Chương 7
Chương 7: Cây táo 2
Đăng ngày 06/10/2026
19
Thứ đẩy cơn bực bội của hắn lên đỉnh điểm rồi bùng nổ là món bánh tart mứt sau bữa tối. Hắn vừa khỏi trận cảm nặng, nhưng vị giác chưa hồi phục hẳn, miệng đắng ngắt. Hắn thèm một vị gì đó thật đặc biệt để lấp đầy cảm giác nhạt mồm nhạt miệng. Có lẽ một chút thịt chim trời, như nửa con gà gô nướng vừa lửa, thêm đĩa xúp-lê phô mai. Nhưng con hầu trong nhà thiếu sạch trí tưởng tượng, hắn muốn ăn mấy thứ đó thì khó hơn lên trời. Tối nay ả làm món cá bơn, thứ cá khô xác và nhạt nhẽo nhất đời. Hắn bỏ mứa gần hết. Dọn bát đĩa xong, ả bưng ra một đĩa tart mứt. Vì bụng vẫn rỗng, hắn cắn ngay một miếng lớn.
Miếng bánh khiến hắn nghẹn ứ nơi cổ họng. Hắn sặc sụa ho, khạc đống đồ ăn trong miệng vào đĩa, rồi đứng bật dậy giật chuông.
Con hầu không ngờ bị gọi vào, mặt nghệt ra.
"Cái quái quỷ gì thế này?"
"Bánh tart mứt, thưa ông."
"Mứt gì?"
"Mứt táo ạ. Con tự làm."
Hắn quẳng khăn ăn xuống bàn.
"Ta biết ngay mà. Mày dùng số táo ta đã cằn nhằn từ mấy tháng trước. Ta đã nói rõ ràng với Willis và mày rồi, cấm tiệt mấy quả táo đó xuất hiện trong nhà này."
Mặt con hầu dài thượt ra.
"Thưa ông, ông chỉ dặn không được dùng táo đó nấu ăn hay làm tráng miệng, chứ có bảo không được làm mứt đâu ạ. Con tưởng sên thành mứt thì sẽ ngon. Con tự làm một ít nếm thử thấy bình thường mà, nên mới lấy số táo Willis đưa làm mấy hũ. Trước đây bà nhà với con vẫn hay làm mứt ở đây."
"Được rồi, mày bỏ công ra làm thì ta lấy làm tiếc, nhưng ta nuốt không trôi. Hồi mùa thu ăn mấy quả đó ta đã phát buồn nôn, giờ làm thành mứt hay thành cái gì thì cũng chỉ khiến ta tởm lợm hơn thôi. Đem cái đĩa này đi, đừng để ta nhìn thấy nữa. Ta ra phòng khách uống cà phê."
Hắn run rẩy bước ra khỏi phòng ăn. Thật không thể tin nổi chuyện cỏn con thế này lại khiến hắn tức đến run người. Lạy Chúa! Lũ người này ngu xuẩn quá đỗi. Ả và Willis thừa biết hắn ghét cay ghét đắng mấy quả táo đó, tởm lợm cả mùi lẫn vị của chúng, thế mà cái lũ bủn xỉn này vì muốn tiết kiệm tiền, dám cho hắn ăn mứt tự làm từ chính thứ táo hắn ghê tởm nhất.
Hắn nốc một ly whisky mạnh rồi châm điếu thuốc.
Lát sau, ả bưng cà phê vào. Đặt tách xuống, ả không lui ra ngay.
"Con có thể thưa với ông vài câu không ạ?"
"Chuyện gì?"
"Con nghĩ tốt nhất là con nên xin nghỉ việc."
Họa vô đơn chí. Một ngày, một đêm mệt mỏi rã rời.
"Tại sao? Vì ta không ăn cái bánh tart táo à?"
"Thưa ông, không chỉ vì chuyện đó. Chẳng hiểu sao con thấy mọi thứ đều thay đổi rồi. Đã mấy lần con định nói."
"Ta gây khó dễ gì cho mày sao?"
"Dạ không. Chỉ là hồi bà nhà còn sống, con cảm thấy công sức của mình được ghi nhận, còn bây giờ dường như không còn thế nữa. Dù con cố làm hết sức, chưa từng có ai khen một câu, con chẳng biết mình làm ăn ra sao. Con nghĩ nếu đến làm cho nhà nào có bà chủ thì sẽ vui hơn, ở đó người ta mới để ý đến công sức của con."
"Dĩ nhiên, chuyện của mày thì mày rõ nhất. Ta lấy làm tiếc vì dạo này mày thấy không vui."
