Chương 37
Chương 37: Tôi lửa
Đăng ngày 29/09/2026
19
Sáng hôm sau, mưa vẫn chưa tạnh hẳn nhưng đã nhỏ đi nhiều, tí tách rơi như có ai đang sàng cát trên trời.
Tần Thiết Tâm dậy sớm hơn mọi ngày. Lúc tới nhà ăn, xửng hấp màn thầu mới vừa bốc hơi, hắn mua bốn cái, ăn vội cùng chỗ dưa muối còn thừa từ đêm qua. Lại nhét hai cái vào lòng áo, hắn mới cất bước về phía Tượng Tạo Doanh.
Mưa lất phất dày hạt, táp vào mặt mát rượi. Lúc gần tới lán, hắn đã thấy bên trong hắt ra ánh lửa——lò rèn đã nhóm rồi.
Chu Thương ngồi trên chiếc ghế đẩu trước lò, đang dùng kìm sắt gảy than củi. Nghe thấy tiếng bước chân, ông chẳng thèm ngẩng đầu: "Đến rồi à?"
"Vâng." Tần Thiết Tâm bước vào, lấy trong lòng áo ra hai chiếc màn thầu bọc giấy dầu, đặt lên khúc gỗ cạnh tay Chu Thương: "Bữa sáng ạ."
Chu Thương liếc qua một cái, không đáp, tiếp tục gảy lửa. Tần Thiết Tâm để ý thấy chân trái của ông——ống quần đã buông xuống che kín đầu gối, nhưng khi đi lại vẫn có phần gượng gạo, bước chậm hơn thường ngày. Dẫu vậy ít nhất cũng đã đứng được.
Ban ngày dường như chẳng có gì khác với mọi khi. Tiếng rèn sắt leng keng beng beng, tiếng bễ lò phì phò thở dốc, than củi nổ lách tách khe khẽ. Chu Thương vẫn ít lời, chỉ thỉnh thoảng gắt lên một câu khi Tần Thiết Tâm đập búa sai: "Nhẹ tay quá!", "Nung quá lửa rồi!", "Đồ phá hoại!"
Thế nhưng hôm nay, Chu Thương nghỉ tay nhiều lần hơn. Mỗi lần ngừng lại, ông không đi uống rượu mà chống kìm sắt đứng bên đe của Tần Thiết Tâm quan sát. Nhìn rất chăm chú, mắt híp lại như đang săm soi món đồ quý hiếm nào đó.
Tần Thiết Tâm đang sửa một cán mâu. Việc này đòi hỏi sự tỉ mỉ——cán mâu làm từ gỗ cứng, bị ngựa giẫm nứt toác, phải ghép hai nửa nứt lại cho khít rịt rồi dùng đai sắt nẹp chặt, lại không được nẹp quá chặt kẻo gỗ không còn khoảng trống để giãn nở.
Hắn đo đạc kích thước, cắt lá sắt, nung đỏ rồi uốn thành vòng. Vừa toan lồng vào cán mâu thì Chu Thương lên tiếng: "Dừng lại."
Tay Tần Thiết Tâm khựng lại.
Chu Thương đón lấy đai sắt, giơ lên đón ánh sáng ngắm nghía: "Dày hơn nửa li."
Tần Thiết Tâm ngẩn ra, nhận lại đai sắt, dùng ngón tay miết nhẹ——quả thực dày hơn loại hắn thường dùng một tơ. Nếu không sờ thật kỹ thì căn bản chẳng nhận ra nổi.
"Dày thế này, nẹp vào đến lúc gỗ nở ra không có chỗ thoát, lại nứt tiếp." Chu Thương nói chậm rãi, từng chữ nện chắc như búa gõ lên đe, "Cây hôm qua ngươi sửa nứt ra cũng vì cớ đó."
Tần Thiết Tâm sực nhớ lại——hôm qua đúng là có một cán mâu lúc nẹp vào trông rất ổn, sáng nay xem lại thì mép đai sắt đã nứt toác một kẽ hở mảnh.
Hắn không nói gì, ném đai sắt vào đống phế liệu, cắt miếng khác làm lại.
