Chương 6
Chương 6: Cây táo
Đăng ngày 06/10/2026
19
Midge mất được ba tháng, hắn mới lần đầu để ý đến cây táo đó. Dĩ nhiên, trước giờ hắn vẫn biết nó ở đó. Nó đứng cùng những cây khác trên bãi cỏ trước nhà, triền dốc thoải dần về phía xa. Nhưng trước đây hắn chưa từng thấy cái cây thứ ba tính từ bên trái có gì khác biệt, chỉ là đứng hơi xa những cây kia một chút, gần sân hiên hơn một chút mà thôi.
Đó là một buổi sớm mai trời trong vào đầu xuân, hắn đứng cạo râu bên cửa sổ mở. Mặt dính đầy bọt, tay cầm dao cạo, hắn nhoài người ra ngoài một chút để hít thở bầu không khí ban mai. Đúng lúc đó, ánh mắt hắn rơi vào cây táo. Có lẽ do bóng đổ, hoặc có lẽ do mặt trời mọc sau rặng cây vừa khéo chiếu rọi vào nó vào thời khắc cụ thể này, nhưng cảm giác quen thuộc đến rợn người ấy thì tuyệt đối không thể nhầm.
Hắn đặt dao cạo lên bậu cửa sổ, nhìn chằm chằm không chớp mắt. Khác hẳn những thân cây gồ ghề cành lá đan xen bên cạnh, cái cây này gầy guộc khẳng khiu, những cành thưa thớt vươn cao trên thân cây, trông như một người cao kều với bờ vai hẹp. Trông nó như một kẻ chịu nạn, dường như bầu không khí trong lành buổi sớm đã làm nó cóng buốt. Vòng lưới thép quấn quanh từ gốc lên tận giữa thân, như chiếc váy dạ xám mặc trên một cơ thể mảnh khảnh. Những cành trên cùng chĩa thẳng lên trời nhưng hơi rũ xuống, tựa cái đầu gục vì kiệt sức.
Hắn vẫn thường thấy Midge đứng ủ rũ như thế. Ngoài vườn, trong nhà, thậm chí cả lúc đi mua sắm trên thị trấn, cô luôn còng lưng như vậy, bóng dáng toát lên vẻ nhọc nhằn, như thể cuộc đời đã chọn trúng cô, đè lên cô những gánh nặng mà người thường không sao chịu nổi, vậy mà cho đến tận cuối đời, cô chẳng hề hé răng than vãn nửa lời. "Midge, trông em mệt lắm rồi đấy, làm ơn ngồi xuống nghỉ một lát đi!" Nhưng nghe thấy thế, cô nhất định sẽ nhún vai, thở dài một tiếng: "Việc thì vẫn phải có người làm chứ." Rồi cô lại thẳng lưng lên, tiếp tục ép mình làm những việc vô nghĩa lặp đi lặp lại ngày này qua tháng khác.
Hắn vẫn nhìn trừng trừng vào cây táo. Nó như đang chịu khổ hình, còng rạp thân mình, cành nhánh rũ rượi, mệt mỏi rã rời. Những chiếc lá khô sót lại sau mưa gió mùa đông giờ đây như những sợi tóc mảnh, run rẩy trong gió xuân. Chúng đều đang câm lặng kháng nghị với hắn: "Đều tại anh, tại anh bỏ mặc nên tôi mới ra nông nỗi này."
Hắn thu ánh mắt từ ngoài cửa sổ về, tiếp tục cạo râu. Đối với một người rốt cuộc đã tìm lại tự do như hắn, việc để bản thân suy nghĩ vẩn vơ chẳng có ý nghĩa gì. Hắn tắm rửa, thay quần áo rồi xuống lầu ăn sáng. Trứng và thịt xông khói ấm nóng đang đợi hắn trong đĩa. Hắn cầm đĩa, ngồi vào chỗ của mình bên bàn ăn, trên đó đặt tờ The Times phẳng phiu, mới tinh dành riêng cho hắn. Hồi Midge còn sống, bao giờ hắn cũng đưa báo cho cô xem trước. Đó là thói quen từ bấy lâu nay của họ. Sau bữa sáng hắn mới cầm tờ báo cô đọc xong vào thư phòng, nhưng khi ấy báo đã bị cô lật cho nhăn nhúm, lộn xộn, hứng thú đọc cũng vơi đi quá nửa. Hơn nữa tin tức cũng chẳng còn mới mẻ gì, bởi trong bữa sáng cô đã đọc to toàn bộ những tin tức tồi tệ nhất một lượt, kèm theo những lời bình phẩm không ngớt. Đó là thói quen buổi sáng cô đã hình thành. Nếu bạn bè của hai người sinh con gái, cô sẽ ngoắt đầu một cái, chép miệng: "Tội nghiệp thật, lại là con gái." Nếu sinh con trai, cô sẽ bảo: "Con trai thời nay khó dạy lắm đấy." Hắn từng thử đứng ở góc độ tâm lý để ngẫm về phản ứng của cô, nghĩ rằng vì hai người không có con nên cô mới ghen ghét trước sự xuất hiện của những sinh linh mới. Nhưng thời gian trôi qua, hắn nhận ra cô đối với bất cứ điều tốt đẹp nào cũng vậy, dường như trong mắt cô, cội nguồn của phúc luôn luôn là họa.
"Báo nói năm nay số người đi nghỉ mát đạt mức kỷ lục từ trước tới giờ. Cứ mong họ chơi vui vẻ đi, chẳng còn gì để nói nữa." Nhưng giọng điệu của cô đầy vẻ khinh miệt, chẳng nghe ra chút lời chúc phúc nào. Ăn sáng xong, cô đẩy ghế ra sau, thở dài: "Thôi thì..." Cô không nói hết câu, nhưng tiếng thở dài, cái nhún vai, và tấm lưng gầy còng xuống khi tự mình dọn dẹp bát đĩa để giảm bớt việc cho người làm, tất cả đều trở thành nỗi oán hờn cô chĩa thẳng vào hắn từ bấy lâu nay, năm này qua tháng khác phủ lên cuộc sống của họ một lớp bụi xám xịt.
Hắn im lặng, gượng gạo mở cửa thông sang bếp giúp cô, thế là cô bưng đống bát đĩa nặng đến mức khiến cô không thẳng lưng nổi, nhọc nhằn bước qua trước mặt hắn, dù những thứ đó vốn chẳng cần cô phải dọn. Chẳng mấy chốc, hắn nghe thấy tiếng nước chảy róc rách từ cánh cửa khép hờ, bèn quay lại ghế ngồi xuống. Tờ The Times trước mặt nhăn nhúm, còn dính cả mứt cam, dựa bên cạnh giá để bánh mì nướng. Một lần nữa, câu hỏi ám ảnh kia lại vang vọng trong đầu hắn: "Rốt cuộc mình đã tạo nghiệt gì chứ?"
Cô không cằn nhằn. Một người vợ cằn nhằn, cũng như mẹ vợ, đều là những trò đùa cũ rích. Trong ký ức của hắn, Midge chưa từng nổi giận hay cãi vã với hắn. Chỉ là những con sóng ngầm oán hờn ẩn dưới sự nhẫn nhịn cao cả đó đã phá nát hoàn toàn bầu không khí gia đình, khiến hắn nảy sinh cảm giác u ám và tội lỗi.
Lát nữa có lẽ trời sẽ mưa. Hắn chui vào thư phòng đã bật máy sưởi điện, châm tẩu thuốc để trốn tránh phiền muộn. Khói thuốc lượn lờ trong căn phòng nhỏ. Hắn ngồi trước bàn viết, vờ như sắp viết thư, nhưng thực chất chỉ đang trốn trong bốn bức tường thuộc về riêng mình, tận hưởng cảm giác thoải mái và an toàn nơi đây mang lại. Rồi cửa mở. Midge đang nhọc nhằn xỏ vào chiếc áo mưa, mũ dạ rộng vành kéo thấp quá lông mày. Cô khựng lại, khịt mũi vẻ bất mãn.
"Ái chà! Mùi thuốc nồng quá."
Hắn không nói gì, chỉ khẽ dịch người, lấy cánh tay che cuốn tiểu thuyết hắn tùy tiện rút từ giá sách xuống lúc rảnh rỗi.
"Anh không định lên thị trấn à?" Cô hỏi.
"Tôi không định đi."
"Ồ! Ồ, được rồi, không sao." Cô quay người bước về phía cửa.
"Sao thế? Em có việc gì cần làm à?"
"Chỉ là mua cá cho bữa trưa thôi. Thứ Tư họ không giao tận nhà. Nhưng nếu anh bận thì tôi tự đi cũng được. Tôi chỉ nghĩ..."
Cô chưa nói hết câu đã bước ra khỏi phòng.
"Không sao đâu, Midge," hắn gọi với theo, "bây giờ tôi lái xe đi. Em không việc gì phải để mình bị ướt."
Nghĩ là cô không nghe thấy, hắn đi ra sảnh. Cô đang đứng bên cửa trước mở toang, mưa phùn đã rơi lên người cô. Cô xách một chiếc giỏ dẹt dài, đang xỏ găng tay làm vườn.
"Dù sao cũng ướt rồi," cô nói, "chẳng sao cả. Anh nhìn mấy bông hoa kia kìa, phải chống cành cho chúng đã, xong tôi mới đi mua cá."
Tranh cãi cũng vô ích, cô đã quyết định rồi. Hắn đóng cửa sau lưng cô, quay lại ngồi trong thư phòng, nhưng chẳng hiểu sao căn phòng dường như không còn dễ chịu như trước nữa. Một lát sau, hắn ngẩng đầu nhìn ra ngoài cửa sổ, thấy cô vội vã đi qua, chiếc áo mưa chưa cài cúc bay phần phật trong gió, vành mũ rộng đọng đầy nước mưa, trong giỏ chất đầy những bông cúc hoàng đào ủ rũ. Hắn cảm thấy cắn rứt lương tâm, bèn cúi người tắt máy sưởi điện.
Đông qua xuân tới, rồi lại đến hè. Hắn không đội mũ, tay đút túi quần, tản bộ trong vườn. Hắn thả lỏng hoàn toàn, cảm nhận ánh nắng ấm áp chiếu sau lưng, ngắm nhìn dòng sông nhỏ uốn lượn êm đềm chảy qua rừng cây, đồng bãi, rồi nghe thấy tiếng rít chói tai của chiếc máy hút bụi Hoover từ phòng ngủ trên lầu bỗng trầm xuống, sau đó khục khặc hai tiếng rồi tắt ngấm. Midge gọi với xuống chỗ hắn đang đứng dưới sân hiên.
"Anh có định làm gì không?" Cô hỏi.
Hắn chẳng định làm gì cả. Chính hơi thở giao mùa giữa xuân và hè đã lôi cuốn hắn bước vào vườn. Hắn tận hưởng cảm giác tuyệt vời sau khi nghỉ hưu không còn phải lên thành phố đi làm nữa. Thời gian đối với hắn không còn quan trọng, chỉ cần hắn thích, có thể tùy ý lãng phí.
"Không," hắn đáp, "hiếm khi thời tiết đẹp thế này. Sao vậy?"
"Ồ, không có gì," cô trả lời, "chỉ là cái ống thoát nước phiền phức dưới cửa sổ bếp lại có vấn đề rồi. Lần này tắc hẳn. Chưa từng có ai kiểm tra nên mới hỏng như thế. Chiều nay tôi tự thử sửa xem sao."
Gương mặt cô biến mất sau cửa sổ. Tiếng khục khặc lại vang lên, âm thanh dần cao lên, máy hút bụi lại tiếp tục hoạt động. Đúng là ngu ngốc, một ngày tuyệt đẹp cứ thế bị phá hỏng. Điều làm mất hứng không phải là lời đề nghị của cô, cũng không phải bản thân việc thông cống rãnh — thứ đó dễ như trò nghịch bùn của con nít, mà là nét mặt mệt mỏi của cô khi nhìn xuống sân hiên ngập nắng, bàn tay mệt mỏi vén lọn tóc rũ xuống, và tiếng thở dài không bao giờ vắng mặt khi cô rời khỏi cửa sổ, cùng câu nói lửng lơ: "Tôi cũng muốn đứng thảnh thơi dưới nắng chứ. Ôi, thôi thì..."
