời, rốt cuộc Lý Mật cũng tìm được cuộc sống ấm êm của một người bình thường, có nơi chốn dung thân, lại bước vào chốn hương nồng, sau khi thành thân cùng nàng Vương thị phu xướng phụ tùy vô cùng hòa hợp. Hắn ngỡ đâu từ nay tháng ngày êm đềm, cuộc đời an ổn, nào ngờ trời cao sắp giáng trọng trách cho ai ắt sẽ không để kẻ đó được sống thảnh thơi; đúng vào lúc này, lại có kẻ tố giác tung tích của hắn!
Hôm ấy, Lý Mật vừa khéo có việc ra ngoài, quan quân lập tức ập tới bao vây nhà Vương tú tài. Hóa ra Khâu Quân Minh dù cẩn thận giữ gìn, sợ rò rỉ phong thanh, nhưng thành trì phần lớn lại bị phá vỡ từ bên trong; cháu ruột của y là Khâu Hoài Nghĩa đã đem toàn bộ chuyện chú ruột và Vương tú tài che giấu Lý Mật đi khai báo sạch sành sanh. Lý Mật may mắn thoát được một kiếp, nhưng tội nghiệp cho cả nhà Khâu Quân Minh, Vương tú tài cùng Vương thị đều bị bắt giữ và xử trảm! Đúng là cây muốn lặng mà gió chẳng đừng, Lý Mật đã định sẵn không thể sống cuộc đời của một người bình thường, đi con đường của kẻ tầm thường. Tùy Dượng Đế giết vợ và nhạc phụ của hắn, chặt đứt mối tơ vương trần thế cuối cùng, khiến Lý Mật từ đó thề không đội trời chung với đại Tùy, dứt khoát dấn thân vào con đường lật đổ chính quyền Tùy triều. Vậy bước tiếp theo phải đi đâu? — Tiến về Ngõa Cương trại, gia nhập Ngõa Cương quân!
Hai, Trạch Nhượng lập Ngõa Cương quân
Trong vô số cánh quân khởi nghĩa cuối thời Tùy, Ngõa Cương quân rốt cuộc là một lực lượng như thế nào? Những anh hùng Tùy Đường quen thuộc với chúng ta như Tần Quỳnh, La Sĩ Tín, Từ Thế Tích, Ngụy Trưng, Trình Giảo Kim, Bùi Hành Nghiễm, Đơn Hùng Tín, Vương Bá Đương đã gia nhập Ngõa Cương quân ra sao, và giữ vị thế thế nào trong đó? Trước khi nói về những điều này, trước hết hãy bàn về vị đại ca khởi xướng Ngõa Cương quân: Trạch Nhượng!
Trạch Nhượng, người huyện Vi Thành thuộc Đông quận (nay là huyện Hoạt, An Dương, Hà Nam), là kẻ dũng cảm lại lắm mưu mẹo, giỏi dùng một ngọn trường thương. Vị thủ lĩnh sáng lập cánh nghĩa quân lừng danh này đáng lẽ phải được ghi chép rõ ràng trong sử sách, đáng tiếc là sử liệu triều Tùy và triều Đường lại không dành nhiều trang viết về hành trạng của hắn; hậu thế chẳng rõ xuất thân tông tộc của hắn rốt cuộc là nông dân hay địa chủ, là kẻ sĩ hay hiệp khách, chỉ biết từng có một dạo hắn làm ăn rất khấm khá, giữ chức Pháp tào Đông quận. Đây là chức vị ra sao? Quận tương đương cấp địa hạt, còn Pháp tào là quan viên nắm giữ công tác tư pháp, gộp cả ba quyền hành chấp pháp, kiểm sát và tài phán làm một. Nhưng chẳng rõ vì nguyên cớ gì, Trạch Nhượng lại phạm pháp, tình tiết tội trạng còn đặc biệt nghiêm trọng, trực tiếp biến hắn thành tử tội nằm trong đại lao chờ ngày xử tử. Nếu chiếu theo lẽ thường, kết cục tất yếu sẽ là bị áp giải ra pháp trường rồi đầu rơi xuống đất. Nhưng Trạch Nhượng chưa thể chết, hắn còn phải dựng nên Ngõa Cương quân; nếu đời hắn kết thúc tại đây, lịch sử Tùy Đường ắt hẳn đã chẳng diễn ra dồn dập và tráng lệ như chúng ta từng thấy. Giữa thời khắc này, sự xuất hiện của một nhân vật nhỏ bé đã xoay chuyển quỹ đạo số mệnh của hắn, liệu đó là ngẫu nhiên hay tất nhiên?