Chu Thương đứng nhìn hắn cắt, nung đỏ, uốn vòng rồi lại cầm lên xem, bấy giờ mới gật đầu, quay người về làm tiếp việc của mình.
Suốt cả ngày cứ trôi qua như thế. Chu Thương như biến thành người khác, không còn chỉ bắt hắn "tự nhìn" nữa mà cứ đến điểm mấu chốt lại buông một lời chỉ điểm. Khi thì là cách chọn vật liệu, lúc lại là cách phán đoán độ lửa, có khi là nhịp rơi của búa. Câu nào câu nấy đều ngắn gọn, nhưng đều điểm trúng những vướng mắc mà trước kia Tần Thiết Tâm tự mày mò mãi không thông.
Hết một ngày, Tần Thiết Tâm cảm thấy mớ kinh nghiệm chắp vá vụn vặt trước đây của mình như những hạt ngọc rơi rớt nay được một sợi chỉ xâu kết lại. Tay hắn sửa cán mâu vững hơn, độ lửa lúc rèn đầu tên nắm chuẩn hơn, ngay cả góc mài đao dường như cũng được khai thông.
Lúc tan việc buổi chiều muộn, mưa đã tạnh hẳn. Phương tây hé ra một vệt đỏ sẫm, viền mây dát ánh vàng.
Tần Thiết Tâm không về thẳng doanh trại. Hắn rẽ vào con phố nhỏ, đong một bầu rượu——loại rẻ nhất và nặng nhất ở chỗ lão chột mắt, cũng là thứ Chu Thương hay uống. Hắn lại mua nửa cân thịt bò khô, thái lát dày, gói cẩn thận trong giấy dầu.
Lúc này mới quay lại căn lán.
***
Trong lán, Chu Thương đang thu dọn bàn thợ của mình. Đồ nghề xếp ngay ngắn từng món, phế liệu gom vào góc, mạt sắt trên đe cũng quét sạch sẽ. Nghe tiếng bước chân, ông quay người lại.
Trông thấy thứ Tần Thiết Tâm xách trên tay, lão thợ rèn thoáng ngẩn người.
Bầu rượu, gói giấy dầu. Vỏn vẹn hai món đơn sơ.
Chu Thương không nói gì. Ông nhớ lại rất nhiều năm trước, đồ đệ đầu tiên đến bái sư xách theo nguyên một chiếc đùi lợn và hai vò rượu ngon. Đồ đệ thứ hai mang theo một xấp vải mịn cùng một hộp điểm tâm. Đồ đệ thứ ba...
Ông xua tay: "Đã bảo không cần rồi mà."
Tần Thiết Tâm đặt rượu và thịt bò khô lên khúc gỗ: "Không phải lễ bái sư. Đây là... bổn phận."
Chu Thương nhìn khuôn mặt không chút biểu cảm của hắn, nhìn hồi lâu rồi bỗng bật cười——nụ cười mờ nhạt đến mức gần như chẳng thấy được. Ông cầm lấy bầu rượu, bật nút, ực một ngụm lớn. Rượu rất cay, cay đến mức khiến ông phải híp mắt lại.
"Thằng nhóc này," ông quẹt miệng, "sau này để dành tiền mà ăn cơm, cưới vợ. Ngươi ăn khỏe như voi thế kia, nhà thường nuôi sao nổi."
Lời này nghe như mắng, nhưng ngữ khí lại pha chút gì đó khác lạ.
Tần Thiết Tâm khẽ "vâng" một tiếng.
Chu Thương uống thêm một ngụm, đặt bầu rượu xuống, nét mặt nghiêm túc hẳn lại: "Ta có ba bí phương. Hôm nay dạy ngươi cái đầu tiên——thuật tôi thép nơi chiến địa."
Ông bước tới góc lán, nơi có mấy thùng gỗ đang đậy nắp. Chu Thương mở từng cái ra.
Thùng thứ nhất bốc mùi nồng nặc sực mũi——nước tiểu ngựa. Vàng khè, trên mặt nổi bọt.
Thùng thứ hai chứa bột màu xám trắng, mang theo mùi diêm tiêu hắc nồng.