Có một lần, hắn lấy hết can đảm hỏi cô tại sao cứ phải dọn dẹp không dứt, tại sao cứ phải liên tục khuân đồ đạc ra khỏi phòng, tại sao ghế nhất định phải xếp chồng từng cái một, thảm phải cuộn từng tấm, đồ trang trí phải nhét chen chúc trên một tờ báo, và đặc biệt là tại sao cái hành lang trên lầu chưa từng có ai đi qua lại cứ phải nhọc công dùng tay lau cho bóng loáng. Mỗi lần lau hành lang, Midge và người làm đều thay phiên nhau làm, suốt cả quá trình dài đằng đẵng họ đều quỳ gối mà lau dọn, chẳng khác nào nô lệ thời xưa.
Midge nhìn hắn đầy khó hiểu.
Cô nói: "Nếu nhà cửa như cái chuồng lợn thì anh chắc chắn sẽ là người đầu tiên phàn nàn. Anh thích môi trường thoải mái mà."
Thế nên, họ sống trong hai thế giới khác nhau, suy nghĩ chẳng hề chạm tới nhau. Từ trước tới giờ vẫn luôn như vậy sao? Hắn không nhớ nổi. Họ kết hôn đã gần hai mươi lăm năm, chính sức mạnh của thói quen đã giữ họ sống chung dưới một mái nhà.
Trước khi hắn nghỉ hưu, mọi chuyện dường như không đến mức này. Trước đây hắn không cảm nhận rõ rệt đến thế. Hắn về nhà ăn cơm, đi ngủ, rồi sáng hôm sau lại ra ngoài bắt tàu hỏa. Nhưng việc nghỉ hưu buộc hắn ngày càng nhìn rõ tất cả, và cũng cảm nhận ngày càng mãnh liệt nỗi oán hận cùng sự bất mãn của cô.
Rốt cuộc, trong năm trước khi cô qua đời, hắn nhận thấy bản thân đã bị cảm giác này nuốt chửng, vì thế hắn bịa ra đủ loại lời nói dối, chỉ mong có thể trốn chạy khỏi cô. Hắn vờ như lên London cắt tóc, đi khám răng, đi ăn cơm với đồng nghiệp cũ, nhưng thực chất hắn chỉ ngồi bên cửa sổ câu lạc bộ, lặng lẽ tận hưởng sự bình yên.
Bệnh đến như núi lở. Căn bệnh chẳng hành hạ cô bao lâu đã cướp cô đi khỏi hắn. Ban đầu cô bị cảm cúm, sau đó chuyển thành viêm phổi, chưa đầy một tuần đã qua đời. Hắn gần như chẳng biết mọi chuyện đã xảy ra thế nào, chỉ biết cô như thường lệ lại làm việc quá sức, nhiễm lạnh nhưng không chịu nằm yên nghỉ ngơi. Đó là một buổi chiều, hắn lẻn vào một rạp chiếu phim ở London, giữa tháng Mười Hai giá rét, cùng một đám người nhiệt tình thân thiện tận hưởng thời gian, thả lỏng tâm trạng. Đêm đó, hắn bắt chuyến tàu muộn về nhà, thấy cô đang cúi gập người trước lò sưởi dưới tầng hầm bới những hòn than.
Cô ngẩng đầu nhìn hắn, gương mặt nhợt nhạt mệt mỏi, vẻ mặt ủ rũ.
"Sao thế, Midge? Rốt cuộc em đang làm gì vậy?" Hắn nói.
"Lò sưởi có vấn đề rồi," cô nói, "cả ngày nay không dùng được, lửa cứ tắt ngấm. Mai chúng ta phải tìm người đến kiểm tra xem sao. Tôi thực sự không tự sửa nổi."
Má cô dính đầy bụi than, cây cời than buột khỏi tay rơi xuống sàn tầng hầm. Cô bắt đầu ho, mỗi tiếng ho đều khiến người cô giật nảy lên vì đau đớn.
"Em phải lên giường nằm ngay," hắn nói, "tôi chưa từng nghe thấy chuyện gì hoang đường thế này. Cái lò sưởi chết tiệt này thì có gì quan trọng chứ?"
"Tôi tưởng anh sẽ về nhà sớm hơn," cô nói, "tôi nghĩ có khi anh biết cách xử lý. Cả ngày nay trời lạnh thế này, tôi không biết một mình anh ở London thì có gì để làm."
Cô còng lưng, chậm chạp, chật vật leo lên cầu thang tầng hầm. Khi lên đến đầu cầu thang, cô nhắm hờ mắt, đứng đó run rẩy.
"Nếu anh không phiền," cô nói, "tôi đi chuẩn bị bữa tối cho anh ngay đây. Bản thân tôi thì chẳng muốn ăn gì cả."
"Bữa tối thây kệ nó!" Hắn gắt, "Tôi tự xoay xở đồ ăn được. Em lên giường nằm ngay đi. Tôi đi pha cho em chút gì nóng để uống."
"Tôi đã bảo rồi, tôi không cần gì hết," cô nói, "tôi tự rót túi chườm nóng được. Tôi chỉ xin anh một việc thôi, nhớ tắt hết đèn trước khi lên lầu." Cô rũ vai, bước về phía sảnh.
"Sữa nóng được không?" Hắn bắt đầu ngập ngừng. Khi cởi áo khoác, tấm vé xem phim mười sáu xu bị xé làm đôi rơi từ trong túi áo xuống đất. Cô nhìn thấy nhưng không nói gì, lại ho lên một tràng rồi lê bước nặng nề lên lầu.
Hôm sau, nhiệt độ cơ thể cô lên tới 39,5 độ C. Bác sĩ đến nhà khám rồi bảo cô bị viêm phổi. Cô hỏi liệu có thể đến trạm xá của làng nằm viện không, vì nếu thuê y tá tới nhà thì phiền phức quá. Hôm đó là thứ Ba, ngay buổi sáng cô đã đi thẳng tới trạm xá. Đến tối thứ Sáu, hắn được thông báo cô có thể sẽ không qua khỏi đêm nay. Hắn đứng trong phòng bệnh, chiếc giường bệnh cao nghểu không chút hơi ấm tình người, hắn cúi đầu nhìn cô nằm trên đó, nỗi thương xót thắt nghẹn lại. Trên giường quá nhiều gối, cô bị kê lên quá cao, chắc chắn không nghỉ ngơi thoải mái được. Hắn có mang hoa tới, nhưng xem ra cũng chẳng cần nhờ y tá cắm hoa nữa, vì Midge đã yếu đến mức không nhìn nổi hoa cỏ gì nữa rồi. Lúc y tá cúi người chăm sóc cô, hắn cẩn thận đặt bó hoa cạnh tấm bình phong y tế.
"Cô ấy có cần thứ gì không?" Hắn nói, "Ý tôi là, tôi có thể đi ngay..." Hắn không nói hết câu, hy vọng y tá có thể hiểu ý hắn, hắn có thể lái xe đi bất cứ đâu ngay lập tức để lấy thứ cô cần.
Y tá lắc đầu. "Chúng tôi sẽ gọi điện cho ông," cô ấy nói, "nếu tình hình có chuyển biến gì."
Đứng bên ngoài bệnh viện, hắn tự hỏi, tình hình thì có thể chuyển biến thế nào được chứ? Gương mặt nhợt nhạt hốc hác trên gối kia sẽ chẳng thể có chuyển biến gì nữa rồi, hắn chưa từng thấy một gương mặt nào như thế.
Sáng sớm thứ Bảy, Midge qua đời.
Hắn không theo đạo, chẳng hề chấp niệm với sự sống vĩnh hằng, nhưng sau khi chôn cất Midge, mỗi lần nghĩ đến việc cô nằm cô độc trong cỗ quan tài mới tinh gắn tay cầm bằng đồng thau, hắn lại dâng lên nỗi bi thương, cảm thấy để cô an táng như vậy quá đỗi qua loa, đại khái. Cái chết không nên như thế, nó phải giống như lời từ biệt ở sân ga trước một chuyến đi xa, chỉ là vắng bóng nỗi buồn đau. Cứ vội vã chôn một người vốn dĩ còn sống sờ sờ nếu không mắc bệnh xuống lòng đất như thế thật quá bất ổn. Lúc quan tài hạ xuống huyệt mộ, trong niềm đau xót, hắn dường như nghe thấy tiếng thở dài của Midge: "Ồ, thôi thì..."
Hắn tha thiết hy vọng sự sống vẫn có thể tiếp diễn nơi thiên đường vô hình. Midge tội nghiệp sẽ không biết thi thể mình đã trải qua những gì, cô sẽ rảo bước trên những cánh đồng xanh biếc của thiên đàng. Nhưng hắn tự hỏi, cô sẽ ở bên ai chứ? Nếu cô gặp lại cha mẹ đã qua đời nhiều năm trước ở Ấn Độ ngay trước cổng thiên đàng, có lẽ họ cũng chẳng có chuyện gì để nói với nhau. Trong đầu hắn bỗng hiện lên hình ảnh cô đang xếp hàng chờ đợi. Cũng như lúc sinh thời, cô vẫn đứng tít tận cuối hàng, vẫn xách chiếc làn đi chợ đan bằng cói, trên mặt vẫn là nét mặt kiên nhẫn như kẻ chịu nạn. Lúc bước qua cánh cổng sắt của thiên đường, cô nhìn hắn, vẻ mặt đầy trách móc.
Hình ảnh cỗ quan tài và hàng người chờ đợi đọng lại trong tâm trí hắn chừng một tuần rồi dần phai nhạt. Sau đó, hắn quên cô. Hắn có được sự tự do, căn nhà trống ngập tràn ánh nắng, và một mùa đông sáng sủa trong lành. Giờ đây cuộc sống hoàn toàn thuộc về riêng hắn. Hắn không bao giờ nhớ đến Midge nữa, cho tới buổi sáng nhìn thấy cây táo ấy.
Muộn hơn vào hôm đó, hắn tản bộ trong vườn. Sự tò mò thôi thúc hắn bước lại gần cái cây. Rốt cuộc cũng chỉ là tưởng tượng ngớ ngẩn, cây táo này thực chất chẳng khác gì mấy cây kia. Hắn chợt nhớ ra, cái cây này lúc nào cũng còi cọc hơn những cây khác, trên thực tế nó đã khô héo một nửa, trước đây họ từng bàn chuyện cưa bỏ nó, chỉ là cuối cùng lại thôi. Được rồi, cuối tuần này hắn có việc để làm rồi. Cưa cây cũng coi như rèn luyện thân thể, vả lại gỗ táo thơm rất dễ chịu, nếu cho vào lửa đốt thì ngửi cũng là một cái thú.
Đáng tiếc là sau ngày hôm đó, mưa dầm dề suốt gần một tuần khiến hắn không thể hoàn thành nhiệm vụ mình đã lên kế hoạch. Vào thời tiết ướt át thế này ra ngoài quả thực không cần thiết, huống hồ lỡ nhiễm lạnh thì càng lợi bất cập hại. Hắn vẫn để ý thấy cái cây từ cửa sổ phòng ngủ. Cái vẻ còng queo, xơ xác, gầy guộc của nó trong mưa bắt đầu khiến hắn thấy chướng mắt. Trời không lạnh, mưa rơi xuống vườn cũng rất êm, những cây khác đều không ủ rũ như nó. Phía bên phải cái cây già này có một cây non mọc lên, hắn nhớ rõ ràng nó mới được trồng vài năm trước. Lúc này, cây non đang đứng thẳng thắn, những cành mới mềm mại nhẹ nhàng ngẩng đầu lên trời, như thể đang tận hưởng làn mưa, tràn đầy sức sống. Hắn mỉm cười nhìn qua cửa sổ. Chết tiệt, sao tự dưng hắn lại nhớ đến chuyện đó chứ? Đó là chuyện từ nhiều năm trước, hồi còn chiến tranh, giữa hắn và một cô gái đến làm việc vài tháng ở nông trại bên cạnh. Mấy tháng qua chắc hắn chẳng hề nhớ tới cô ta, vả lại chuyện đó cũng chẳng có gì to tát. Hồi ấy, cứ cuối tuần là hắn sang nông trại phụ giúp vài công việc thời chiến, còn cô gái cùng ở nông trại luôn tươi cười rạng rỡ, trông thật đáng yêu và hoạt bát. Cô có mái tóc xoăn đen ngắn tinh nghịch như con trai, nước da tựa quả táo mới kết trái.