Mắt thấy ngày hành hình đã cận kề, đầu cai ngục Hoàng Quân Hán bỗng nảy lòng trắc ẩn. Qua những ngày quan sát, y nhận thấy Trạch Nhượng tuyệt đối không phải kẻ tầm thường, chí ít cũng là bậc anh hào ngang tầm Quan Vũ, Lữ Bố; chẳng những võ nghệ siêu quần mà lời ăn tiếng nói còn toát ra khí độ mưu cầu đại nghiệp cho bá tánh muôn dân. Y thầm nghĩ, đại Tùy diệt vong đã là cục diện khó xoay chuyển, bậc anh hùng thế này sao có thể chết gục ngay dưới mắt mình? Hoàng Quân Hán tuy là sai dịch cấp cơ sở nhưng tác phong hành sự lại đậm chất hiệp khách giang hồ trọng nghĩa khí; sau khi hạ quyết tâm, đêm hôm ấy, y lén vào gian buồng giam riêng của tử tù Trạch Nhượng, trước tiên đả thông tư tưởng, khuyên hắn vận mệnh phải do chính mình nắm giữ, kế đó tháo bỏ gông cùm cho hắn. Trạch Nhượng kinh ngạc khôn xiết, không ngờ y lại liều mạng cứu mình! "Hoàng đại ca, chuyện này vạn lần không nên, huynh thả ta rồi thì bản thân huynh phải làm sao?!" Nói đoạn liền gạt nước mắt. Hoàng Quân Hán thấy vậy giận dữ quát: "Ta vốn tưởng ngươi là bậc đại trượng phu, có thể làm nên nghiệp lớn cứu vớt lê dân khỏi chốn dầu sôi lửa bỏng, nên mới liều mạng đến cứu. Ai ngờ ngươi lại khóc lóc tỉ tê như đàn bà thế này, chẳng phải làm bẽ mặt nhau sao?"
Ham sống sợ chết là bản năng của con người, bậc anh hùng cũng chẳng ngoại lệ. Những bậc đại anh hùng xả thân vì nghĩa trong lịch sử, rốt cuộc làm sao hạ được quyết tâm bước vào chỗ chết? Trước khi chết, hẳn trong lòng ai nấy đều từng cân đo đong đếm câu hỏi này: Chết vì nghĩa liệu có đáng không? Lối suy nghĩ thông thường là thế này: nếu hành động được phơi bày dưới thanh thiên bạch nhật, tạo nên làn sóng dư luận, khiến cục diện phát sinh phản ứng dây chuyền, chắc chắn sẽ lưu danh sử sách. Chúng ta chẳng rõ nguyên do Trạch Nhượng bị phán tử hình, sử sách không chép lại, hẳn là việc không gây chấn động xã hội sâu rộng. Để chứng minh đạo đức cao thượng trước một viên đầu ngục vốn chẳng quen biết mà từ bỏ cơ hội sống sót duy nhất, nghĩ bằng đầu ngón chân cũng biết cái giá đó quá đắt đỏ. Bởi thế, sau một màn rơi lệ, Trạch Nhượng vẫn dứt khoát cắm đầu bỏ trốn.
Thoát khỏi nhà giam thì dễ, nhưng trốn thoát khỏi vòng vây đuổi bắt mới thực gian nan. Chạy trốn sang địa phương khác cố nhiên là lựa chọn lý tưởng, dẫu thời xưa không có hệ thống mạng lưới kiểm tra giấy tờ tùy thân, nhưng việc quản lý dân đinh lại vô cùng nghiêm ngặt; rời khỏi nơi đăng ký hộ tịch bắt buộc phải có quan bằng lộ dẫn do quan phủ cấp, một tử tù như Trạch Nhượng thì đào đâu ra thứ ấy? Hiển nhiên ý định này không thực tế. Nếu nán lại đất Hoạt huyện, ngày ngày đều có thể bị bổ khoái quan phủ ập tới bắt giữ, dù Trạch Nhượng võ nghệ cao cường e cũng chỉ tránh được mùng một chứ khó thoát ngày rằm. Thiên hạ bao la, nhìn quanh mờ mịt, lại chẳng có lấy một mảnh đất dung thân cho đấng trượng phu!
Vào thời điểm Trạch Nhượng bị phán tử hình, Tùy Dượng Đế phát động cuộc chiến tranh chinh phạt Cao Câu Ly lần thứ nhất, Vương Bạc ở Sơn Đông đi đầu phất cờ khởi nghĩa, trong thời gian ngắn đã có hơn mười vạn người đi theo, phong trào phản loạn bùng lên hừng hực, điều này gợi mở lối thoát cho Trạch Nhượng đang bước vào đường cùng. Hắn thầm nghĩ, đằng nào cũng không thể trốn chui trốn lủi cả đời, nay đã mang danh trọng phạm bị truy nã, tình cảnh còn có thể tồi tệ hơn được nữa sao? Chi bằng cứ dựng cờ lớn mạnh ngay tại chỗ! Thế là Trạch Nhượng một mạch chạy về Ngõa Cương trại ở phía đông nam Hoạt huyện, giương cao ngọn cờ phản Tùy. Đó chính là bối cảnh lịch sử dẫn tới sự ra đời của Ngõa Cương quân, hẳn là khác xa với những gì mọi người mường tượng? Nói chi đến lý tưởng cùng hoài bão, thực tế những thứ ấy đâu thể mài ra mà ăn, nhiều đại nghiệp lẫy lừng đôi khi chỉ bắt đầu từ một nguyên cớ giản đơn: Không còn đường sống nữa!
Trong giai đoạn đầu phát triển của Ngõa Cương trại, hai thuộc hạ nòng cốt của Trạch Nhượng đóng vai trò vô cùng trọng yếu: một là Đơn Hùng Tín, hai là Từ Thế Tích. Cả hai nhân vật này trong truyền thuyết dân gian và tiểu thuyết diễn nghĩa đều chiếm đất diễn rất lớn, để lại dấu ấn đậm nét trong những năm tháng phong vân biến ảo cuối Tùy đầu Đường. Chúng ta hãy xem xét Đơn Hùng Tín trước.