Thùng thứ ba đựng một thứ chất lỏng màu đen sền sệt, giống như dầu trẩu đã nấu qua.
Thùng thứ tư là nước bùn đục ngầu, dưới đáy lắng đầy sỏi cát.
"Trên chiến trường, đại quân nhổ trại đổi chỗ là chuyện thường ngày." Chu Thương chỉ vào mấy cái thùng, "Nước tôi không đủ, bị thất lạc, bị hắt đổ thì làm thế nào? Chờ chết à?"
Ông cầm một phôi đoản đao mới rèn xong chưa qua tôi luyện, đưa vào lò nung đỏ. Thân đao ánh lên sắc cam rực, hơi nóng phả ra hầm hập.
"Nước tiểu ngựa." Chu Thương bảo, "Có muối, tôi nguội nhanh, đao cứng nhưng giòn. Hợp để ứng cấp lúc gấp gáp, chém vài nhát rồi vứt."
Ông nhúng phôi đao vào thùng nước tiểu ngựa.
"Xì——!"
Khói trắng bốc lên cuồn cuộn, kèm theo mùi khai nồng nặc khó ngửi. Thân đao lập tức chuyển sang màu đen kịt. Lúc Chu Thương rút ra, khắp mặt đao chằng chịt những vết nứt li ti——như mặt băng bị đá đập trúng.
"Thấy chưa?" Chu Thương đưa thanh đao cho Tần Thiết Tâm, "Cứng thì có cứng, nhưng chỉ cần chạm phải binh khí nặng là gãy ngay."
Tần Thiết Tâm nhận lấy thanh đao, ngón tay miết qua những vết rạn nứt. Vết nứt rất mảnh nhưng dày đặc, chằng chịt khắp cả thân đao.
Chu Thương lại cầm một phôi đao tương tự, nung đỏ rồi nhúng vào thùng đất tiêu.
Lần này tiếng "xì" êm hơn, khói trắng cũng ít. Đợi thân đao chuyển đen, Chu Thương rút ra, dùng kìm sắt gõ nhẹ lên sống đao——tiếng kêu thanh giòn, mang theo độ dẻo dai của thép.
"Tôi bằng đất tiêu thì nguội chậm, nhưng dẻo dai. Thích hợp cho loại đao dùng lâu dài." Ông nói, "Nhược điểm là dễ rỉ sét, phải lau chùi luôn tay."
Kế tiếp là thứ chất lỏng màu đen——Chu Thương bảo đó là một loại dầu đôi khi gom được trên chiến trường, đem trộn với tro rơm rạ. Đao tôi ra có độ cứng vừa phải, chống rỉ tốt hơn, nhưng độ sắc bén của lưỡi không bằng hai loại trước.
Cuối cùng là nước bùn. Khi tôi đao, tiếng kêu trầm đục, thân đao đen sẫm lại. Rút ra xong, Chu Thương mài vài đường trên đá mài, lưỡi đao liền ánh lên sắc xanh lạnh lẽo.
"Cái này phiền phức nhất." Chu Thương nói, "Phải là bùn có chất kiềm, lại phải lắng sạch hết cát sỏi. Đao tôi ra vừa dẻo dai vừa sắc bén, nhưng tốn công tốn sức, chẳng phải lúc nào cũng kịp làm."
Dứt lời, ông nhìn Tần Thiết Tâm: "Trên chiến trường chẳng có chỗ cho ngươi kén chọn. Bên tay có gì thì dùng nấy. Nhưng phải biết dùng xong sẽ ra kết quả thế nào——đừng hòng mong dùng đao tôi bằng nước tiểu ngựa đi đỡ búa nặng, cũng đừng vác đao tôi bằng nước bùn ra mà chạy đua với thời gian."
Tần Thiết Tâm nhìn mấy thanh đao, trong lòng như bị thứ gì đó thúc mạnh một cái.
Những kinh nghiệm này quá đỗi mộc mạc, quá đỗi trần trụi. Chẳng hề có những thứ huyền ảo như "hỏa hầu tam chuyển" hay "thất phân tuyền nhãn", mà chỉ rặt nước tiểu ngựa, đất tiêu, dầu đen, nước bùn.