Hắn mong ngóng được gặp cô vào thứ Bảy và Chủ nhật. Cô như một liều thuốc giải, cứu vớt hắn khỏi những lời bình luận tin tức muôn thuở không đổi cùng đề tài chiến tranh bất tận của Midge. Hắn thích ngắm nhìn đứa trẻ này. Quả thực, cô cũng chỉ nhỉnh hơn con nít một chút, tầm mười chín tuổi. Hắn thích nhìn cô mặc chiếc quần cưỡi ngựa ôm dáng và áo sơ mi. Khi cô cười, dường như đang ôm trọn cả thế giới vào lòng.
Hắn không biết chuyện đó đã xảy ra thế nào, vả lại đó cũng chỉ là một chuyện nhỏ nhặt không đáng kể. Đó là một buổi chiều, hắn cúi người kiểm tra động cơ máy kéo trong nhà kho chứa nông cụ, cô đứng ngay bên cạnh, nép sát vào vai hắn, hai người vừa nói vừa cười. Hắn quay người lấy giẻ lau bugi. Chẳng hiểu sao, khoảnh khắc tiếp theo, cô đã ở trong vòng tay hắn, và hắn đang hôn cô. Mọi thứ thật tuyệt vời, thật tự nhiên. Đôi môi cô gái tươi non, tràn đầy sức sống, dịu dàng ngoan ngoãn. Sau đó họ tiếp tục sửa máy kéo, nhưng giữa hai người đã có thêm một phần thân mật, bầu không khí vui vẻ và êm đềm. Đến lúc cô phải đi cho lợn ăn, hắn đặt tay lên vai cô, cùng cô bước ra khỏi nhà kho. Động tác vô tình này thực sự chẳng mang hàm ý gì, cùng lắm chỉ là một cái vuốt ve nhẹ. Bước ra đến sân, hắn thấy Midge đang đứng đó nhìn trừng trừng vào hai người.
"Tôi phải đi họp Hội Chữ thập đỏ," cô nói, "xe không nổ máy được, tôi gọi điện cho anh rồi nhưng anh không nghe."
Mặt cô đanh lại, mắt dán chặt vào cô gái. Trong khoảnh khắc, cảm giác tội lỗi ập đến bủa vây lấy hắn. Cô gái vui vẻ chúc Midge buổi tối tốt lành rồi băng qua sân đi cho lợn ăn.
Hắn đi cùng Midge về phía xe, quay tay quay để khởi động. Midge cảm ơn hắn, giọng nói không mang theo chút cảm xúc nào. Hắn không dám nhìn thẳng vào mắt cô. Đây là ngoại tình, là tội lỗi, là loại tin tức sẽ được đăng trên trang hai của tờ báo Chủ nhật: "Chồng tơ tơ tưởng tưởng với gái nông trại, vợ tận mắt chứng kiến tất cả". Về đến nhà, tay hắn run rẩy, phải tự rót cho mình một ly rượu uống mới bình tĩnh lại được. Nhưng Midge không nói gì cả. Chuyện này không bao giờ được nhắc lại nữa. Hắn hèn nhát, cuối tuần sau đó cũng không dám sang nông trại, về sau nghe nói mẹ cô gái bị bệnh nên đã gọi cô về nhà.
Từ đó về sau, hắn không bao giờ gặp lại cô nữa. Hắn không hiểu sao vào một ngày thế này, khi nhìn mưa rơi trên cây táo, mình lại đột nhiên nhớ tới chuyện đó. Hắn phải đưa việc đốn cái cây già khô cằn vào lịch trình thôi, để cái cây non đang lớn nhanh này được tắm mình trong nhiều ánh nắng hơn, dù sao mọc sát bên cây già thì nó cũng chẳng hưởng được bao nhiêu nắng ấm.
Chiều thứ Sáu, hắn vòng ra vườn rau tìm người làm vườn Willis. Willis đến nhà hắn phụ việc mỗi tuần ba buổi. Hắn sang trả tiền công, cũng tiện thể xem trong nhà kho chứa nông cụ có cái rìu hay cưa nào dùng được không. Willis từng được Midge chỉ bảo nên lúc nào cũng xếp mọi dụng cụ gọn gàng ngăn nắp trong kho, rìu và cưa treo ở vị trí cũ trên tường.
Trả tiền xong, hắn vừa định quay người rời đi thì Willis bỗng nói: "Thưa ông, cây táo già đó thú vị thật đấy nhỉ?"
Hắn không ngờ Willis lại nói ra câu này, giật mình đánh thót, sắc mặt thay đổi rõ rệt.
"Cây táo? Cây táo nào?" Hắn hỏi.
"Sao thế ạ? Chính là cái cây gần đầu sân hiên ấy," Willis đáp, "từ hồi tôi đến đây làm việc, nó cứ trơ trụi suốt mấy năm nay rồi, chưa từng ra được một quả táo hay nở một bông hoa nào. Ông có nhớ vào một năm mùa đông lạnh giá, chúng ta định đốn nó đi nhưng sau lại thôi không? Giờ nó hồi sinh rồi đấy. Ông không nhận ra sao?" Người làm vườn cười nhìn hắn, ném cho hắn một ánh mắt đầy ngụ ý.
Gã này có ý gì chứ? Gã không thể nào cũng nhìn ra sự tương đồng kỳ quái đó được. Không, tuyệt đối không thể, điều này thật vô lý, quả thực là báng bổ vong linh. Hơn nữa, chính hắn cũng đã tống khứ suy nghĩ ấy ra khỏi đầu, không còn nghĩ như thế nữa rồi.
"Tôi chẳng nhận thấy gì cả." Hắn cãi.
Willis cười lớn. "Thưa ông, vòng qua bên sân hiên này đi," gã nói, "tôi chỉ cho ông xem."
Họ cùng bước lên triền cỏ. Đến dưới gốc cây táo, Willis giơ tay với lấy cành cây sà thấp, cành cây phát ra tiếng cọt kẹt khe khẽ, có vẻ cứng cỏi không chịu khuất phục. Willis phủi đi lớp địa y khô ráp trên bề mặt, để lộ ra những nhánh con nhọn hoát. "Thưa ông, nhìn này," gã nói, "nhú nụ rồi. Ông nhìn chúng mà xem, lấy tay sờ thử coi. Là sự sống mới đấy, rất nhiều sự sống mới. Trước giờ tôi chưa từng thấy chuyện này bao giờ. Ông lại nhìn cành này nữa xem." Gã buông cành đang cầm ra, kiễng chân với lấy một cành khác.
Willis nói không sai, có rất nhiều nụ, nhưng toàn là những nụ nhỏ màu nâu, thậm chí trong mắt hắn còn chẳng đáng gọi là nụ hoa, trông giống những đốm lốm đốm trên cành con hơn, xám xịt và teo tóp. Hắn đút tay vào túi quần. Chạm vào chúng khiến hắn nảy sinh một cảm giác ghê tởm kỳ lạ.
"Tôi thấy có gì to tát đâu." Hắn nói.
"Chưa biết chừng đâu, thưa ông," Willis bảo, "tôi thấy có hy vọng đấy. Nó đã vượt qua được mùa đông rồi. Nếu năm nay không có thêm đợt sương giá nào nữa, khéo chúng ta lại được thấy điều bất ngờ đấy. Cây già trổ hoa là chuyện hiếm có lắm, biết đâu chừng nó lại còn ra quả ấy chứ." Gã xòe tay vỗ vỗ lên thân cây, động tác vừa quen thuộc vừa thân thiết.
Chủ nhân của cái cây quay người đi. Chẳng hiểu sao, ở bên Willis khiến hắn bực bội. Ai nấy đều nghĩ cái cây chết tiệt này đã sống lại, kế hoạch đốn cây cuối tuần của hắn sắp tan thành mây khói rồi.
"Nó chắn hết nắng của cây non," hắn nói, "đốn nó đi, nhường thêm không gian cho cây non phát triển, mới là cách làm hợp lý chứ?"
Hắn bước qua, đi tới trước cây non, chạm vào thân cành, trên đó không có địa y, cành cây nhẵn nhụi. Những nụ hoa chi chít mọc thành từng vòng từng vòng men theo những nhánh non. Hắn vừa buông tay, cành cây dẻo dai liền bật ngược trở lại.
"Thưa ông, đốn ngay bây giờ sao?" Willis nói, "Đốn nó khi nó vẫn còn sức sống à? Ôi, không đâu thưa ông, tôi sẽ không làm thế. Nó đâu có cản trở cây non lớn lên. Tôi sẽ cho cái cây già này thêm một cơ hội. Nếu nó không ra quả, đợi sang mùa đông tới đốn cũng chưa muộn."
"Được rồi, Willis." Hắn vừa nói vừa rảo bước rời đi. Chẳng hiểu sao, hắn không muốn tiếp tục bàn về chủ đề này nữa.
Đêm đó, trước khi lên giường ngủ, hắn mở toang cửa sổ và kéo rèm ra như thường lệ, vì hắn không tài nào chịu nổi cảnh buổi sáng thức giấc trong một căn phòng kín mít. Đây là một đêm trăng tròn, ánh trăng rải trên sân hiên và bãi cỏ, trắng bệch, tĩnh mịch. Không có gió, bốn bề lặng ngắt như tờ. Hắn nhoài người ra ngoài, tận hưởng sự thanh tĩnh này. Ánh trăng đổ tràn lên toàn bộ cây táo non. Dưới ánh trăng, cây non lấp lánh tỏa sáng như bước ra từ câu chuyện cổ tích, tựa một vũ công nhỏ nhắn, mềm mại, thon thả. Nó giơ cao hai tay, kiễng ngón chân chuẩn bị bật nhảy, trông thật vô tư lự, tự tại và tao nhã. Cây non dũng cảm làm sao! Phía bên trái nó sừng sững một cái cây khác, nửa thân vẫn chìm trong bóng tối. Dù ánh trăng có đẹp nhường này cũng chẳng thể tăng thêm cho nó một phần mỹ lệ. Cái thứ này rốt cuộc cớ sao lại cứ phải đứng đó còng lưng cúi đầu, mà không chịu ngẩng lên nhìn ánh trăng chứ? Nó làm vấy bẩn đêm thanh tĩnh, phá hỏng khung cảnh tuyệt mỹ. Hắn thấy mình thật ngốc nghếch khi lại thỏa hiệp với Willis mà tha cho cái cây này. Những cái nụ nực cười kia sẽ chẳng bao giờ nở thành hoa được đâu, mà cho dù có nở...
Tâm trí hắn rối bời, một lần nữa lại nhớ về cô gái ở nông trại và nụ cười rạng rỡ của cô. Hắn bỗng muốn biết giờ cô ra sao rồi. Có lẽ cô đã gả cho một chàng trai trẻ. Anh chàng đó chắc chắn hạnh phúc lắm. Ôi, thôi thì... Hắn cười, câu nói này giờ đây đến lượt hắn dùng rồi sao? Midge tội nghiệp! Đúng lúc này, hắn nín thở, tay vịn vào rèm cửa, lặng lẽ đứng chôn chân. Cây táo đó, chính là cái cây bên trái cây non, không còn chìm trong bóng tối nữa. Những cành khô héo dưới ánh trăng chiếu rọi trông như những cánh tay bộ xương đang cầu nguyện, giơ cao lên, bất động, cứng đờ và tê dại vì đau đớn. Không hề có gió, những cây khác đều đứng im phăng phắc, nhưng ở đằng kia, trên cành cao nhất, có thứ gì đó đang run rẩy, dường như có một làn gió thoảng từ nơi nào thổi tới rồi nhanh chóng tan biến. Đột nhiên, một nhánh cây gãy lìa rơi xuống. Chính là nhánh cây đầy những nụ hoa sẫm màu mà hắn không muốn chạm vào ban chiều. Những cái cây khác vẫn bất động như cũ. Hắn nhìn trừng trừng vào nhánh cây rơi trên bãi cỏ dưới ánh trăng, nó vươn về phía bóng râm của cây non, như thể đang cất lời tố cáo điều gì.
Đó là lần đầu tiên trong đời hắn kéo rèm cửa lại trước khi đi ngủ, ngăn ánh trăng ở bên ngoài.
Willis vốn chỉ phụ trách vườn rau. Hồi Midge còn sống, gã hiếm khi xuất hiện ở phía cửa trước này, vì hoa cỏ bên này đều do đích thân Midge chăm sóc. Cô thậm chí còn tự mình cắt cỏ trên triền dốc, lúc nào cũng còng lưng nhọc nhằn đẩy chiếc máy cắt cỏ lên lên xuống xuống trên triền dốc.