"Thưa ông, mùa hè năm nay ông đi vắng lâu quá. Hồi bà nhà còn sống, hai người chưa bao giờ rời nhà quá hai tuần. Giờ thì khác cả rồi. Con thấy hoang mang, mà Willis cũng vậy."
"Willis cũng chán ngấy rồi à?"
"Chuyện đó dĩ nhiên không đến lượt con nói. Con biết chú ấy khó chịu về vụ mấy quả táo, nhưng chuyện cũng qua rồi. Có lẽ chú ấy sẽ tự đến thưa với ông."
"Có lẽ thế. Ta không ngờ mình lại khiến hai người phiền lòng đến vậy. Được rồi, thế thôi. Ngủ đi."
Ả bước ra khỏi phòng. Hắn bực bội nhìn quanh quất. Nếu bọn họ nghĩ thế, chi bằng nhân dịp này tống khứ cả hai đi cho rảnh. Mọi thứ đã khác, mọi thứ đã thay đổi. Toàn nói nhảm nhí. Willis mà cũng dám khó chịu vì vụ mấy quả táo, thật trơ trẽn tột cùng. Chẳng lẽ hắn không có quyền xử lý cái cây của mình chắc? Mặc xác cơn cảm lạnh lẫn thời tiết chết tiệt, hắn không chịu nổi cảnh ngồi trước lò sưởi mà phải nghĩ đến Willis với con hầu nấu bếp nữa. Hắn phải đến quán rượu The Green Man, quên hết đống bực mình này đi.
Hắn khoác áo, quàng khăn, đội chiếc mũ cũ rồi rảo bước ra ngoài. Hai mươi phút sau, hắn đã ngồi vào chỗ quen thuộc ở quán rượu The Green Man. Bà Hill rót cho hắn một ly whisky, đon đả mừng hắn quay lại. Một hai khách quen mỉm cười, hỏi thăm sức khỏe của hắn.
"Bị cảm hả ông? Giờ đâu đâu cũng thấy người ốm."
"Ừ."
"Phải rồi, vào mùa này rồi còn gì?"
"Thảo nào lắm người cảm thế. Tức ngực ngạt thở là khổ nhất đấy."
"Nhức đầu ong ong còn khổ hơn!"
"Chuẩn đấy. Chẳng sai tí nào."
Toàn những người dễ mến, thân thiện. Không lải nhải, không làm phiền ai.
"Cho tôi thêm ly whisky nữa."
"Có ngay, thưa ông. Uống chút whisky cho ấm người, trừ hàn."
Bà Hill cười toe toét sau quầy bar. Người đàn bà này luôn mang lại cảm giác dễ chịu, xởi lởi. Giữa làn khói thuốc lãng đãng, hắn nghe tiếng trò chuyện rôm rả, tiếng cười đùa, tiếng phi tiêu cắm phầm phập vào bảng và tiếng hò reo khi ai đó ném trúng hồng tâm.
"...Nếu tuyết cứ rơi mãi thế này, chẳng biết phải làm sao," bà Hill nói, "Than đá mãi không thấy chở tới. Phải chi có ít củi thì còn cầm cự được một dạo. Nhưng anh biết họ đòi bao nhiêu không? Hai bảng một đống đấy. Đúng là..."
Hắn nhoài người tới trước, cất tiếng. Giọng hắn nghe xa xăm như vọng lại từ nơi nào đó, đến chính tai hắn cũng nghe không rõ.
"Tôi cho bà ít củi," hắn bảo.
Bà Hill quay lại. Ban nãy bà không nói chuyện với hắn.
"Ông bảo sao cơ ạ?" bà hỏi.
"Tôi bảo, tôi cho bà ít củi," hắn lặp lại, "Trong vườn nhà tôi có một cái cây già, mấy tháng trước tôi đã muốn đốn rồi. Mai tôi chặt rồi chở tới cho bà."
Hắn cười, gật đầu.
"Ồ, thôi ông. Tôi không dám làm phiền ông đâu. Rồi người ta sẽ chở than tới thôi, ông đừng lo."
"Phiền hà gì đâu. Tôi rất sẵn lòng giúp bà. Bà biết đấy, vận động một chút cũng tốt cho sức khỏe, dạo này tôi béo ra rồi. Bà cứ yên tâm."
Hắn tựa lưng vào ghế, cẩn thận với lấy chiếc áo khoác.
"Gỗ cây táo đấy," hắn nói, "Bà có chê không?"
"Chê sao được ạ," bà đáp, "Gỗ gì cũng tốt cả. Nhưng ông không giữ lại dùng sao?"