Thế nhưng chính những thứ mộc mạc ấy lại là thành quả mà vô số thợ rèn nơi sa trường đã đánh đổi bằng những lưỡi đao gãy, những thanh kiếm mẻ, và cả tính mạng của chính mình để từng chút một thử nghiệm ra.
Chu Thương cứ thế bộc bạch tất cả, bày ra trước mắt hắn.
Cổ họng Tần Thiết Tâm hơi khô khốc. Hắn mấp máy môi, muốn nói điều gì đó, nhưng cuối cùng chỉ thốt ra được hai tiếng: "Cảm ơn thầy."
Chu Thương xua tay: "Bắt tay vào làm đi."
Tần Thiết Tâm cầm một phôi đao mới, đưa vào nung đỏ. Hắn thử nước tiểu ngựa trước——khoảnh khắc nhúng vào, mùi khai nồng nặc xộc thẳng lên mũi, thân đao co rút dữ dội trong làn nước, phát ra những tiếng nứt vỡ li ti gần như không nghe thấy.
Hắn rút ra, đưa lên đón ánh sáng nhìn. Vết nứt dày đặc chằng chịt.
"Nhớ kỹ chưa?" Chu Thương hỏi.
"Rồi ạ."
"Thanh tiếp theo."
Tần Thiết Tâm lại nung đỏ một phôi đao khác, nhúng vào đất tiêu. Lần này hắn chú ý lắng nghe âm thanh——tiếng "xì" quả thực kéo dài hơn, khói trắng từ từ bốc lên. Tốc độ thân đao chuyển đen cũng chậm hơn đôi chút.
Suốt một canh giờ, hắn chỉ thử hai loại. Chu Thương đã lên tiếng gọi dừng.
"Tham thì thâm." Lão thợ cất chỗ phôi đao còn lại đi, "Về ngủ đi. Mai tiếp tục."
Tần Thiết Tâm gật đầu, thu dọn đồ nghề ngay ngắn rồi quay người định bước đi.
"Khoan đã." Chu Thương gọi giật lại, chỉ vào gói thịt khô trên khúc gỗ, "Cái này cầm về đi. Răng lợi ta kém rồi, nhai không nổi."
Tần Thiết Tâm nhìn gói thịt khô, rồi lại nhìn Chu Thương. Cuối cùng, hắn cầm lấy bọc giấy dầu, nhét vào lòng áo.
"Thầy, mai gặp lại."
"Cút đi."
***
Trở về phòng ngủ, các thợ thuyền chung phòng đều đã say giấc. Tần Thiết Tâm lần mò châm đèn dầu trong bóng tối, lôi dưới dát giường ra một cuốn sổ nhỏ——đó là thứ hắn tự đóng lại bằng những mẩu giấy vụn dành dụm được từ khi tới Tượng Tạo Doanh, trên đó ghi chép đủ thứ linh tinh vụn vặt.
Hắn lật sang trang mới, nương theo ánh đèn tù mù bắt đầu đặt bút viết:
"Ngày mùng chín tháng ba, trời mưa. Chiến địa thối hỏa pháp: phần một. Nước tiểu ngựa: nhanh, cứng, giòn, vết nứt chằng chịt li ti. Đất tiêu: chậm, dẻo dai, tiếng thanh, dễ rỉ sét..."
Chữ viết rất chậm, nét chữ cũng xấu, nhưng từng nét từng chữ đều nắn nót, ngay ngắn. Hắn ghi lại toàn bộ những gì mắt thấy, tai nghe, cùng cảm giác đích thân thử nghiệm đêm nay. Viết xong, hắn lại ngắm nhìn mấy dòng chữ hồi lâu rồi mới thổi tắt đèn, ngả lưng xuống giường.
Nhắm mắt lại, ý thức chìm sâu vào Hư Cảnh.
Trong Hư Cảnh · Đoán Đường, cuốn đồ lục kia vẫn lặng lẽ lơ lửng. Tần Thiết Tâm không xem các mục đã có mà hồi tưởng lại mấy chiếc thùng gỗ đêm nay——mùi khai của nước tiểu ngựa, bột màu xám của đất tiêu, độ sền sệt của dầu đen và làn nước bùn đục ngầu.