Cũng giống như việc quét dọn và lau chùi phòng ngủ, đây cũng là một nhiệm vụ cô tự đặt ra cho mình. Không còn Midge chăm sóc ở đây, chẳng còn ai bảo cho Willis biết phải phụ trách phần nào, thế là gã bắt đầu thường xuyên đi sang phía cửa trước. Người làm vườn này thích sự thay đổi ấy, điều đó khiến gã cảm thấy trách nhiệm của mình thật nặng nề.
"Thực sự không hiểu nổi cành cây đó gãy thế nào nữa, thưa ông." Gã nói vào hôm thứ Hai.
"Cành nào?"
"Ông quên rồi sao? Cành của cây táo ấy, chính là cành trước khi tôi về hai ta cùng xem đấy."
"Tôi đoán là cành đó mục rồi. Tôi đã bảo với anh từ lâu là cái cây đó chết rồi mà."
"Thưa ông, nó không hề mục đâu. Ông xem này, trên đó sạch bong."
Ông chủ lại đi theo người làm vườn bước lên triền cỏ trên sân hiên. Willis nhặt cành cây đó lên, lớp địa y bên trên ướt sũng, bẩn thỉu, như một mớ tóc rối.
"Thưa ông, không phải cuối tuần ông lại ra đây, muốn thử độ dẻo của cành cây rồi làm gãy nó đấy chứ?" Người làm vườn hỏi.
"Dĩ nhiên là không," ông chủ bực bội, "thực ra đêm hôm đó lúc mở cửa sổ phòng ngủ, tôi đã nghe thấy tiếng cành cây rơi rồi."
"Kỳ lạ thật. Ban đêm đâu có nổi gió."
"Cây già xuất hiện tình trạng này cũng là chuyện bình thường. Tôi thực sự không hiểu sao anh lại để ý đến nó thế, làm người ta cứ tưởng..."
Hắn bỗng khựng lại. Hắn không biết phải nói hết câu này thế nào.
"Làm người ta cứ tưởng cái cây này quý giá lắm ấy." Hắn nói.
Người làm vườn lắc đầu. "Không phải vấn đề quý giá hay không," gã bảo, "tôi chưa từng nghĩ cái cây này đáng giá bao nhiêu. Chỉ là trải qua thời gian dài như thế, lúc chúng ta đều tưởng nó đã chết thì nó lại sống lại, còn tràn trề sức sống, đúng là khác thường thật! Mong là trước khi nó trổ hoa, sẽ không có thêm cành nào bị gãy nữa."
Buổi chiều, lúc ông chủ ra ngoài đi dạo, thấy người làm vườn đang làm cỏ dưới gốc cây, còn thay cả lưới thép mới quanh gốc. Thật nực cười. Hắn đâu có trả cho người này bao nhiêu tiền để gã có thể tỉa tót săm soi một cái cây dở sống dở chết chứ. Gã nên đi trồng rau ở vườn rau cạnh bếp kia kìa. Nhưng hắn lười chẳng buồn tranh cãi với gã.
Lúc hắn về đến nhà thì đã tầm năm giờ rưỡi. Sau khi Midge qua đời, trà chiều cũng được bỏ luôn. Hắn tràn trề mong đợi được ngồi vào chiếc ghế bành của mình bên đống lửa, châm tẩu thuốc, nhâm nhi ly whisky pha soda, tận hưởng sự thanh bình.
Lửa nhóm chưa được bao lâu thì ống khói bắt đầu bốc khói, một mùi kỳ quặc buồn nôn xộc đầy phòng khách. Hắn vội mở cửa sổ, lên lầu thay đôi giày nặng trịch ra. Đến khi hắn xuống lầu lần nữa, mùi khói vẫn chưa tan mà càng lúc càng nồng hơn. Đó là một mùi khó tả, kỳ dị, ngọt ngấy. Hắn gọi với ra ngoài bếp cho người làm.
"Trong phòng có mùi lạ quá," hắn nói, "có chuyện gì thế?"
Cô người làm từ cửa sau bước vào phòng.
"Thưa ông, mùi thế nào ạ?" Giọng cô ta đầy vẻ cảnh giác.
"Ngay trong phòng khách này," hắn nói, "vừa nãy phòng khách đầy khói. Có phải cô đang đốt thứ gì không?"
Nét mặt cô ta giãn ra. "Chắc chắn là củi rồi ạ," cô ta nói, "Willis đặc biệt chặt cho đấy, anh ấy bảo ông sẽ thích."
"Củi gì?"
"Anh ấy bảo là củi táo, thưa ông, là cưa từ một cành cây xuống đấy ạ. Tôi cứ nghe người ta bảo củi táo đượm lửa lắm, có người thích mê đi được. Bản thân tôi thì chẳng nhận thấy có mùi gì, nhưng có thể là do tôi hơi bị cảm."
Họ cùng nhìn về phía ngọn lửa. Willis đã chặt cành cây thành từng mẩu nhỏ. Cô người làm muốn lấy lòng hắn nên đã xếp những thanh củi này chồng lên nhau, để lửa có thể cháy được lâu hơn, nhưng củi không hề cháy đượm mà chỉ bốc lên những làn khói xanh lờ đờ. Cô ta thực sự không nhận ra cái mùi thối rữa buồn nôn này sao?
"Củi ướt rồi," hắn đột ngột nói, "Willis đáng lẽ phải nhận ra từ sớm chứ. Cô nhìn xem, có cháy được đâu."
Vẻ mặt cô người làm sượng lại, lộ rõ vẻ rầu rĩ. "Tôi vô cùng xin lỗi," cô ta nói, "lúc nhóm lửa tôi không để ý. Ban đầu lửa cháy cũng đượm lắm. Tôi vẫn luôn nghe bảo củi táo đượm lửa, Willis cũng nói vậy. Anh ấy dặn tôi tối nay nhất định phải đốt củi này cho ông, đây là anh ấy đặc biệt chặt cho ông đấy ạ. Tôi cứ tưởng là ông bảo làm thế."
"Ồ, được rồi," hắn cộc lốc đáp, "lát nữa chắc chúng sẽ cháy thôi. Không phải lỗi của cô."
Hắn quay lưng về phía cô ta, dùng cây cời than chọc vào ngọn lửa, muốn tách mấy thanh củi ra một chút. Trước khi cô người làm rời đi, hắn chẳng thể làm gì được. Nếu hắn lôi những thanh củi ẩm ướt đang cháy âm ỉ này ra vứt ra sau vườn, rồi lại nhóm lửa lại bằng cành cây khô thì nhất định sẽ rước lấy lời ra tiếng vào. Nếu hắn đi qua bếp để lấy củi mồi cất ở hành lang phía sau, cô ta nhất định sẽ nhìn chằm chằm rồi bước tới bảo: "Thưa ông, để tôi làm cho. Có phải lửa tắt rồi không?" Không được, hắn phải đợi đến sau bữa tối, lúc đó cô người làm dọn dẹp sạch sẽ xong xuôi sẽ về nhà. Trong khoảng thời gian này, hắn sẽ cố chịu đựng cái mùi đốt củi táo.
Hắn rót một ly rượu, châm tẩu thuốc, nhìn chằm chằm vào đống lửa trong lò. Trong lò không tỏa ra một chút hơi ấm nào, cộng thêm hệ thống sưởi trung tâm cũng đã tắt, cả phòng khách lạnh ngắt như đồng. Một lần nữa, từ trong thanh củi lại bốc lên một làn khói xanh nhạt, kèm theo một mùi ngọt ngấy buồn nôn, hoàn toàn không giống mùi tỏa ra từ bất kỳ loại củi nào khác. Cái tên người làm vườn ngu xuẩn lắm chuyện... Sao lại chặt củi chứ? Lúc chặt chắc chắn gã biết những mẩu củi này ướt thế nào, ẩm ướt đến phát sợ. Hắn nhoài người về phía trước, nhìn kỹ hơn. Thứ chảy ra từ những lỗ li ti trên thớ gỗ nhợt nhạt kia là nước sao? Không, đó là nhựa cây, nhầy nhụa, khiến người ta phát tởm.
Hắn cầm cây cời than, mất kiên nhẫn đâm mạnh vào thanh củi, hòng khuấy cho chúng cháy bùng lên, biến làn khói xanh thành ngọn lửa bình thường. Thế nhưng mọi nỗ lực đều vô ích, củi vẫn không sao bùng cháy, mà nhựa cây còn nhỏ giọt xuống vỉ lò, mùi ngọt ngấy tràn ngập khắp căn phòng, làm bụng dạ hắn cồn cào buồn nôn. Hắn cầm ly rượu và cuốn sách bước vào thư phòng, bật máy sưởi điện rồi ngồi xuống đó.
Thật nực cười. Hắn nhớ lại trước đây để tránh Midge ở phòng khách, hắn cũng toàn ngồi trong thư phòng vờ như đang viết thư. Ban ngày bận rộn là thế, nhưng hễ đến tối là cô lại ngáp liên hồi, mà chính bản thân cô hoàn toàn không nhận ra. Cô sẽ ngồi trên ghế sofa đan len, hai que đan thoăn thoắt đan xen, phát ra tiếng lách cách. Đột nhiên, tiếng ngáp vang lên, tiếng ngáp khó chịu thốt ra từ tận đáy lòng cô, tiếng "a... a... oáp!" kéo dài, rồi sau đó chắc chắn sẽ kèm theo một tiếng thở dài. Tiếp đó, lại chỉ còn lại tiếng lách cách của que đan. Nhưng hắn, người đang ngồi đọc sách, lại nín thở chờ đợi, hắn biết chỉ vài phút nữa tiếng ngáp lại xuất hiện, cùng với một tiếng thở dài khác theo sau.
Một cơn giận tuyệt vọng cuộn trào trong lòng hắn, hắn muốn đập cuốn sách xuống bàn biết bao, rồi gắt lên: "Đã mệt thế sao không đi nghỉ đi?"
Thế nhưng, hắn sẽ kiềm chế bản thân, đợi đến khi không thể nhịn nổi nữa mới đứng dậy rời khỏi phòng khách, trốn vào thư phòng. Bây giờ, vì đống củi táo, hắn lại phải làm như vậy. Đều tại cái mùi kinh tởm tỏa ra từ đống củi chết tiệt đó.
Hắn tiếp tục ngồi trong thư phòng đợi bữa tối. Tầm khoảng chín giờ, cô người làm rốt cuộc cũng dọn dẹp xong xuôi, trải giường rồi ra về.
Hắn quay lại phòng khách, nơi hắn chưa từng bước vào kể từ lúc rời đi. Lửa đã tắt ngấm. Có thể thấy củi cũng đã cháy được một lúc, vì giờ trông chúng mảnh hơn trước, và đã lọt thỏm xuống vỉ lò. Tàn tro thưa thớt, nhưng cái mùi kinh tởm đó vẫn chưa tan. Hắn đi vào bếp, tìm một chiếc thùng đựng than rỗng, quay lại phòng khách xúc hết củi lẫn tro tàn cho vào trong đó. Trong thùng than chắc hẳn còn sót lại chút xỉ than ướt, hoặc giả là củi vẫn chưa khô, tóm lại, củi bỏ vào thùng trông màu sẫm hơn, trên bề mặt còn dính vài mẩu cặn bã. Hắn mang thùng than xuống tầng hầm, mở cửa lò sưởi trung tâm ra, trút cả củi lẫn tro tàn vào trong đó một mạch.
Lúc này hắn mới nhớ ra vì mùa xuân đã tới nên hệ thống sưởi trung tâm đã ngừng hoạt động từ hai ba tuần trước rồi. Nhưng đã quá muộn, trừ phi bây giờ hắn đốt cháy lại đống củi này, bằng không chúng sẽ nằm nguyên vẹn ở trong đó cho tới tận mùa đông năm sau. Hắn tìm giấy, diêm và một can dầu hỏa, châm lửa, đóng cửa lò lại, lắng nghe tiếng ngọn lửa cháy hừng hực. Như vậy là ổn rồi. Hắn đứng bên cạnh đợi một lát rồi lên lầu trở lại lối đi nhà bếp, nhóm lại lửa trong phòng khách. Việc này tốn chút thời gian, hắn phải tìm củi mồi và than đá trước. Nhưng hắn kiên nhẫn nhóm lại lửa, cuối cùng cũng được ngồi sưởi bên chiếc ghế bành.