Ba, "Xích Phát Linh Quan" Đơn Hùng Tín
Đơn Hùng Tín là nhân vật chủ chốt trong các tiểu thuyết Tùy Đường, mặt xanh râu đỏ, ngoại hiệu "Xích Phát Linh Quan", là trang chủ Nhị Hiền trang ở Bát Lý thuộc Lộ Châu, Sơn Tây, vì đứng hàng thứ hai nên thường được gọi là "Đơn nhị ca". Hắn là tổng tiêu bả tử của lục lâm chín tỉnh đại Tùy, tức thủ lĩnh giới hắc đạo trải khắp chín tỉnh, đủ thấy vị thế ghê gớm cỡ nào. Hắn có uy vọng cực cao chốn giang hồ, phàm là người trong lục lâm, hễ một mũi tên lệnh truyền đi thì không ai dám trái; của cải cướp bóc khắp nơi đều phải chia cho hắn một nửa. Đơn Hùng Tín võ nghệ cao cường, sử dụng một ngọn Kim Đinh Tảo Dương sóc, xếp hạng thứ mười tám trong các hảo hán thời Tùy, đứng đầu Ngũ hổ tướng Ngõa Cương trại. Nghĩa khí, trung dũng và cương liệt là nét tính cách nổi bật của hắn, chẳng khác nào Quan Nhị gia tái thế, bởi thế còn được tụng xưng là "Tiểu Quan Vũ nghĩa bạc vân thiên".
Đơn Hùng Tín tính tình hào sảng trượng nghĩa, thích kết giao bằng hữu, thường xuyên ra tay cứu giúp người khốn khó, tiêu tiền như nước vì nghĩa. Hắn đối đãi với bạn bè hết lòng hết dạ, không chút giấu giếm, xứng đáng là một trang hảo hán. Hào kiệt Sơn Đông là Tần Quỳnh gặp nạn ở Lộ Châu, không một đồng dính túi, bệnh tật quấn thân, phải bán ngựa để gom góp lộ phí. Đơn Hùng Tín vốn chỉ nghe danh chứ chưa từng gặp mặt, hay tin liền đón Tần Quỳnh về Nhị Hiền trang dưỡng bệnh, dốc lòng chăm sóc, chẳng những thết đãi rượu ngon thịt béo mà khi Tần Quỳnh cáo từ còn tặng thêm nhiều tiền bạc. Sau này Tần Quỳnh vướng vào vòng lao lý, Đơn Hùng Tín lại chạy vạy trên dưới, không ngừng chu toàn để giúp thoát ngục. Ngày thọ thần của mẹ già Tần Quỳnh, Đơn Hùng Tín phát lục lâm tiễn, dẫn đầu anh hùng các nơi tụ hội về Tế Nam, giữ trọn thể diện cho Tần Quỳnh. Cách hành xử ấy của Đơn Hùng Tín đã khắc họa trọn vẹn hình tượng "nghĩa khí" ngút trời. Những chuyện tương tự nhiều không đếm xuể, giang hồ hào kiệt đương thời không ít người từng thọ ơn hắn.
Ít lâu sau khi bọn Đơn Hùng Tín cắt máu ăn thề ở Giả Liễu lầu, vì không chịu nổi bạo chính nhà Tùy nên đã dấy loạn đất Sơn Đông, tụ nghĩa ở Ngõa Cương trại, phần lớn hảo hán trong số bốn mươi sáu huynh đệ đều tới nhập bọn. Sau khi Ngõa Cương trại phất lên, mấy phen đánh tan đại quân nhà Tùy, nghiễm nhiên trở thành minh chủ của các lộ phản vương. Về sau Lý Mật nắm quyền Ngõa Cương, lòng người ly tán, sĩ khí sa sút, rốt cuộc đại bại dưới tay Vương Thế Sung. Các tướng lĩnh Ngõa Cương phần lớn quy thuận Lý Đường, duy chỉ có Đơn Hùng Tín vì mối thù nhà mà không chịu hàng Đường (anh trai hắn bị Lý Uyên ngộ sát), quay sang đầu quân cho Vương Thế Sung, từ đó mỗi người một ngả với các huynh đệ. Dưới trướng Vương Thế Sung, Đơn Hùng Tín trở thành tiên phong đối đầu với Lý Đường. Khi Lý Thế Dân công đánh Lạc Dương, suýt nữa đã bị Đơn Hùng Tín kết liễu tại Ngự Quả Viên, may nhờ Uất Trì Cung một roi cứu chúa. Về sau thấy đại thế của Vương Thế Sung đã mất, Đơn Hùng Tín một ngựa xông thẳng vào trại Đường, định lấy cái chết báo đáp Vương Thế Sung, rốt cuộc bị bắt sống. Mọi người hết lời khuyên Đơn Hùng Tín hàng Đường nhưng hắn thề chết không theo, khẳng khái nhận cái chết, trở thành nhân vật bi kịch bậc nhất trong các anh hùng Tùy Đường. Hình tượng ân oán phân minh, thà chết không khuất phục từ đó in sâu vào lòng người.
Hình tượng Đơn Hùng Tín trong các tác phẩm văn học gần như hoàn mỹ, bởi thế rất được dân chúng yêu mến. Vậy trong chính sử ghi chép, Đơn Hùng Tín lại là người thế nào? Tin rằng sau khi đọc xong, bạn sẽ không khỏi kinh ngạc.