Hắn thử mô phỏng quá trình tôi luyện trong Hư Cảnh. Lần đầu tiên, hỏa hầu quá mức, phôi đao vừa nhúng vào nước tiểu ngựa đã gãy đôi ngay tắp lự. Lần thứ hai, hỏa hầu chưa tới, tôi xong lưỡi đao mềm oặt. Lần thứ ba, lần thứ tư...
Mỗi lần thất bại, hắn lại thoát khỏi Hư Cảnh, hí hoáy ghi thêm một dòng vào cuốn sổ nhỏ, rồi quay vào thử tiếp.
Hắn như một miếng bọt biển khô khốc rơi xuống biển sâu, điên cuồng hút nước.
***
Cùng lúc đó, tại trung quân đại doanh.
Ánh nến sáng trưng, trong trướng chỉ có hai người.
Lý Tầm ngồi ở vị trí chủ tọa, trạc tuổi năm mươi, hai bên tóc mai đã điểm bạc, nhưng đôi mắt lại sáng đến rợn người — đó không phải nét trong trẻo tinh anh của người trẻ, mà là thứ tinh quang lắng đọng qua năm tháng, hệt như mãnh hổ đang khóa chặt con mồi. Ông là chủ soái Bắc Quân, cũng là danh tướng đương triều, dụng binh như thần, bao năm qua luôn đè cho Bắc Địch không thở nổi.
Người đang đứng trước mặt ông là Lý Chấn Uy.
"Nghĩ kỹ rồi chứ?" Lý Tầm cất lời, giọng không lớn nhưng từng chữ đều nặng tựa ngàn cân.
"Nghĩ kỹ rồi ạ." Lý Chấn Uy đứng thẳng tắp.
"Nói nghe xem."
"Mạt tướng muốn lập một đội ngũ đặc biệt. Không lập biên chế chính thức, bên ngoài gọi là 'Hãm Trận Nhị Doanh', đãi ngộ ngang hàng Hãm Trận Doanh, nhưng nhiệm vụ thì khác." Tốc độ nói của Lý Chấn Uy rất bình ổn, tựa như đang giãi bày một chuyện đã nghiền ngẫm đến thấu đáo từ lâu, "Chọn từ một trăm người, cuối cùng giữ lại năm mươi. Không đánh trực diện, chuyên trách trảm thủ."
Ngón tay Lý Tầm gõ nhẹ lên mặt kỷ: "Lý do."
"Da Luật Hồng Sơn già rồi." Lý Chấn Uy nói, "Lão không đợi nổi nữa. Vương đình Bắc Địch mấy năm nay sóng ngầm cuộn trào, mấy đứa con trai của lão chẳng có lấy một đứa khiến lòng người quy phục. Lão buộc phải nhân lúc uy vọng của mình vẫn còn để đánh hạ một cơ nghiệp — bằng không một khi lão chết, Bắc Địch sẽ rơi vào nội loạn, muốn nam hạ lần nữa cũng khó."
Hắn khựng lại một chút: "Thế nên mạt tướng phán đoán, trong vòng nửa năm đến một năm nữa, ắt có đại quyết chiến. Da Luật Hồng Sơn sẽ dốc toàn lực, dồn hết vốn liếng vào trận đánh này."
Lý Tầm nhìn hắn, hồi lâu sau mới khẽ gật đầu: "Nói tiếp đi."
"Đến lúc đó chiến trường ắt sẽ hỗn loạn. Giáp lá cà nơi tiền tuyến, thắng bại khó lường. Nhưng nếu có một nhánh tinh binh thừa dịp hỗn loạn đâm thẳng vào bụng trận địa địch, tìm ra vương kỳ của Da Luật Hồng Sơn, trảm tướng đoạt cờ..." Ánh mắt Lý Chấn Uy sắc như dao, "Cục diện trận chiến coi như định đoạt."
Trong trướng rơi vào tĩnh lặng. Ngọn nến kêu tách một tiếng, nổ bung một đóa hoa đèn.