Hắn đọc sách chừng hai mươi phút mới để ý thấy tiếng cửa đang va đập lạch cạch. Hắn đặt sách xuống, chăm chú lắng nghe. Ban đầu chẳng có âm thanh gì. Tiếp theo, đúng rồi, âm thanh đó lại xuất hiện. Rầm! Cạch! Là tiếng cánh cửa chỗ bếp đóng không chặt phát ra. Hắn đứng dậy đi đóng cánh cửa ở đầu cầu thang tầng hầm. Hắn thề là trước đó mình đã đóng chặt nó rồi, chắc chắn là chốt cửa bị lỏng. Hắn bật đèn cầu thang, cúi người kiểm tra chốt cửa, nhưng dường như chẳng có vấn đề gì. Hắn vừa định đóng chặt cửa lại thì lại ngửi thấy cái mùi đó, mùi ngọt ngấy buồn nôn tỏa ra từ đống củi táo đang cháy âm ỉ, từ tầng hầm bò lên, xộc thẳng vào hành lang.
Đột nhiên, chẳng có điềm báo nào, hắn bị một nỗi sợ hãi gần như hoảng loạn tóm chặt lấy. Nếu cái mùi này lan tỏa khắp nhà suốt đêm, từ bếp ngấm vào các phòng trên lầu, rồi chui vào phòng ngủ trong lúc hắn ngủ say, khiến hắn ngạt thở, không thở nổi thì sao? Suy nghĩ này thật hoang đường, điên rồ, nhưng mà...
Hắn lại một lần nữa ép mình bước xuống tầng hầm. Trong lò sưởi không có động tĩnh gì, không nghe thấy tiếng lửa cháy hừng hực, những làn khói xanh le lói rỉ ra từ kẽ dưới cánh cửa lò đóng chặt. Đây chính là cái mùi hắn ngửi thấy ở hành lang trên lầu.
Hắn bước lại gần lò sưởi, giật mạnh cửa lò ra. Giấy bên trong đã cháy rụi, chỉ còn sót lại một chút tàn tro, củi táo lại chẳng hề bốc cháy, vẫn y nguyên hình dạng lúc mới đổ vào lò. Những khúc củi đen sì chồng chéo chen chúc lên nhau, tựa như những khúc xương người cháy xém. Hắn nôn nao từng cơn, vội rút khăn tay bịt miệng, ngột ngạt đến nghẹt thở. Tiếp đó, đầu óc hắn gần như trống rỗng, chạy vội lên lầu tìm chiếc thùng than rỗng kia, vừa liên tục nôn khan vừa thọc xẻng và kẹp sắt vào cánh cửa lò hẹp hòi bới móc, muốn lôi đống củi ra. Cuối cùng thùng than cũng đầy, hắn xách thùng than lên lầu, băng qua bếp đi ra cửa sau.
Hắn mở cửa. Đêm nay không trăng, trời đang mưa. Hắn dựng cổ áo khoác lên, nhìn quanh quất trong bóng tối, suy tính xem nên vứt đống củi này đi đâu. Bên ngoài vừa ẩm ướt vừa tối om, hắn không thể mò mẫm trong bóng tối ra tận vườn rau để vứt củi vào đống rác ở đó được. Nhưng ở mảnh đất phía sau gara, cỏ mọc vừa cao vừa rậm, chắc có thể che lấp được đống củi này. Hắn giẫm qua lối đi rải sỏi, bước tới bên hàng rào, trút đống của nợ này vào bụi cỏ. Ở đó, chúng sẽ mục nát, sẽ bị nước mưa ngấm đẫm, cuối cùng hóa thành một phần của đất cát. Hắn chẳng thèm bận tâm chúng sẽ đi đâu về đâu, từ giờ trở đi mọi thứ chẳng còn can hệ gì tới hắn nữa. Chúng đã bị tống khứ ra ngoài nhà rồi, kết cục ra sao cũng không quan trọng.
Hắn trở vào trong nhà, lần này hắn kiểm tra chắc chắn cánh cửa tầng hầm đã được đóng chặt. Không khí trong lành trở lại, cái mùi đó đã tiêu tan.
Hắn quay về phòng khách sưởi ấm bên ngọn lửa. Thế nhưng, tay chân hắn đều bị nước mưa làm ướt sũng, bụng dạ cũng cồn cào buồn nôn vì cái mùi gay mũi vừa rồi. Cả người hắn lạnh toát, ngồi đó run bần bật.
Đêm đó hắn ngủ rất chập chờn, sáng dậy liền thấy trong người khó ở. Hắn đau đầu, miệng đắng ngắt, gan cũng vô cùng khó chịu, chỉ có thể nằm bẹp ở nhà. Để trút cơn bất mãn, hắn nói chuyện với cô người làm bằng giọng gắt gỏng.
"Tôi bị cảm lạnh nặng rồi," hắn bảo cô ta, "tối qua bị nhiễm lạnh. Tôi phát ngấy cái củi táo đó rồi, cái mùi đó ảnh hưởng đến tận nội tạng của tôi rồi đấy. Ngày mai Willis tới, cô có thể bảo với anh ta."
Cô ta nhìn hắn đầy vẻ khó tin.
"Tôi thực sự rất xin lỗi," cô ta nói, "tối qua về nhà tôi cũng kể với chị gái chuyện đống củi rồi, bảo là ông không thích nó. Chị ấy bảo chuyện này hiếm thấy thật đấy. Người bình thường đều xem việc đốt củi táo là một sự hưởng thụ xa xỉ, vả lại củi táo đượm lửa lắm mà."
"Đống củi tối qua không hề như thế, đó là ý kiến của tôi," hắn nói với cô ta, "tôi không muốn nhìn thấy chúng nữa. Còn về cái mùi đó... Đến giờ tôi vẫn còn ngửi thấy đây này, nó làm tôi phát điên lên mất."
Môi cô ta mím chặt lại. "Xin lỗi ông." Cô ta nói. Lúc sắp rời khỏi phòng ăn, ánh mắt cô ta rơi vào chai rượu whisky rỗng đặt trên tủ búp phê. Sau thoáng do dự, cô ta nhấc nó đặt lên khay.
"Ông uống hết cả chai rồi ạ, thưa ông?" Cô ta hỏi.
Người sáng mắt đều nhìn ra là hắn đã uống hết cả chai. Nhưng hắn nghe ra ẩn ý trong lời cô ta, cô ta muốn nói không phải mùi củi táo làm hắn khó chịu, mà là do bản thân hắn quá đà buông thả. Đúng là vô lễ hết sức.
"Phải," hắn nói, "cô có thể đặt một chai khác lên đó."
Đó là lời bảo cô ta bớt xen vào chuyện của người khác đi.
Hắn ốm liền mấy ngày, lúc nào cũng thấy buồn nôn chóng mặt, cuối cùng đành phải gọi điện mời bác sĩ tới khám. Lúc hắn kể với bác sĩ chuyện củi táo, chính tai hắn nghe cũng thấy thật hoang đường. Bác sĩ kiểm tra tình trạng của hắn rồi chẳng mấy bận tâm.
"Chỉ là nhiễm lạnh tạng gan thôi," ông ta nói, "chắc là do lúc đó chân ông bị ướt, cộng thêm việc ăn uống thứ gì đó. Tôi nghĩ chẳng liên quan gì tới mùi củi táo đâu. Ông muốn dưỡng gan thì phải vận động nhiều vào. Đi đánh golf đi. Tôi mà cuối tuần không đi đánh golf thì vóc dáng đã biến dạng từ lâu rồi." Ông ta vừa cười vừa thu dọn túi đồ. "Tôi kê cho ông ít thuốc," ông ta nói, "đợi tạnh mưa, tôi phải ra ngoài hít thở chút không khí đây. Giờ nhiệt độ thích hợp rồi, chúng ta đều cần ra ngoài phơi nắng. Cây ăn quả trong vườn nhà ông sắp nở hoa rồi đấy, sớm hơn nhà tôi nhiều." Sau đó, trước khi rời đi, ông ta bồi thêm một câu: "Đừng quên là mấy tháng trước ông vừa trải qua một cú sốc lớn như thế. Thời gian là liều thuốc tốt nhất. Chắc hẳn ông vẫn đang thương nhớ vợ mình. Tốt nhất là nên ra ngoài đi lại nhiều hơn, gặp gỡ mọi người nhiều hơn. Thôi, bảo trọng nhé."
Bệnh nhân mặc quần áo tử tế rồi bước xuống lầu. Dĩ nhiên, người anh em này có lòng tốt, nhưng bảo ông ta tới đây thuần túy là lãng phí thời gian. "Chắc hẳn ông vẫn đang thương nhớ vợ mình." Bác sĩ này đúng là chẳng hiểu cái thớ gì cả. Midge tội nghiệp... Ít nhất hắn cũng thành thật thừa nhận mình hoàn toàn không hề nhớ nhung cô. Sau khi cô rời bỏ nhân thế, hắn mới được thở phào, mới có được tự do. Ngoại trừ việc gan khó chịu ra, hắn cảm thấy đã nhiều năm rồi mình chưa từng khoan khoái, dễ chịu đến nhường này.
Mấy ngày hắn nằm bẹp trên giường, chị giúp việc làm một đợt tổng vệ sinh mùa xuân cho phòng khách. Làm cái việc thừa thãi này chắc hẳn là thừa hưởng tinh thần của Midge. Giờ thì căn nhà sạch bong kin kít, trông ngăn nắp đến phát bực. Thùng rác của hắn bị dọn sạch, sách báo xếp thành từng chồng vuông vức. Hắn cực kỳ căm ghét chuyện người khác làm những việc như thế cho mình. Hắn hoàn toàn có thể tống cổ chị ta đi rồi tự chăm lo cho bản thân, nhưng cứ nghĩ tới cảnh nấu nướng giặt giũ là đầu hắn lại ong lên, đành tặc lưỡi bỏ qua. Cuộc sống lý tưởng của hắn là giống như mấy gã đàn ông dạt sang Viễn Đông hay Nam Thái Bình Dương, lấy một ả đàn bà bản địa ở đó. Lũ đàn bà ấy trầm lặng, nhẫn nại, phục vụ chu đáo, nấu ăn ngon, chẳng cần phải trò chuyện, và nếu muốn tiến xa hơn một bước thì họ luôn sẵn sàng ở đó, trẻ trung, ấm áp, cùng bầu bạn qua đêm dài. Đời sống chẳng có lời chỉ trích, chỉ có sự phục tùng như thú nuôi đối với chủ nhân từ người vợ và tiếng cười giòn tan của con trẻ. Phải, những kẻ phá vỡ quy chuẩn ấy mới thật khôn ngoan. Chúc họ may mắn.
Hắn bước lại gần cửa sổ, nhìn triền cỏ bên ngoài. Mưa đã tạnh, ngày mai sẽ là một ngày đẹp trời. Đúng như lời tay bác sĩ, mai hắn có thể ra ngoài. Về mấy cây ăn quả, lão ta nói cũng chẳng sai. Cây nhỏ gần bậc thềm đã trổ hoa, một con chim hoét đen đậu trên cành, làm nhánh cây khẽ trĩu xuống đung đưa.
Hạt mưa lấp lánh, những nụ hoa hé nở mang sắc hồng uốn cong mềm mại, nhưng ngày mai khi mặt trời lên, in bóng trên nền trời xanh, hoa sẽ bung ra trắng muốt êm đềm. Hắn phải lục cái máy ảnh cũ ra, lắp phim vào để chụp lại cây nhỏ này. Mấy cây khác chắc trong tuần này cũng sẽ nở. Riêng cây già bên trái trông vẫn chết dẫm như cũ, mấy cái gọi là nụ trên cây màu quá sẫm, đứng từ đây căn bản không nhìn ra nổi. Có lẽ cành cây gãy hôm nọ chính là dấu chấm hết. Thế thì tốt quá.
Hắn rời cửa sổ, chuẩn bị sắp xếp lại căn phòng theo ý mình. Hắn thích bày bừa đồ đạc ra, thích đi đi lại lại, kéo ngăn kéo, lôi đồ ra rồi nhét vào lại. Lúc dọn phòng, trên chiếc bàn cạnh tường, hắn tìm thấy một chiếc bút chì đỏ trượt ra sau chồng sách, bèn gọt lại cho thật nhọn. Hắn phát hiện một cuộn phim mới trong ngăn kéo khác, liền lấy ra để sáng mai lắp vào máy ảnh. Trong ngăn kéo còn bừa bộn giấy tờ cùng ảnh cũ, thêm cả chục tấm ảnh chụp nhanh. Từng có dạo Midge chịu khó xếp mấy thứ này vào album, nhưng về sau trong thời chiến, hoặc là mụ mất hứng, hoặc là có quá nhiều việc khác phải lo nên bỏ bẵng luôn.