Hắn gật đầu ra vẻ bí hiểm. Thỏa thuận xong. Đây là một bí mật.
"Tối mai tôi kéo xe chở qua." hắn nói.
"Ông đi cẩn thận nhé," bà dặn, "Coi chừng bậc tam cấp..."
Hắn mỉm cười bước về nhà giữa đêm lạnh. Hắn không nhớ mình có cởi quần áo hay đã lên giường bằng cách nào, nhưng sáng hôm sau vừa mở mắt, hắn đã nhớ ngay đến lời hứa chặt cây.
Nghĩ đến việc hôm nay không phải ngày Willis đến làm, lòng hắn lại thấy vui vẻ, thế là chẳng ai cản trở hắn được. Đêm qua tuyết đã rơi, nhưng bầu trời vẫn xám xịt ảm đạm, báo hiệu một đợt tuyết mới sắp tràn về. Nhưng lúc này hắn chẳng bận tâm, không gì ngăn nổi hắn.
Ăn sáng xong, hắn băng qua vườn rau sau bếp, đi tới nhà kho chứa dụng cụ. Hắn lấy cưa, nêm sắt và rìu, những thứ có thể sẽ cần đến. Hắn miết ngón tay cái qua lưỡi rìu. Ừ, còn sắc lắm. Vác đồ nghề đi về phía vườn hoa trước nhà, hắn bật cười, tự thấy bộ dạng mình lúc này hẳn chẳng khác nào tên đao phủ ngày xưa sắp lên đoạn đầu đài xử trảm.
Hắn đặt dụng cụ dưới gốc cây táo. Đốn nó đi là giải thoát cho nó, bởi cả đời này hắn chưa từng thấy cái cây táo nào thảm hại, ủ rũ nhường này. Cái cây này chắc chắn chẳng còn chút sức sống nào. Trên cành không còn nổi một chiếc lá. Nó vặn vẹo, xấu xí, còng queo, phá hỏng cả cảnh quan bãi cỏ. Chỉ cần chặt nó đi, cả khu vườn sẽ sáng sủa hẳn ra.
Một bông tuyết rơi xuống mu bàn tay hắn, rồi thêm một bông nữa. Hắn nhìn xuống cửa sổ phòng ăn phía dưới sân hiên, thấy con hầu đang đặt bữa trưa lên bàn. Hắn bước xuống bậc thềm, vào nhà. "Thế này nhé," hắn bảo, "Cô cứ để phần cơm của tôi trong lò sưởi, hôm nay tôi tự lo được. Có thể tôi sẽ bận nên muốn giờ giấc linh hoạt một chút. Với lại trời sắp đổ tuyết rồi, cô về sớm đi kẻo tuyết rơi dày quá lại không về được. Tôi tự xoay xở tốt, vả lại tôi thích tự làm hơn."
Có lẽ ả nghĩ vì hôm qua mình đòi nghỉ việc nên hắn mới làm vậy. Hắn cũng chẳng hơi đâu bận tâm, hắn chỉ muốn ở một mình, không muốn có ai dòm ngó từ cửa sổ.
Khoảng mười hai rưỡi, ả rời đi. Ả vừa đi khuất, hắn liền tới bên lò sưởi lấy bữa trưa. Hắn muốn ăn cho xong thật nhanh, để dành trọn buổi chiều ngắn ngủi cho việc chặt cây.
Tuyết đã tạnh, chỉ còn lác đác vài cánh hoa tuyết bay lơ lửng. Hắn cởi áo khoác, xắn tay áo, chộp lấy chiếc cưa. Tay trái hắn giật tung đoạn dây thép ở gốc cây, rồi bắt đầu cưa từ vị trí cách mặt đất chừng một foot, lưỡi cưa kéo tới kéo lui, xoèn xoẹt, xoèn xoẹt.
Mười mấy nhát cưa đầu khá êm, nhưng khi ăn sâu vào thớ gỗ, răng cưa bắt đầu bị kẹt chặt, chẳng mấy chốc đã không nhúc nhích nổi nữa. Đúng như hắn lo ngại từ trước.
Hắn cố rút chiếc cưa ra, nhưng vết cắt chưa đủ rộng, thân cây ngậm chặt lấy lưỡi cưa. Hắn chêm một cái nêm vào khe nứt. Vô ích. Hắn chêm thêm cái thứ hai, khe nứt hé ra một chút, nhưng vẫn chưa đủ để rút cưa ra ngoài.