"Năm mươi người, đủ không?" Lý Tầm hỏi.
"Đủ. Người đông thì động tĩnh lớn, khó bề ẩn nấp." Lý Chấn Uy đáp, "Nhưng năm mươi người này phải là tinh nhuệ trong số những kẻ tinh nhuệ — có thể bôn tập đường dài, biết ẩn nấp ngụy trang, thạo cận chiến giáp lá cà, lại phải hiểu chút tiếng Địch và quen thuộc địa hình phương bắc."
Lý Tầm đứng dậy, sải bước tới giữa trướng. Thân hình ông không cao, nhưng mỗi bước chân đều vững chãi như đóng đinh xuống đất.
"Nửa năm." Ông nói, "Ta cho ngươi toàn quyền. Từ ngũ trưởng trở xuống, tùy ngươi chọn. Người của Hãm Trận Doanh ngươi cũng có thể đụng tới — nhưng chỉ được lấy những kẻ cam tâm tình nguyện đi theo ngươi."
Lý Chấn Uy quỳ một gối xuống đất: "Mạt tướng lĩnh mệnh."
Lý Tầm thò tay vào ngực áo rút ra một khối lệnh bài bằng sắt đen ngòm, bên trên khắc hình đầu hổ dữ tợn. Ông đưa cho Lý Chấn Uy: "Đây là lệnh bài của ta. Thấy lệnh như thấy người. Lúc chọn người, nếu có kẻ cản trở, cứ lấy thứ này ra."
"Tạ ơn Đại tướng quân."
Lý Chấn Uy đón lấy lệnh bài, cảm giác lạnh lẽo lập tức truyền vào lòng bàn tay. Hắn đứng dậy, lại rút từ trong ngực ra một danh sách, hai tay dâng lên: "Mạt tướng đã lập một bản danh sách sơ tuyển, xin Đại tướng quân xem qua."
Lý Tầm nhận lấy rồi mở ra. Tấm da cừu viết chi chít tên họ, sau mỗi cái tên đều có ghi chú vắn tắt về đơn vị và sở trường. Ông đưa mắt lướt qua từng dòng, đọc rất chậm rãi.
Đến cuối cùng, ánh mắt ông dừng lại.
Cái tên rốt ráo: Tần Thiết Tâm. Ghi chú phía sau: Tượng Tạo Doanh Bính Tự Thất Tổ, thợ rèn cấp một, sức khỏe hơn người, giỏi rèn đúc, người chế tạo chùy phá giáp kiểu mới.
Lý Tầm ngẩng đầu nhìn Lý Chấn Uy, bất chợt mỉm cười: "Ngươi chuẩn bị chu đáo thật đấy."
Lý Chấn Uy cũng cười, nụ cười mang theo nhuệ khí của người thợ săn vừa phát hiện con mồi ưng ý: "Hắn là một mầm non tốt. Sức lực lớn, vác được giáp nặng khí giới nặng; biết rèn sắt, binh khí đi đường có trục trặc liền sửa được ngay; tính tình lại trầm ổn, không khinh suất tiến bừa. Quan trọng nhất là — hắn mới tới chưa lâu, lai lịch sạch sẽ, thám tử của Bắc Địch không tài nào để mắt tới hắn."
Lý Tầm gập bản danh sách lại, đưa trả cho Lý Chấn Uy: "Đi đi. Nửa năm sau, ta muốn thấy một mũi dao nhọn có thể xé toang trung quân của Da Luật Hồng Sơn."
"Mạt tướng quyết không phụ mệnh."
Lý Chấn Uy khom người lui ra khỏi đại trướng. Gió đêm thốc thẳng vào mặt, mang theo cái lạnh thấu xương đặc trưng của hoang nguyên ải ngoại. Hắn siết chặt khối lệnh bài trong tay, bản danh sách giấu trong tay áo khẽ lay động sột soạt.
Gió thổi qua rèm trướng, hất tung một góc.
Trên án kỷ, ánh nến chập chờn rọi sáng mép giấy da cừu hơi cong lên, nơi có ba chữ —
Tần Thiết Tâm.