Mớ rác này đúng là nên dọn sạch. Tối hôm đó nếu đem đốt hết, khéo lửa đã cháy bùng lên, biết đâu còn bén được cả mấy khúc củi táo. Chẳng việc gì phải giữ lại mấy thứ này, chẳng hạn như tấm ảnh tệ hại này của Midge chụp từ đời nảo đời nào. Nhìn theo phong cách thì chắc là chụp không lâu sau khi họ cưới nhau. Hồi đó tóc mụ như thế thật sao? Xù xì, dày cộp rối bời, chẳng ăn nhập chút nào với khuôn mặt dài ngoẵng từ thời ấy. Cổ áo chữ V khoét sâu hoắm, hoa tai đung đưa, nụ cười thì nhiệt tình thái quá khiến cái mồm trông càng ngoác rộng. Góc bên trái là dòng chữ mụ tự tay viết: "Gửi Buzz yêu quý nhất của em. Từ Midge yêu dấu." Hắn chẳng còn nhớ nổi cái biệt danh này của mình, đã nhiều năm không dùng đến, hắn dường như nhớ ra là mình chưa bao giờ thích nó, thấy cái tên vừa nực cười vừa ngượng ngùng. Nếu mụ dám gọi hắn như thế trước mặt người khác, thể nào cũng bị hắn mắng cho một trận.
Hắn xé đôi tấm ảnh, ném vào lửa. Hắn nhìn tấm ảnh quăn queo, bốc cháy, cuối cùng nụ cười hớn hở kia cũng biến mất trong ngọn lửa. Buzz yêu quý nhất của em... Đột nhiên, hắn nhớ ra bộ váy dạ hội mụ mặc trong ảnh. Sắc xanh lục ấy chẳng hợp với mụ chút nào, chỉ làm da mụ vàng vọt thêm. Đó là bộ váy mụ cố tình mua để đi dự bữa tiệc mừng kỷ niệm ngày cưới. Hồi đó bữa tiệc mời tất cả bạn bè lối xóm cưới cùng đợt tụ tập lại, nên hắn và Midge cũng cùng đi.
Tối hôm đó khui rất nhiều sâm-panh, còn có một hai người lên phát biểu. Mọi người nâng ly vui vẻ, cười nói không ngớt, đùa cợt trêu chọc, có mấy câu đùa nhạt như nước ốc. Nhớ lúc tàn tiệc chuẩn bị lái xe về, chủ tiệc cười lớn bảo: "Lúc tán gái nhớ đội mũ chóp cao vào nhé anh bạn, nghe đồn đội cái đó là bách phát bách trúng đấy." Hắn biết Midge mặc bộ váy xanh đó ngồi thẳng đơ bên cạnh hắn, trên mặt treo đúng nụ cười như trong tấm ảnh vừa bị thiêu rụi, nhiệt tình nhưng ngơ ngác, chẳng hiểu tay chủ nhà hơi men chuếnh choáng kia nói thế có ý gì. Hắn biết Midge đã muốn kết thúc buổi tối này từ lâu, nhưng vẫn mong bản thân trông thật đoan trang quý phái, tràn đầy hứng khởi, và quan trọng hơn cả, mụ tha thiết mong mình trông thật quyến rũ.
Hắn cho xe vào gara, về nhà thì thấy mụ chẳng hiểu sao lại ngồi trong phòng khách đợi hắn. Mụ đã cởi áo khoác, để lộ bộ váy dạ hội bên trong, trên mặt treo nụ cười đầy ẩn ý.
Hắn ngáp dài ngồi xuống, cầm lấy một cuốn sách. Mụ đợi một lát, rồi chậm rãi cầm áo khoác, bước lên lầu. Tấm ảnh đó chắc chắn chụp sau đêm ấy. "Gửi Buzz yêu quý nhất của em. Từ Midge yêu dấu." Hắn ném một nắm cành khô vào lửa. Cành cây nổ lách tách, vỡ vụn, biến tấm ảnh thành tro tàn. Tối nay không có thứ củi ướt bốc khói xanh lè nữa...
Hôm sau trời ấm áp dễ chịu, nắng rực rỡ, chim hót ríu rít. Hắn bỗng nhiên muốn lên London. Thời tiết này rất hợp để tản bộ trên đường Bond Street, ngắm dòng người tấp nập ngược xuôi. Có thể ghé tiệm may, đi cắt tóc, tới quán rượu ưa thích chén một tá hàu. Cơn cảm cúm của hắn đã khỏi, một ngày tuyệt vời đang đón đợi. Thậm chí hắn có thể đi xem kịch.
Một ngày trôi qua đúng như hắn muốn, êm ả thuận buồm xuôi gió, không một chút mệt mỏi, đổi gió cho chuỗi ngày thôn quê tẻ nhạt không đổi. Tầm bảy giờ tối, hắn lái xe về nhà, trong lòng mong chờ rượu ngon và bữa tối. Trời rất ấm, dù mặt trời đã lặn cũng chẳng cần mặc áo khoác. Lúc rẽ vào con đường nhỏ, tình cờ gặp một người nông dân đi ngang qua, hắn vẫy tay chào.
"Thời tiết đẹp thật đấy," hắn gọi với theo.
Người nông dân cười gật đầu, hô to: "Từ giờ trở đi toàn ngày đẹp thôi!" Người này xởi lởi thật. Từ hồi thời chiến khi hắn còn lái máy cày, đám nông dân này lúc nào cũng rất thân thiện.
Cất xe xong, hắn vào nhà làm một ly rượu. Trong lúc đợi bữa tối, hắn tản bộ ra vườn. Mấy tiếng đồng hồ tắm nắng đã đem lại thay đổi ghê gớm cho nơi này. Thủy tiên đều đã nở rộ, hàng rào xanh tươi mơn mởn, nhú đầy chồi non. Trên cây táo, nụ hoa bung nở hết cỡ, hoa trĩu cành. Hắn bước lại gần cái cây nhỏ mình thích nhất, khẽ chạm vào hoa, cảm nhận sự mềm mại êm ái. Hắn lay nhẹ cành cây, cành rất chắc chắn, không bị rụng. Dù lúc này chưa ngửi thấy mùi hương, nhưng chẳng mấy ngày nữa, qua sự tắm táp của nắng và gột rửa của mưa rào, hương hoa sẽ ngào ngạt khắp nơi. Mùi hương ấy không gắt, không nồng, mà là hương thơm thanh nhã. Đó là thứ hương thơm đòi hỏi người ta phải tự mình tìm kiếm như loài ong, một khi đã tìm thấy, nó sẽ mãi quấn quýt bên mình, quanh quẩn không rời, mê đắm, dễ chịu và ngọt ngào. Hắn vỗ nhẹ vào thân cây nhỏ, bước xuống bậc thềm trở vào nhà.
Sáng hôm sau, lúc hắn đang ăn sáng, cửa sổ phòng ăn vang lên tiếng gõ cộc cộc. Chị giúp việc bảo Willis đang ở bên ngoài, muốn thưa chuyện với hắn. Hắn bèn cho Willis vào.
Willis trông rất ấm ức. Gặp rắc rối gì sao?
"Thưa ông, xin lỗi đã làm phiền ông," người làm vườn nói, "nhưng sáng nay tôi với ông Jackson có lời qua tiếng lại. Ông ấy cứ cằn nhằn mãi."
Jackson chính là người nông dân đó, chủ của mảnh đất kế bên.
"Ông ta phàn nàn chuyện gì?"
"Ông ấy bảo tôi ném củi qua hàng rào sang đất của ông ấy. Một con ngựa con đi theo ngựa mẹ bên đó vấp phải củi, bị thọt chân rồi. Thưa ông, cả đời tôi chưa từng ném củi qua hàng rào bao giờ. Người đâu mà cay nghiệt thế không biết. Ông ấy bảo con ngựa con đó đáng giá lắm, giờ thành ra không bán được nữa."
"Tôi mong là anh đã bảo với ông ta không phải anh làm."
"Tôi có nói chứ, thưa ông. Nhưng khổ nỗi là có người làm thật. Ông ấy dẫn tôi sang chỉ tận nơi, ngay sau gara, đống củi nằm chình ình ở đấy. Tôi nghĩ tốt nhất nên vào thưa với ông trước, chứ nếu tôi xuống bếp nói, ông biết đấy, thể nào cũng sinh chuyện."
Hắn cảm thấy người làm vườn đang nhìn mình. Đương nhiên hắn không thể chối, vả lại ngay từ đầu đã là lỗi của Willis.
"Chẳng việc gì phải xuống bếp nói cả, Willis," hắn bảo. "Là tôi ném đấy. Anh tự tiện vác đống củi đó vào nhà tôi, hại lửa không bén được, khói mù mịt khắp phòng, hỏng toi cả buổi tối. Tức mình tôi mới quẳng chúng qua hàng rào. Nếu làm ngựa của Jackson bị thương thì anh cứ thay tôi xin lỗi, bảo ông ta là tôi sẽ bồi thường. Chỉ xin anh từ nay đừng vác cái thứ củi mục đó vào nữa."
"Thưa ông, tôi biết đống củi ấy không tốt lắm, nhưng tôi không ngờ ông lại vứt sạch đi thế."
"Phải, tôi vứt đấy. Chuyện dừng ở đây thôi."
"Vâng, thưa ông." Người làm vườn làm bộ định đi, nhưng trước khi bước ra khỏi phòng ăn lại khựng lại. "Tôi cũng chẳng hiểu sao chỗ củi đó lại không cháy được. Tôi có cầm một ít về cho vợ, nó cháy đượm mà sáng rực trong bếp nhà tôi."
"Ở đây thì nó không cháy."
"Chỗ cành gãy trên cây cổ thụ đã mọc cành mới rồi đấy, thưa ông. Sáng nay ông đã nhìn thấy chưa?"
"Chưa."
"Nhờ nắng hôm qua đấy, thưa ông, với cả đêm cũng ấm nữa. Cây già nở hoa rồi, giờ trông đẹp lắm. Ông nên ra ngoài tự mình xem thử."
Willis rời đi. Hắn tiếp tục ăn sáng.
Giờ thì hắn đã đứng ngoài hiên. Thoạt đầu hắn không bước ra bãi cỏ, mà vờ bận việc trong tiết trời đẹp thế này, khiêng một chiếc ghế bành sân vườn rất nặng ra ngoài. Rồi hắn lấy kéo tỉa cành, bắt đầu xén mấy bụi hồng dưới cửa sổ. Nhưng rốt cuộc, hắn vẫn bị hút về phía gốc cây.
Cảnh tượng trước mắt đúng như Willis nói. Hắn không rõ là nhờ ánh nắng, nhiệt độ, hay sự êm ả của màn đêm, mà những nụ hoa nâu nhỏ xíu kia đã bung nở hoàn toàn, tạo thành một quầng hoa trắng muốt mọng nước trải dài trên đầu hắn. Trên ngọn cây hoa nở ken dày nhất, từng lớp từng lớp xếp chồng, như mớ bông gòn sũng nước. Từ những cành cao nhất cho đến cành sà sát mặt đất, hoa tuyền một màu trắng bợt.
Trông nó chẳng giống một cái cây chút nào, mà giống chiếc lều người cắm trại bỏ lại đang đung đưa trong mưa, hay một miếng giẻ lau khổng lồ loang lổ, bạc phếch vì nắng. Từng chùm hoa trĩu trịt là gánh nặng quá sức đối với thân cây mảnh khảnh gầy guộc, hơi ẩm đọng trên hoa lại càng khiến gánh nặng thêm trĩu xuống. Cây già dường như oằn mình không chịu nổi, chưa dầm mưa mà những bông hoa sát mặt đất nhất đã ngả sang màu nâu.
Được rồi, cảnh này chứng minh Willis không nói ngoa. Cây nở hoa thật, nhưng nó không bung tỏa sức sống hay nét đẹp đẽ nào, mà không hiểu sao, như thể do bản tính, nó đã đi chệch đường, biến thành một thứ quái thai trơ trẽn, không hề biết đến dáng vẻ hay đường nét của mình, chỉ biết mù quáng làm vừa lòng kẻ khác. Trông nó như đang nở một nụ cười vừa chột dạ vừa đắc ý: "Nhìn này, tôi nở hoa là vì ông đấy."