Hắn ra sức giằng kéo chiếc cưa, nhưng uổng công. Cơn giận bốc lên đùng đùng, hắn vớ lấy cây rìu chém điên cuồng vào thân cây, vỏ cây bắn tung tóe, vương vãi khắp mặt cỏ.
Phải thế chứ. Lẽ ra phải làm thế này từ lâu rồi.
Chiếc rìu nặng nề vung lên bổ xuống, thân cây toác ra, rách toạc dưới từng nhát rìu. Vỏ cây bong tróc, những dải xơ trắng muốt bên dưới cũng đứt phựt, nhựa cây dính nhớp tứa ra từ vết thương mới toang. Hắn băm, hắn chặt, khoét bật từng mảng thớ gỗ thô ráp. Hắn quẳng rìu sang bên, dùng tay không giật phăng những mảng thịt cây dai như cao su. Nhưng thế vẫn chưa đủ, phải tiếp tục, tiếp tục nữa.
Chiếc cưa cuối cùng cũng rút ra được, mấy cái nêm bị vứt sang bên. Giờ đây, hắn lại vung rìu lên, giáng thật mạnh vào nơi các thớ gỗ còn xoắn bện chặt chẽ. Thân cây rên xiết, nứt toác, lắc lư dữ dội, chỉ còn dính lại nhờ chút lõi mỏng manh cuối cùng. Tiếp theo, dùng chân đạp. Phải, đạp nó, đạp nữa đi, một cú chót, nó toi rồi, nó sắp đổ rồi... nó đổ rồi... mẹ kiếp, nát vụn ra đi... nó đổ sầm xuống, xé toạc không khí bằng một âm thanh chát chúa, cành lá rào rào gãy nát văng khắp mặt đất.
Hắn lùi lại, quẹt mồ hôi trên trán và cằm, quanh người và dưới chân hắn ngổn ngang xác cây. Gốc cây trắng hếu nham nhở, tua tủa vết chém của lưỡi rìu trông như một cái mồm toang hoác.
Tuyết lại bắt đầu rơi.
Cây đã đổ, việc đầu tiên tiếp theo là phải chặt bỏ các nhánh nhỏ và cành lớn, rồi phân loại xếp gọn lại để lát nữa kéo đi.
Mấy cành nhỏ bó lại làm củi nhóm lửa thì tuyệt, bà Hill chắc chắn sẽ thích. Hắn móc rơ-moóc vào sau xe, lái đến sát cổng vườn gần sân hiên. Chặt cành thì không khó nhọc gì, chiếc liềm phát quang giải quyết xong ngay, cái mệt là phải cúi gập người bó chúng lại, rồi vác củi qua sân hiên, luồn qua cánh cổng để xếp lên rơ-moóc. Hắn dùng rìu chặt những cành to hơn thành ba bốn đoạn, bó lại rồi kéo từng bó chất lên xe.
Hắn đang chạy đua với thời gian. Qua bốn giờ rưỡi chiều là tắt nắng, mà tuyết vẫn rơi không ngớt, đã phủ trắng xóa mặt đất. Mỗi lần dừng lại gạt mồ hôi, những bông tuyết mỏng manh lại đáp xuống môi hắn, len lỏi một cách êm đềm, mềm mại qua cổ áo, trượt xuống cổ và ngực hắn. Hắn ngước nhìn bầu trời, mắt lập tức bị tuyết phủ kín. Tuyết rơi dày hơn, nhanh hơn trước, cuộn xoáy trên đỉnh đầu hắn. Bầu trời dường như biến thành một mái vòm bằng tuyết, đè dần xuống mặt đất, mỗi lúc một thấp, mỗi lúc một gần, như muốn bóp nghẹt cả thế giới. Tuyết phủ lên thân cây gãy và cành nhánh, cản trở công việc của hắn. Chỉ cần hắn dừng tay, dù chỉ để thở dốc một hơi hay lấy lại chút sức lực, tuyết sẽ lập tức phủ lên đống củi như một lớp màng bảo vệ mềm mại và trắng toát.
Hắn không thể đeo găng tay, nếu không sẽ không cầm chắc được liềm hay rìu, cũng chẳng thể thắt nút dây thừng để kéo cành cây. Ngón tay hắn tê buốt vì cóng, chẳng mấy chốc sẽ cứng đờ không co duỗi nổi. Khuân vác nặng quá lâu khiến tim hắn nhói đau, thế mà khối lượng công việc trước mắt dường như chẳng hề vơi bớt. Mỗi lần quay lại bên thân cây đổ, hắn đều cảm thấy đống gỗ vẫn cao ngất ngưởng y như lúc đầu. Mấy cành cây dài ngắn, mấy cành củi nhóm, gần như đã bị tuyết vùi lấp khiến hắn quên mất sự tồn tại của chúng. Phải bó chặt tất cả lại, rồi vác đi hoặc kéo đi.