Theo "Tân Đường thư" ghi lại: "(Đơn Hùng Tín) thuở nhỏ mạnh bạo khỏe khoắn, đặc biệt giỏi dùng thương trên lưng ngựa, quân của Mật gọi là 'Phi tướng'." "Tư trị thông giám" cũng có ghi chép tương tự: "Hùng Tín dũng tiệp, giỏi dùng mã sóc, đứng đầu các quân, trong quân gọi là 'Phi tướng'." Sau khi Trạch Nhượng lập nên Ngõa Cương quân, Đơn Hùng Tín và Từ Thế Tích trở thành cánh tay đắc lực của hắn. Dưới sự dẫn dắt của bọn họ, Ngõa Cương quân phát triển nhanh chóng, đội ngũ không ngừng lớn mạnh. Sau khi Lý Mật tự xưng Ngụy công, Đơn Hùng Tín được bổ nhiệm làm Tả Vũ Hầu đại tướng quân, phẩm hàm rất cao. Khi Đơn Hùng Tín đầu quân cho Vương Thế Sung, hắn được phong làm Đại tướng quân, cực kỳ được trọng dụng. Qua đó có thể thấy, về võ lực, chính sử và diễn nghĩa không khác nhau là bao, Đơn Hùng Tín quả thực dũng mãnh hơn người, thiện chiến can trường, có tài làm đại tướng.
Thế nhưng xét về hai chữ "trung nghĩa", chính sử và diễn nghĩa lại hoàn toàn trái ngược. Sau khi Lý Mật thanh trừng Trạch Nhượng trong bữa tiệc "Hồng Môn yến", với tư cách là tâm phúc của Trạch Nhượng và "vốn thân thiện với Trạch Nhượng", Đơn Hùng Tín đã biểu hiện ra sao? Theo "Tư trị thông giám" chép lại: "Dập đầu cầu xin tha mạng." Đơn Hùng Tín hoàn toàn lộ rõ vẻ hồn bay phách lạc, nào có nửa phần khí phách đại trượng phu thà chết không nhục? Mưu sĩ của Lý Mật là Phòng Ngạn Tảo vô cùng khinh bỉ hành vi nhu nhược này, "cho rằng Hùng Tín dễ thay đổi lòng dạ, khuyên Mật trừ đi", y thấy Đơn Hùng Tín dễ dàng đổi chiều hướng đi nên khuyên Lý Mật giết quách đi cho xong. Nhưng Lý Mật tiếc tài làm tướng của Đơn Hùng Tín nên chẳng những không nghe mà còn trao cho trọng trách. Về sau, khi Lý Mật bị Vương Thế Sung đánh bại trong trận đại chiến Mang Sơn, Đơn Hùng Tín vốn giữ thế ỷ dốc lại khoanh tay đứng nhìn, lần lữa không chịu xuất binh cứu viện, khiến quân của Lý Mật tan vỡ tơi bời. Sau đó Đơn Hùng Tín còn đem thuộc hạ đầu hàng Vương Thế Sung, giáng cho Lý Mật một đòn chí mạng. Lật lọng tráo trở, thiếu lập trường kiên định, đó chính là vết nhơ khó gột rửa của Đơn Hùng Tín.
Sau khi quy hàng Vương Thế Sung, Đơn Hùng Tín nhiều lần giao chiến với quân Lý Đường. Theo "Cựu Đường thư" ghi lại, khi Lý Thế Dân đánh Lạc Dương, Đơn Hùng Tín giục ngựa xông thẳng tới chỗ Lý Thế Dân, ngọn giáo dài suýt nữa đâm trúng. Trong cơn nguy cấp, "Từ (Thế Tích) quát ngăn lại, bảo: 'Đây là Tần Vương'. Hùng Tín sợ hãi, bèn lui, Thái Tông nhờ đó thoát nạn". Chi tiết này cơ bản trùng khớp với tiểu thuyết diễn nghĩa, chỉ là tiểu thuyết đã thêm thắt sinh động hơn.
Khi Lạc Dương bị quân Lý Đường công phá, Đơn Hùng Tín theo Vương Thế Sung đầu hàng, Lý Thế Dân hạ lệnh xử trảm hắn. Từ Thế Tích cầu xin Lý Thế Dân rằng: "Đơn Hùng Tín võ nghệ tuyệt luân, nếu tha chết, hắn nhất định sẽ cảm kích ân đức mà dốc lòng báo đáp quốc gia. Bằng không, xin cho thần lấy quan tước của mình để chuộc tội cho hắn." Đối diện với cảnh tượng cảm động thấu trời ấy, Lý Thế Dân lại chẳng hề mảy may lay chuyển. Từ Thế Tích bất lực, trước khi Đơn Hùng Tín thụ hình đành cắt một miếng thịt trên đùi mình đưa cho hắn ăn, để hắn yên lòng nhắm mắt. Câu nói cuối cùng của Đơn Hùng Tín là: "Ta vốn biết ngươi chẳng làm nên trò trống gì!" Lời này là trách móc hay an ủi Từ Thế Tích, người đời chẳng rõ, nhưng ghi chép này hé lộ một điều: đến phút chót Đơn Hùng Tín vẫn ôm một tia hy vọng mong manh rằng Lý Thế Dân có thể tha mạng cho hắn. Bởi vậy, cảnh tượng Đơn Hùng Tín thề chết không khuất phục, khẳng khái hi sinh trong tiểu thuyết diễn nghĩa hoàn toàn không xuất hiện trong chính sử. (Chỗ này còn có tranh cãi, theo "Tùy Đường gia thoại", lời trăn trối của Đơn Hùng Tín với Từ Thế Tích là: "Ta vốn biết ngươi không lo liệu nổi việc này.")