Bất chợt sau lưng vang lên tiếng bước chân. Là Willis.
"Đẹp lắm phải không, thưa ông?"
"Xin lỗi, tôi không thưởng thức nổi. Hoa nở dày quá."
Người làm vườn nhìn hắn, không nói một lời. Hắn chợt nghĩ Willis chắc chắn sẽ coi mình là một gã gàn dở bướng bỉnh, rồi lại xuống bếp buôn chuyện với chị giúp việc.
Thế là hắn gượng cười với Willis.
"Này," hắn nói, "tôi không có ý làm anh cụt hứng. Nhưng tôi chẳng có tí hứng thú nào với kiểu hoa đó. Tôi thích mấy bông hoa nhỏ nhắn, nhẹ nhàng, sặc sỡ trên cây con kia hơn. Cơ mà anh có thể hái hoa trên cây già mang về cho vợ. Thích cắt bao nhiêu tùy ý, tôi không bận tâm đâu. Tôi còn mong anh mang đi cho rảnh."
Hắn hào phóng xua tay, muốn Willis đi lấy thang tới cắt hoa ngay lập tức.
Willis lắc đầu, vẻ mặt sững sờ.
"Không, cảm ơn ông. Tôi đâu dám làm thế. Làm vậy là hỏng cây mất. Tôi muốn đợi nó ra quả. Đó mới là điều tôi trông đợi."
Nói thêm cũng vô ích.
"Được rồi, Willis. Thế thì thôi."
Hắn quay lại hiên. Nhưng khi ngồi xuống dưới nắng nhìn ra triền cỏ, hắn thấy mình hoàn toàn không nhìn được cây nhỏ đứng e ấp, dịu dàng bên bậc thang, không thấy được những bông hoa mềm mại hướng lên trời xanh của nó nữa. Nó còn quá thấp, bị cái thứ quái thai kia che khuất hoàn toàn, chìm nghỉm giữa đám mây dệt bằng những cánh hoa rũ rượi. Đám cánh hoa ấy phần lớn đã úa tàn, trắng bệch ảm đạm, rụng lả tả xuống cỏ. Dù hắn có xoay ghế trên hiên theo hướng nào cũng không tránh nổi nó. Nó cứ đứng trơ ra đó, trách móc, bồn chồn, khao khát vì không giành được sự hài lòng của hắn.
Mùa hè năm ấy, hắn tự thưởng cho mình một kỳ nghỉ dài nhất trong nhiều năm. Trước kia hắn luôn đi nghỉ một tháng cùng Midge, lần này trước tiên hắn tới Norfolk ở với mẹ già mười ngày, sau đó sang Thụy Sĩ và Ý trải qua phần còn lại của tháng Tám cùng cả tháng Chín.
Hắn tự lái xe, tùy hứng muốn đi đâu thì đi. Hắn chẳng thích ngắm cảnh, đi bộ đường dài hay leo núi. Điều hắn thích nhất là ghé thăm một thị trấn nhỏ vào buổi tối se lạnh, chọn một quán trọ tuy nhỏ nhưng ấm cúng, rồi cứ thế ở lì lại. Nếu thích, hắn có thể ở đó hai ba ngày, chẳng làm gì cả, chỉ đi dạo quanh quẩn, thong thả giết thời gian.
Hắn thích gọi một ly rượu trong quán nhỏ hay nhà hàng, ngắm dòng người, phơi nắng suốt buổi sáng. Dạo này dường như có rất nhiều người trẻ tràn đầy sức sống đi du lịch. Hắn thích nghe tiếng trò chuyện xung quanh, miễn là hắn không phải tham gia vào đó. Thỉnh thoảng trên đường có người mỉm cười với hắn, trong quán trọ đôi khi cũng có khách khác chào hỏi, nhưng hắn không cần phải làm quen sâu hơn. Hắn có thể mặc sự đời, đắm mình trong sự thảnh thơi của riêng mình, làm một người xa lạ.
Ngày trước còn ở với Midge, bất kể đi đâu nghỉ mát, mụ cũng phải xán lại làm thân với người khác, chẳng hạn như mấy cặp vợ chồng mà mụ thấy "thân thiện", hoặc là những kẻ "cùng chí hướng" trong mắt mụ, điều đó khiến hắn chịu không nổi. Ban đầu chỉ là ngồi uống cà phê, trò chuyện, sau đó liền cùng nhau lên lịch trình, bốn người chung một chuyến xe. Thế là hỏng toi kỳ nghỉ. Mọi thứ làm hắn phát ngấy.
Giờ thì tạ ơn trời đất, hắn không cần phải làm thế nữa, có thể tùy ý làm theo nhịp điệu của mình, không phải lúc đang khoan khoái thưởng thức rượu vang lại nghe Midge ngồi bên lải nhải: "Nào, chúng mình đi tiếp chưa nhỉ?" cũng không bị Midge lên lịch đi thăm thú mấy nhà thờ cổ lỗ sĩ mà hắn chẳng có lấy nửa phần hứng thú.
Kỳ nghỉ khiến hắn béo lên một chút, nhưng hắn chẳng hề bận tâm. Sẽ không còn ai sau bữa ăn no nê lại khuyên hắn nên đi bộ một quãng cho tiêu bớt, cái trò chỉ tổ phá tan cơn buồn ngủ ngọt ngào do cà phê và đồ ngọt mang lại; cũng chẳng còn ai làm ầm ĩ lên vì chiếc áo sơ mi hay cà vạt sặc sỡ mà hắn nổi hứng khoác lên người.
Hắn không đội mũ, phì phèo điếu xì gà, thong thả dạo bước giữa các thị trấn và làng mạc, xung quanh thỉnh thoảng có những người trẻ vui vẻ hướng về hắn mỉm cười. Hắn thấy mình vô lo vô nghĩ như một con chó. Đây mới là sống chứ. Không phiền não, không âu lo, chẳng có cái kiểu "ngày mười lăm chúng ta nhất định phải về tới nhà vì em phải họp ban quản trị bệnh viện", cũng chẳng có kiểu "mình không đi quá hai tuần được đâu, ở nhà khéo lại có việc". Thay vào đó là ánh đèn lấp loánh nơi góc chợ, tiếng nhạc rộn ràng, tiếng cười đùa của lũ trai gái, tô điểm cho thị trấn nhỏ mà hắn thậm chí lười chẳng buồn nhớ tên. Uống cạn một chai vang địa phương, hắn cúi mình chào một cô gái trẻ quấn khăn rực rỡ trên đầu, hai người liền cùng nhau nhảy múa tưng bừng dưới mái lán. Hắn chẳng bận tâm bước nhảy của cả hai có nhịp nhàng hay không, đã nhiều năm không khiêu vũ, hắn chỉ muốn tận hưởng phút giây hiện tại. Điệu nhạc dứt, hắn buông tay, cô gái cười khúc khích chạy về phía đám bạn trẻ tuổi, chắc chắn là đang trêu chọc hắn. Mà thế thì đã sao? Dù gì hắn cũng đã chơi thỏa thuê rồi.
Cuối tháng Chín, trời trở lạnh, hắn rời nước Ý. Về đến nhà đã là tuần đầu tiên của tháng Mười. Chẳng hề gì, chỉ cần đánh một bức điện tín cho chị giúp việc, bảo khoảng ngày nào mình về tới nơi là xong. Hồi còn ở với Midge, dù chỉ ra ngoài vài ngày, về đến nhà cũng đồng nghĩa với một đống phiền toái: phải lên danh sách đồ tạp hóa, sữa, bánh mì cần mua, mở cửa phòng ngủ cho thoáng khí, nhóm lửa, nhắc người đưa báo sáng mai nhớ giao báo tới. Hàng đống việc vặt vãnh.
Vào một đêm tháng Mười dịu êm, xe của hắn rẽ vào con đường nhỏ trước cửa nhà. Ống khói đang tỏa khói, cửa trước mở rộng, tổ ấm đáng yêu đang đợi hắn trở về. Hắn chẳng cần cuống cuồng chạy ra cửa sau kiểm tra xem đường ống có hỏng hóc gì không, nước và đồ ăn có đủ không, chị giúp việc đâu có ngu ngốc đến mức đem mấy chuyện đó ra làm phiền hắn. "Chào buổi tối, thưa ông. Mong là ông đã có một kỳ nghỉ vui vẻ. Vẫn dùng bữa tối vào giờ cũ chứ ạ?" Tiếp theo là một khoảng lặng yên tĩnh. Hắn có thể uống rượu, hút thuốc, thả lỏng, không vội mở xấp thư từ trước mắt, cũng chẳng có tiếng chuông điện thoại, không phải nghe người đàn bà đầu dây bên này nói liến thoắng không ngớt: "Thế nào rồi? Thật á? Em yêu... thế anh nói sao? ... Ả ta làm thế thật à? ... Thứ Tư chắc em không đi được rồi..."
Hắn khoan khoái vươn vai thư giãn cơ thể đã cứng đờ vì lái xe, nhàn nhã nhìn ngắm phòng khách gọn gàng dễ chịu. Lái một mạch từ Dover về, hắn đã đói lả. Đĩa bít tết trước mặt ít hơn nhiều so với khẩu phần hắn ăn ở nước ngoài, nhưng quay về với chế độ ăn thanh đạm đối với hắn cũng chẳng sao. Ăn hết phần bít tết, hắn lại xơi thêm một phần bánh mì nướng cá mòi, rồi ngó nghiêng xem có món tráng miệng gì không.
Trên tủ đựng bát đĩa có bày một đĩa táo. Hắn bưng lại, đặt lên bàn ăn trước mặt. Thứ của nợ xấu xí, vừa nhỏ vừa quắt queo, mang màu nâu sẫm. Hắn cắn một miếng nhỏ, nhưng vừa nếm được vị là lập tức nhổ toẹt ra ngay. Táo này hỏng rồi. Hắn thử một quả khác, cũng thối như thế. Hắn nhìn kỹ lại mấy quả táo. Vỏ táo vừa cứng vừa ráp, nhìn vào cứ ngỡ ruột bên trong sẽ chua. Nhưng ngược lại hoàn toàn, thịt quả nhũn nát, lõi thì vàng khè, nuốt không trôi nổi. Một mẩu nhỏ mắc kẹt giữa kẽ răng, hắn cạy ra, nhớp nháp nhờn nhợt, tởm lợm...
Hắn rung chuông, chị giúp việc liền từ bếp bước ra.
"Còn món tráng miệng nào khác không?" hắn hỏi.
"Thưa ông, e là không có. Tôi nhớ trước kia ông thích ăn táo lắm mà. Willis hái một ít từ vườn vào đấy. Ông ấy bảo ngon lắm, vừa độ chín tới."
"Anh ta lầm to rồi, thứ này nuốt sao nổi."
"Thật xin lỗi ông. Biết thế tôi đã không để ra đây. Ngoài kia còn nhiều lắm. Willis mang vào cả một giỏ cơ."
"Cùng một loại hết à?"
"Vâng, thưa ông. Đều là táo nhỏ màu nâu. Chỉ có mỗi loại này thôi."
"Thế thì thôi. Sáng mai tôi tự xem."
Hắn rời bàn ăn bước vào phòng khách, uống một ly rượu vang Porto nhằm xua đi cái vị táo kia, hắn thậm chí còn nhai một mẩu bánh quy, nhưng chẳng ăn thua. Thứ mùi vị thối rữa nhớp nhúa ấy cứ bám chặt lấy đầu lưỡi và vòm họng, cuối cùng hắn đành phải đi đánh răng. Điều khiến hắn bực bội là lẽ ra sau bữa tối xoàng xĩnh vừa rồi, hắn có thể được ăn một quả táo tươi ngon sạch sẽ: vỏ nhẵn bóng, ruột không quá ngọt mà có chút vị chua thanh. Hắn từng ăn loại táo đó rồi, vị ngon tuyệt hảo. Đương nhiên, loại táo ấy phải được hái đúng thời điểm.
Đêm đó, hắn mơ thấy mình quay lại nước Ý, nhảy múa dưới mái lán ở quảng trường lát đá cuội. Lúc tỉnh dậy, hắn vẫn như nghe thấy tiếng nhạc rộn rã, nhưng hắn không nhớ nổi khuôn mặt của cô gái, cũng không nhớ cảm giác lúc cô giẫm phải chân hắn. Buổi sáng, hắn tỉnh táo nằm trên giường, nhâm nhi tách trà sớm, cố công tìm lại ký ức nhưng chỉ hoài công.
Hắn trở dậy bước về phía cửa sổ, liếc nhìn thời tiết. Trời khá đẹp, trong không khí mang theo chút lạnh giá.
Đột nhiên, hắn nhìn thấy cái cây. Nó đập vào mắt hắn quá bất ngờ, khiến hắn sửng sốt. Giờ thì hắn lập tức hiểu ra đống táo tối qua từ đâu mà có. Cây sai trĩu quả, cành bị đè cong rạp xuống. Cành nào cành nấy lúc lỉu những quả táo nâu nhỏ xíu, chen chúc thành từng chùm. Càng lên phía ngọn, quả càng nhỏ dần, mấy quả trên cành cao chưa kịp lớn, trông chẳng khác nào hạt dẻ. Táo đè nặng lên cây như muốn bẻ còng lưng nó, mấy cành bên dưới gần như đã sà sát mặt đất. Trên bãi cỏ và quanh gốc cây vương vãi thêm cơ man là quả, hoặc là bị gió thổi rụng, hoặc là bị những quả ra sau chèn ép rụng xuống. Táo rụng đầy đất bị ong vò vẽ chích thủng, đã nứt toác thối rữa. Cả đời hắn chưa từng thấy cái cây nào kết trái dày đặc đến mức này. Cây này không bị đống quả nặng trĩu ấy đè gãy rạp đúng là một phép màu.
Bụng chưa có gì ăn, hắn đã bị trí tò mò mãnh liệt lôi tuột ra vườn. Hắn đứng bên gốc cây, chằm chằm nhìn. Đúng rồi, đây chính là thứ táo hắn ăn tối qua. Quả chẳng to hơn quả quýt là bao, nhiều quả thậm chí còn bé hơn. Chúng mọc san sát nhau đến mức dù chỉ muốn vặt một quả, mười mấy quả bên cạnh chắc chắn cũng sẽ bị giật xuống theo.
Cái cây trông thật chướng mắt, ghê tởm, nhưng cũng khiến người ta thấy tội nghiệp. Mấy tháng qua nó đã phải chịu đựng thống khổ. Phải, ngoài từ thống khổ ra chẳng còn từ nào thích hợp hơn. Nó bị đống hoa trái này hành hạ, rên rỉ dưới gánh nặng ngút ngàn, nhưng điều đáng sợ là những quả khiến nó đau đớn ấy lại thối rữa từ trong ra ngoài, không tài nào nuốt nổi. Hắn giẫm lên những quả táo rụng tơi bời vì gió, căn bản không có chỗ né. Chúng bị giẫm bẹp dí nát bét, dính nhơm nhớp vào gót giày, hắn đành phải quẹt vào cỏ cho sạch.
Giá mà cái cây này chết khô trước khi ra quả thì tốt biết mấy. Nó có tích sự gì cho hắn hay cho bất kỳ ai chứ? Mớ quả thối này chỉ tổ rụng vung vãi khắp nơi, làm bẩn thỉu cả mặt đất, bản thân nó cũng bị quả đè cho còng lưng, chịu đủ mọi đày đọa. Có điều lúc này, hắn gần như có thể đắc thắng tuyên bố rằng nhận định của mình đã đúng.
Hồi mùa xuân, dù không muốn, mắt hắn vẫn bị hút về phía tán cây đầy những nụ hoa ẩm ướt, sẫm màu và ủ rũ kia, bây giờ cũng vậy. Cả một cây trĩu quả khiến người ta không tài nào lờ đi được. Mọi ô cửa sổ phía trước nhà đều mở ra hướng về phía nó. Hắn biết rõ điều gì sẽ xảy ra tiếp theo. Nếu không hái, suốt cả tháng Mười, tháng Mười một, đống quả này vẫn sẽ bám dầm dề trên cành. Nhưng sẽ chẳng có ai hái chúng, bởi hái về cũng chẳng ai ăn. Hắn có thể mường tượng ra cảnh suốt cả mùa thu mình sẽ bị cái cây này quấy nhiễu. Mỗi lần bước ra hiên, cái cây ấy lại sừng sững trước mắt, rũ rượi, ngột ngạt đến phát ngấy.
Hắn đã chán ghét cái cây này đến tột cùng. Nó cứ liên tục nhắc nhở hắn về một sự thật, còn là sự thật gì thì hắn không rõ... Nó không ngừng gợi cho hắn nhớ về tất cả những thứ hắn căm ghét nhất từ trước đến nay, nhưng hắn lại chẳng thể gọi tên. Hắn quyết định ngay lập tức phải bảo Willis hái sạch quả mang đi, đem bán hay xử lý cách nào cũng được, miễn sao đừng bắt hắn phải ăn thứ táo này nữa, đừng bắt hắn ngày này qua ngày khác suốt mùa thu phải nhìn cái cây ủ rũ rệu rã này.
Hắn quay lưng lại với nó, nhìn thấy mấy cái cây khác không giống như vậy mới thở phào nhẹ nhõm. Quả trên những cây khác số lượng vừa phải, không hề thái quá. Cây nhỏ bên phải cây già đang can đảm phô diễn vẻ đẹp của mình. Cây nhỏ kết vài quả hồng hào như đóa hoa hồng, kích cỡ vừa phải, màu sắc tươi sáng, dưới ánh mặt trời rọi chiếu, những quả đã chín ửng đỏ lên. Hắn có thể hái ngay một quả, mang vào nhà ăn cùng bữa sáng. Hắn đưa tay khẽ chạm, quả táo liền ngoan ngoãn rơi vào lòng bàn tay. Quả táo đáng yêu tỏa ra mùi thơm ngòn ngọt chua thanh, bên trên còn đọng giọt sương mai, gợi lên cảm giác thèm ăn rõ rệt. Hắn không ngoái đầu nhìn lại cây già lấy một lần, rảo bước đi thẳng vào nhà. Cái bụng đói cồn cào của hắn sắp được thưởng thức bữa điểm tâm rồi.
Người làm vườn mất gần cả tuần mới hái hết quả trên cây già xuống, và rõ ràng là ông ta vô cùng miễn cưỡng.
"Số quả này tùy anh xử lý," chủ nhà bảo, "anh muốn bán lấy tiền tiêu thì cứ giữ. Hoặc đem về cho lợn ăn cũng được. Tóm lại, tôi không muốn nhìn thấy chúng nữa, chấm dứt ở đây thôi. Kiếm cái thang dài rồi hái ngay đi."
Trong mắt hắn, Willis cứ cố chấp lần lữa câu giờ. Hắn đứng từ cửa sổ có thể thấy Willis lề mà lề mề, trước hết chậm rãi bắc thang, rồi chật vật trèo lên, lại trèo xuống kê thang cho vững. Sau màn biểu diễn ấy, ông ta mới bắt đầu hái quả, thả từng quả một vào giỏ. Mấy ngày tiếp theo ngày nào cũng thế. Ngày nào Willis cùng cái thang cũng xuất hiện trên triền cỏ, cành cây cọt kẹt rên rỉ than vãn, trên bãi cỏ la liệt những giỏ, thùng, chậu, bất cứ thứ gì có thể đựng táo.
Cuối cùng cũng xong xuôi. Thang, giỏ, thùng đều được dọn đi, cái cây cũng trở nên trơ trọi. Tối hôm đó, hắn hài lòng nhìn ra ngoài cửa sổ. Không còn đống quả thối chướng mắt nữa. Chẳng còn sót lại một quả nào.
Nhưng trút bỏ được gánh nặng, cái cây không hề nhẹ nhõm hơn, trái lại còn ủ rũ hơn trước. Cành cây vẫn trĩu xuống, những chiếc lá héo rũ co quắp run rẩy trong đêm thu lạnh giá. "Đây là cách ông trả ơn tôi đấy ư?" dường như nó đang cất lời. "Tất cả những gì tôi làm cho ông chỉ đổi lại thế này thôi sao?"
Ánh ngày tàn lụi, bóng cây phủ một mảng u tối lên màn đêm ẩm ướt giá lạnh. Mùa đông sắp tới rồi. Cùng với nó là những chuỗi ngày ảm đạm, ngày ngắn đêm dài.
Hắn chưa từng để tâm chuyện thu qua đông tới. Trước kia, ngày nào hắn cũng lên London làm việc, tiết trời này chỉ có nghĩa là hắn phải đón tàu vào những buổi sáng buốt giá, chưa tới ba giờ chiều đồng nghiệp đã phải bật đèn. Mùa này hay có sương mù, mờ mịt tối tăm. Rồi sau đó, hắn lại ngồi tàu hỏa xập xình chậm chạp về nhà. Toa xe chật ních những gã đàn ông gánh vác gia đình y như hắn, năm người một hàng ngồi chen chúc vai kề vai, có kẻ còn sụt sịt cảm cúm. Tiếp đó là những đêm dài đằng đẵng. Midge sẽ ngồi đối diện hắn trước lò sưởi phòng khách, hắn nghe, hay nói đúng hơn là vờ nghe mụ kể lể hôm nay lại xảy ra chuyện gì không vừa ý.
Nếu hôm nào việc nhà không có chuyện gì, Midge sẽ bắt đầu bới móc chuyện thời sự. "Em thấy giá vé lại tăng rồi đấy. Vé quý của anh thì sao?" hoặc "Bản tin sáu giờ hôm nay nói bao nhiêu chuyện bẩn thỉu ở Nam Phi," hay câu mụ cứ lặp đi lặp lại: "Bên bệnh viện cách ly lại thêm mấy ca bại liệt trẻ em rồi. Em thật chẳng hiểu giới y học rốt cuộc đang làm cái trò gì nữa."
Giờ thì ít ra hắn không cần phải làm người nghe nữa, nhưng ký ức về những đêm dài đằng đẵng đó vẫn vương vất không tan. Khi trong nhà lên đèn, rèm cửa kéo lại, hắn lại nhớ tới tiếng lách cách của que đan, tiếng huyên thuyên không đầu không cuối, và cả tiếng ngáp "ha u" dài thượt. Dạo gần đây hắn bắt đầu lui tới Quán rượu The Green Man ngoài đường lớn, một quán rượu cũ cách nhà chừng một phần tư dặm. Có khi đi trước bữa tối, có khi đi sau bữa tối. Ở đó, chẳng ai đến quấy rầy hắn. Chào hỏi bà chủ xởi lởi là Bà Hill xong, hắn sẽ chọn một góc ngồi xuống, vừa hút thuốc vừa nhâm nhi ly whisky pha soda, nhìn dân địa phương sải bước vào quán. Người thì gọi vại bia, người chơi phi tiêu, kẻ đứng tán gẫu.
Ở một chừng mực nào đó, đây giống như phần nối dài của kỳ nghỉ hè. Dù chỉ hơi na ná, nhưng cũng đủ để hắn nhớ lại bầu không khí vô tư lự ở mấy quán rượu nhỏ và nhà hàng hồi đi nghỉ. Quán rượu này sáng rực ánh đèn, khói thuốc lượn lờ, toát lên sự ấm áp, khách khứa toàn là những người lao động sau giờ làm việc, họ chẳng buồn làm phiền hắn, điều đó khiến hắn thấy cực kỳ khoan khoái dễ chịu. Ngồi lại nơi này một lúc sẽ khiến đêm đông ngắn lại, không đến mức quá khó dung thân.
Giữa tháng Mười hai, một trận cảm khiến hắn phải tạm xa quán rượu hơn một tuần. Hắn buộc phải ở nhà tĩnh dưỡng. Kỳ lạ thay, hắn thấy mình nhớ Quán rượu The Green Man da diết, đồng thời ghê tởm việc phải ngồi một mình trong phòng khách hay phòng đọc sách, chẳng làm được gì ngoài đọc sách hoặc nghe radio. Cơn cảm sốt và nỗi buồn chán đi kèm khiến hắn trở nên u uất, cáu kỉnh, việc không vận động do ốm đau lại làm gan hắn hoạt động kém đi. Hắn cần vận động. Khi một ngày lạnh lẽo u ám nữa sắp tàn, hắn quyết định ngày mai dù thế nào cũng phải ra ngoài. Qua trưa, trời nặng mây u ám báo hiệu một trận tuyết sắp tới, nhưng hắn đã hạ quyết tâm, không thể nào tiếp tục chôn chân trong ngôi nhà này thêm trọn một ngày nữa.