Lý Thế Dân (trong "Cựu Đường thư", người ra lệnh là Lý Uyên) vì sao kiên quyết phải giết Đơn Hùng Tín? Ngoài việc Đơn Hùng Tín từng đe dọa đến tính mạng của ông, một nguyên nhân quan trọng hơn có lẽ là ông đã nhìn thấu Đơn Hùng Tín vốn là kẻ bất tín, tráo trở khôn lường, khó lòng gánh vác việc lớn.
Đơn Hùng Tín từng một thời thét ra lửa trên chiến trường rốt cuộc bỏ mạng như thế, thật khiến người đời không khỏi thở dài. Trong khi đó, Từ Thế Tích, người từng kết nghĩa sinh tử với Đơn Hùng Tín, lại liên tục được trọng dụng giữa thời cuộc đổi thay, cuối cùng trở thành một trong hai mươi tư công thần trên Lăng Yên Các của nhà Đường, điều này quả thực khiến hậu thế phải suy ngẫm sâu xa.
Bốn, "Từ Mậu Công" Từ Thế Tích
Chúng ta hãy nhìn sang một người đồng sáng lập khác của Ngõa Cương quân — Từ Thế Tích. Trong nhiều truyền thuyết dân gian và diễn nghĩa lịch sử, Từ Thế Tích được khắc họa thành một đạo sĩ mũi trâu tên Từ Mậu Công, trên thông thiên văn dưới tường địa lý, túc trí đa mưu. Với tư cách là quân sư của Ngõa Cương trại, Từ Mậu Công chẳng khác nào một Gia Cát Khổng Minh tái thế.
Vậy trong lịch sử chân thực, Từ Thế Tích là người như thế nào?
Trước tiên hãy nói về tên gọi của Từ Thế Tích. Từ Thế Tích, tự Mậu Công, đây là tên gốc của hắn, về sau được Đường Cao Tổ Lý Uyên ban cho quốc họ Lý, đổi tên thành Lý Thế Tích. Sau khi Đường Thái Tông Lý Thế Dân băng hà, Lý Thế Tích vì kỵ húy nên đã bỏ chữ "Thế", gọi là Lý Tích. Sau khi Võ Tắc Thiên xưng đế, cháu nội của Lý Tích là Lý Kính Nghiệp dấy binh thảo phạt; binh bại chẳng những mất mạng mà còn bị tước luôn quốc họ đã ban. Lý Tích dù đã qua đời từ lâu cũng chịu liên lụy, bị Võ Tắc Thiên quật mồ chặt quan tài, tước bỏ quan tước đã truy phong, trả lại họ Từ nguyên bản.
Cuộc đời của Từ Thế Tích cũng ly kỳ trắc trở hệt như lịch sử đổi tên của hắn vậy.
Từ Thế Tích sinh năm Khai Hoàng thứ mười bốn triều Tùy (năm 594), vốn là người Tào Châu (nay thuộc Hà Trạch, Sơn Đông), sau dời đến Hoạt Châu (nay là huyện Hoạt, Hà Nam). Từ Thế Tích xuất thân từ gia đình giàu có, gia cảnh sung túc, sản nghiệp dồi dào. Nhà họ Từ làm giàu bằng cách nào sử sách không chép rõ, chỉ ghi lại nhà hắn nô bộc đông đúc, thóc lúa đầy kho. Giữa những năm đói kém hoành hành, thây chết đói la liệt, lương thực chính là thứ quý giá nhất. Khác với nhiều địa chủ giàu có chuyên ức hiếp dân lành hoặc vắt cổ chày ra nước, cha con họ Từ lại thích làm việc thiện, trượng nghĩa khinh tài, bất kể thân sơ xa gần đều sẵn lòng chu cấp cho người nghèo, nhờ đó Từ Thế Tích gây dựng được danh tiếng rất tốt nơi thôn dã.
Sau khi Trạch Nhượng dựng cờ ở Ngõa Cương trại, Từ Thế Tích khi ấy mới mười bảy tuổi đã nhạy bén nhận ra rằng dấy binh phản Tùy là xu thế tất yếu của thời đại, cũng là con đường để hắn tạo dựng sự nghiệp. Thế là hắn cùng Đơn Hùng Tín, Giả Hùng ở huyện bên rủ nhau đến đầu quân cho Trạch Nhượng. Lúc này anh trai của Trạch Nhượng là Trạch Hoằng, cháu trai Trạch Ma Hầu, cùng bạn hữu Vương Nho Tín đều đã nhập bọn, cộng thêm đám người Từ Thế Tích, một bộ khung sơ khai liền được dựng lên. Thời kỳ đầu khởi nghĩa, nghĩa quân Ngõa Cương trại chỉ quanh quẩn ở Đông quận làm chuyện cướp của người giàu chia cho người nghèo, ngày tháng trôi qua tuy ung dung tự tại, thu hoạch cũng không ít, nhưng không gian phát triển rốt cuộc vẫn quá hạn hẹp.
Lúc này, tầm nhìn chiến lược của Từ Thế Tích bắt đầu phát huy tác dụng. Hắn tìm Trạch Nhượng bàn bạc: "Đông quận là quê nhà của chúng ta, cứ quấy phá mãi ở đây khó tránh khỏi mang tiếng ăn cỏ gần hang. Chi bằng tiến sang vùng Tống quận và Trịnh quận lân cận mà phát triển. Hai nơi này là đầu mối giao thông thủy lộ, thuyền bè của quan phủ và thương nhân đều qua lại nơi đây, thương buôn tấp nập..." Lời nói của Từ Thế Tích khiến Trạch Nhượng như mở cờ trong bụng, lập tức chuyển đại bản doanh tới địa bàn này.
Sách lược này của Từ Thế Tích có thể nói là một mũi tên trúng ba đích: Thứ nhất, Ngõa Cương quân rời xa Đông quận giúp nơi này tránh khỏi họa binh đao, bảo đảm nghĩa quân luôn có một hậu phương ổn định; thứ hai, việc chuyển hướng mục tiêu chiến lược chứng tỏ Ngõa Cương quân bắt đầu xác định phương hướng phát triển rõ ràng cùng quy hoạch lâu dài, đã đứng từ tầm cao và chiều sâu chiến lược để suy xét sự nghiệp phản Tùy, từ đó tạo ra sự khác biệt căn bản với các toán giặc cướp thông thường; cuối cùng, Tống quận và Trịnh quận giao thông đường thủy thuận tiện, tàu thuyền qua lại nườm nượp, Ngõa Cương quân chẳng những chặn cướp được vật tư vận chuyển của nhà Tùy mà còn đoạt được nhiều thuyền buôn. Nhờ vậy Ngõa Cương quân thu về nguồn lợi kếch xù, nhanh chóng hoàn thành tích lũy ban đầu, không ngừng thu hút các cánh nghĩa quân khắp nơi tìm đến quy phục.
Kế đó, Ngõa Cương quân lại thực hiện một bước đi khác: họ giết quan tham, mở kho phát lương, cứu tế dân nghèo, nhận được sự ủng hộ rộng rãi của quần chúng; trong thoáng chốc, người kéo đến gia nhập Ngõa Cương đông như trẩy hội, bấy giờ dân gian có câu dao truyền tụng: "Dìu cha, dắt mẹ, ẵm con thơ lên Ngõa Cương, lên Ngõa Cương trại ăn lương nghĩa."
Nghĩa quân Ngõa Cương ngày một lớn mạnh, thanh thế vang dội, song vẫn thiếu hụt những nhân tài ưu tú có tài năng quân sự và năng lực tổ chức xây dựng lực lượng. Khi ấy, trong các cuộc giao tranh với quân chính quy nhà Tùy, Ngõa Cương quân gần như đánh trận nào thua trận đó. Đại tướng nhà Tùy là Trương Tu Đà thống lĩnh một dàn hổ tướng như Tần Quỳnh, La Sĩ Tín, liên tiếp đánh bại Ngõa Cương quân, duy trì chuỗi hơn ba mươi trận bất bại. Trạch Nhượng hễ nghe tin Trương Tu Đà kéo đến là lập tức tháo chạy trốn biệt, trốn được bao xa hay bấy nhiêu.
Năm, Đường vào trại gập ghềnh của Lý Mật
Mãi tới năm Đại Nghiệp thứ mười hai triều Tùy, một nhân vật lừng danh đặt chân tới Ngõa Cương trại, thực hiện cuộc cải biến toàn diện cho Ngõa Cương quân, khiến cánh nghĩa quân vốn vô danh tiểu tốt này từ đó nổi như cồn; người đó chính là công tử đại quý tộc Lý Mật. Nếu xem Trạch Nhượng là người sáng lập Ngõa Cương quân, thì linh hồn của nghĩa quân tuyệt đối phải là Lý Mật. Lại nói chuyện Lý Mật một đường trốn chạy bạt mạng, sau khi thoát khỏi huyện Ung Khâu, nghe tin ở Ngõa Cương trại có một cánh nghĩa quân đang phát triển rất mạnh mẽ, thủ lĩnh Trạch Nhượng tính tình đôn hậu, thích kết giao anh hùng thiên hạ, hắn liền quyết định tới bái phỏng trước.
Lý Mật là con dòng cháu giống của đại Tùy, lại từng theo Dương Huyền Cảm dấy binh chống lại bạo chính, nuôi chí cứu vớt chúng sinh khỏi cảnh lầm than, rốt cuộc binh bại bị triều đình liệt vào hàng đại đào phạm số một, từ đó mai danh ẩn tích giữa biển người mênh mông — tuy người không còn ở chốn giang hồ, nhưng giang hồ vẫn lưu truyền truyền thuyết về hắn. Trong mắt bá tánh, một Lý Mật với thân phận và địa vị hiển hách như thế tuyệt đối là nhân vật truyền kỳ. Theo lẽ thường, việc một nhân vật tầm cỡ như vậy gia nhập đáng ra vừa giúp nâng cao danh tiếng của đội ngũ, vừa giúp nghĩa quân chiêu binh mãi mã, chẳng ngờ thuở đầu khi hắn trôi dạt tới Ngõa Cương trại lại phủ lên tâm trí đám tướng lĩnh cấp cao một bóng ma u ám.
Họ chẳng những không hoan nghênh Lý Mật mà trái lại còn nảy sinh kiêng dè, thậm chí nơm nớp lo sợ; họ cảm thấy hào quang của nhân vật này quá chói mắt, sức ảnh hưởng quá lớn, vốn dĩ Ngõa Cương quân có thể trà trộn giữa vô số cánh nghĩa quân để âm thầm phát tài, nay hắn đến đây khéo lại khiến triều đình chú ý, biến nơi này thành mục tiêu triệt hạ hàng đầu. Thực ra cũng chẳng thể trách họ nghĩ như vậy, bởi lẽ từ ngày Lý Mật trốn chạy tới nay, hễ hắn đi qua đâu là nơi đó không còn một ngọn cỏ, người đồng đạo Hách Hiếu Đức chẳng phải cũng chẳng ưa gì hắn đó sao? Đúng là "cây to đón gió gió lay ngọn, người vì danh cao danh hại thân". Trong lòng Lý Mật uất ức khôn cùng, hắn vốn liều mạng đối đầu với triều đình đại Tùy, nghĩa quân lẽ ra phải coi hắn như ruột thịt, cớ sao lên núi rồi mà nghĩa quân cũng muốn trừ khử hắn? Chốn giang hồ quả thực chẳng dễ lăn lộn!
Đầu óc chính trị của Lý Mật vốn không tầm thường, thấy tầng lớp lãnh đạo Ngõa Cương không tin tưởng mình, binh lính tầm thường lại coi mình như ôn thần tránh còn không kịp, hắn bèn đổi hướng tiếp cận đám cán bộ trung tầng. Cán bộ trung tầng của Ngõa Cương khi ấy gồm những ai? Ví như Vương Đương Nhân đến từ Ngoại Hoàng, Vương Bá Đương ở Tế Dương, Chu Văn Cử ở Vi Thành và Lý Công Dật ở Ung Khâu, đều là những thủ lĩnh của các nhánh vũ trang xoay quanh Ngõa Cương trại. Bọn họ vốn là anh hùng thảo mãng, chẳng học hành chữ nghĩa gì, cậy có võ nghệ và sức hiệu triệu hơn người mà tụ tập được không ít đạo tặc lưu manh. Họ với Lý Mật căn bản là hai thế giới khác nhau, nói chuyện chẳng ăn nhập là lẽ thường tình. Ban đầu quả đúng như vậy, ngặt nỗi Lý Mật chẳng ngại giảng giải đạo lý, nói một lần chưa thông thì nói nghìn lần; một đám thổ phỉ vốn chỉ biết uống rượu, ăn thịt rồi xông lên chém giết, bỗng một ngày có kẻ không quản phiền hà ngày ngày đàm đạo với họ về lý tưởng và hoài bão, phổ biến thời cuộc trong nước và thiên hạ, quả thực khiến bọn họ vừa kinh ngạc vừa thán phục! Lý Mật là bậc đại quý tộc được thụ hưởng nền giáo dục đỉnh cao, bàn về điển tích xưa nay hay đại thế thiên hạ, nói về tình cảnh hiện tại hay tiền đồ tương lai của Ngõa Cương quân, hắn đều thao thao bất tuyệt, câu nào câu nấy gãy gọn đâu ra đấy. Tri thức làm thay đổi nhận thức, sau vài lượt được Lý Mật đả thông tư tưởng chính trị tầm cao, bọn họ cảm thấy đẳng cấp của mình được nâng lên trông thấy, nhận ra rằng lên núi không chỉ để kiếm vinh hoa phú quý tầm thường, mà có lẽ giấc mộng đế vương cũng là thứ có thể theo đuổi. Thế là, ánh mắt họ nhìn Lý Mật bắt đầu lấp lánh sự ngưỡng mộ.
Trong số đó, Vương Bá Đương dấy binh từ Tế Dương, Hà Nam đặc biệt tán thưởng tài hoa cùng hoài bão của Lý Mật, cho rằng Lý Mật sau phen lận đận mà không chết ắt có hậu phúc, việc hắn chọn nương nhờ Ngõa Cương trại chính là cơ hội chuyển mình ngàn năm có một cho nghĩa quân, bèn chủ động xin gặp Trạch Nhượng, nói: "Nay thiên hạ quần hùng cùng dấy, Ngõa Cương quân ta chỉ là một trong vô số cánh nghĩa quân, chưa có ưu thế gì đặc biệt, đại ca nên nghĩ cho tiền đồ của nghĩa quân. Hiện thời chúng ta đang lúc cần người, Lý Mật từng làm mưu sĩ hàng đầu dưới trướng Dương Huyền Cảm, chi bằng cho hắn một cơ hội để thử thách tài năng. Nếu chỉ là kẻ hữu danh vô thực, khi ấy chúng ta tính kế khác cũng chưa muộn." Chớ thấy Lý Mật ở chốn giang hồ là một huyền thoại, dân chúng hưởng ứng khẩu hiệu khởi nghĩa của hắn, nhưng trong mắt Trạch Nhượng, những lời lẽ ấy chỉ là trò bịp bợm vẽ vời, có thể lừa được đám thường dân chứ muốn lên Ngõa Cương trại tìm kiếm vinh hoa phú quý thì đừng hòng! Cơ nghiệp của ai chẳng phải do đao kiếm liều mạng đánh ra, chẳng lẽ dựa vào tấc lưỡi mà thành? Bụng nghĩ vậy nhưng ngoài miệng vẫn phải chừa đường lui để giữ phong thái của một bậc thủ lĩnh, Trạch Nhượng bèn bảo Vương Bá Đương: "Dạo gần đây vùng núi quanh đây chẳng mấy yên tĩnh, có mấy toán giặc nhỏ khá khó đối phó, hãy bảo Lý Mật đi dẹp yên bọn chúng xem sao." Lý Mật vừa có mưu vừa có dũng, thấy Trạch Nhượng mở cho mình một cánh cửa, lập tức một mình một ngựa thâm nhập vào các cánh quân rời rạc lân cận. Đám đầu sỏ thảo khấu này từ bé đến lớn chưa từng thấy nhân vật nào ăn nói hoạt bát, khúc chiết như thế, lại thêm hào quang quý tộc Quan Lung chói lọi trên đầu, nên nghe Lý Mật thuyết phục thì vô cùng tâm phục khẩu phục, chẳng bao lâu sau đều lần lượt xin quy hàng, quả đúng là "không đánh mà khuất phục được binh của người, ấy là bậc thiện nghệ nhất". Dưới trướng Trạch Nhượng huynh đệ tuy đông, mỗi người một ngón nghề, nhưng nhân vật như Lý Mật quả là xưa nay chưa từng thấy, thế thì gặp một phen xem sao.
Lần đầu gặp mặt, Trạch Nhượng dùng ánh mắt dò xét đánh giá Lý Mật, chỉ thấy hắn nước da ngăm đen, đường nét góc cạnh rõ ràng, ánh mắt trong sáng cương nghị; tuy tướng mạo chẳng dính dáng gì đến hai chữ khôi ngô tuấn tú, nhưng vừa thoạt nhìn đã toát ra khí độ bất phàm, khiến người ta phải khắc sâu ấn tượng. Trạch Nhượng hỏi Lý Mật: "Nghe nói ngươi có lời muốn nói với ta?" Lý Mật hắng giọng một tiếng, rồi ung dung đàm đạo: "Nay hoàng đế bạo ngược hôn dung, dân chúng oán thán đã lâu. Trước kia ba lần chinh phạt Cao Câu Ly, huy động hàng triệu binh dân cả nước mà không hạ được, khiến cho quốc lực hao tổn khôn cùng; sau lại nảy sinh xung đột với Đông Đột Quyết, đến nỗi đoạn tuyệt cả quan hệ bang giao hữu hảo. Trong tình cảnh ấy, Dương Quảng vẫn không biết hối cải, bỏ bê chính sự, vứt lại cả Lạc Dương và Trường An mà xuôi nam tới Giang Đô. Cục diện thiên hạ hiện thời chẳng khác gì những năm cuối đời nhà Tần, Lưu Bang và Hạng Vũ nhờ thời loạn mà xưng vương xưng bá, khiến hậu thế ngẫm lại vẫn thấy sục sôi hào khí." Lý Mật ngưng lại giây lát, Trạch Nhượng ra hiệu cho hắn cứ thẳng thắn giãi bày, hắn liền tiếp lời: "Lưu Bang và Hạng Vũ vốn chỉ là kẻ áo vải dân đen mà còn làm nên đại nghiệp, nay dựa vào hùng tài đại lược của ngài, cùng đội ngũ tinh binh dũng tướng dưới trướng, việc đoạt lấy hai kinh Đông - Tây, diệt sạch đại Tùy dễ như trở bàn tay, đây chính là thời cơ vàng hội tụ đủ thiên thời, địa lợi, nhân hòa!"
Lý Mật tài ăn nói xuất chúng, đồng thời sự am hiểu về lịch sử của hắn cũng vượt xa người thường, có thể mượn chuyện xưa soi việc nay, dựa vào quy luật lịch sử để suy đoán xu hướng thời cuộc, đây là điều người bình thường khó lòng làm nổi. Lý Mật nhận ra tình thế nhà Tùy có sự tương đồng kinh ngạc với cuối thời Tần, đại Tùy diệt vong chỉ còn là vấn đề thời gian, nay quần hùng trục lộc, ắt sẽ có một kẻ hoàn thành đại nghiệp thay triều đổi đại; với thực lực của Ngõa Cương quân, ai dám chắc người đó không phải là Trạch Nhượng? Lời lẽ trên chất chứa trọn vẹn sự kỳ vọng của Lý Mật dành cho Trạch Nhượng.
Đáng tiếc, Lý Mật lại bị thực tế giáng cho một cái tát phũ phàng. Lý Mật nói đến sùi bọt mép, Trạch Nhượng lại lộ rõ vẻ mặt "chuyện đó can hệ quái gì tới ta". Hắn thong thả buông lời: "Huynh đệ, có phải ngươi nhầm lẫn rồi không, ta vốn dĩ chỉ là một tên thảo khấu, chưa từng tơ tưởng đến thiên hạ của nhà họ Dương. Chí hướng này của ngươi hay thì có hay, nhưng quá đỗi xa vời, nằm ngoài phạm vi mưu sinh của Ngõa Cương quân ta." Cảnh ngộ này chẳng khác nào chuyện đi phỏng vấn ngày nay, thao thao bất tuyệt kể về lý tưởng sự nghiệp cùng hoài bão nghề nghiệp, để rồi bị ông chủ phũ phàng từ chối. Người đời đều biết đến câu danh ngôn của Napoleon: "Người lính không muốn làm tướng không phải là người lính giỏi", nhưng thử hỏi, một viên tướng không muốn làm hoàng đế liệu có phải là viên tướng giỏi chăng? Lý Mật vốn định dựa vào việc vạch ra chí lớn, mưu tính đại kế cho Trạch Nhượng để bước chân vào hàng ngũ lãnh đạo cấp cao của Ngõa Cương quân, kết quả lại hoàn toàn xôi hỏng bỏng không. Non cùng nước cạn ngờ hết lối, bóng râm hoa rạng lại thấy làng; giữa lúc Lý Mật bắt đầu hoài nghi lại kiếp nhân sinh, thời cơ đã lặng lẽ tìm đến bên mình.