Đến khi dọn sạch cành nhánh thì đã quá bốn giờ rưỡi chiều, trời gần như tối hẳn. Bây giờ chỉ cần kéo ba đoạn thân cây đã chặt qua sân hiên, chất lên chiếc rơ-moóc đang chờ sẵn là xong.
Hắn đã kiệt sức đến cùng cực, chỉ còn bấu víu vào niềm tin sắt đá rằng phải tống khứ cái cây này đi để gượng lại. Hơi thở của hắn trở nên chậm chạp và nhọc nhằn. Tuyết cứ bay vào miệng, vào mắt, khiến hắn nhìn gì cũng lờ mờ.
Hắn lấy dây thừng buộc quanh thân cây lạnh ngắt, trơn tuột, ra sức thắt nút. Phần gỗ lộ ra cứng ngắc, vỏ cây thô ráp cào xước đôi bàn tay đã tê dại từ lâu của hắn.
"Mày tới số rồi," hắn lầm bầm, "Kết cục của mày đến rồi."
Hắn ghé một đầu thân cây lên vai, lảo đảo kéo nó xuống con dốc cỏ, qua sân hiên, kéo thẳng tới cổng vườn. Hắn kéo lê khúc gỗ, nó nảy lộc cộc trên những bậc thềm dưới dốc cỏ. Mấy đoạn cuối cùng của cây táo nặng trịch, toát ra một vẻ chết chóc, cứ thế bị hắn kéo lê qua nền tuyết ướt.
Xong rồi. Công việc của hắn đã hoàn thành. Hắn thở hổn hển, một tay vịn vào rơ-moóc đứng thở dốc. Giờ chỉ cần chở đống này tới quán rượu The Green Man trước khi tuyết rơi quá dày bịt kín con đường nhỏ trước cổng. Hắn đã chuẩn bị sẵn sàng từ trước, bánh xe đã lắp xích chống trượt tuyết.
Hắn vào nhà, muốn thay bộ quần áo ướt sũng đang dính chặt vào người, rồi uống một ly. Hắn chẳng còn hơi sức đâu mà nhóm lửa, kéo rèm hay xem tối nay ăn gì, mấy việc con hầu vẫn làm đó cứ để tính sau. Lúc này, hắn phải uống một ly rượu trước đã, rồi chở đống củi đi.
Đầu óc hắn cũng tê dại và mệt mỏi hệt như đôi tay cùng cả thân xác. Hắn ngã phịch xuống chiếc ghế bành, nhắm nghiền mắt lại. Trong một thoáng, hắn nghĩ hay là cứ để mặc tới mai rồi tính tiếp. Không, không được. Ngày mai tuyết sẽ dày hơn, hắn có thể hình dung ra con đường nhỏ có khi sẽ ngập tuyết sâu đến hai ba foot, vả lại chiếc rơ-moóc chất đầy gỗ vẫn nằm ngoài cổng vườn, qua một đêm sẽ bị đóng băng trắng xóa. Hắn phải vực mình dậy, giải quyết dứt điểm ngay tối nay.
Hắn uống cạn ly rượu, thay quần áo rồi ra ngoài nổ máy xe. Tuyết vẫn rơi. Đêm buông xuống mang theo cái lạnh thấu xương buốt giá, đủ sức làm đông cứng mọi thứ. Những bông tuyết cuộn tròn khiến người ta hoa mắt. Lúc này chúng rơi chậm hơn, và dường như có chủ đích hơn về nơi chốn đáp xuống.
Hắn khởi động xe, chiếc ô tô kéo theo rơ-moóc bắt đầu lăn bánh xuống dốc. Chiếc rơ-moóc chất đầy củi nặng, hắn lái rất chậm, hết sức thận trọng. Tuyết liên tục táp vào kính chắn gió, hắn phải căng mắt nhìn đường, chốc chốc lại gạt tuyết trên kính, điều đó càng khiến một kẻ đã lao lực cả buổi chiều như hắn kiệt quệ hơn. Khi chiếc xe cuối cùng cũng đỗ vào khoảnh sân nhỏ của quán The Green Man, hắn thấy ánh đèn nơi đây chưa bao giờ ấm áp đáng yêu đến thế.
Hắn đứng ở ngưỡng cửa quán rượu, chớp chớp mắt mỉm cười.
"Được rồi, tôi chở củi tới cho bà rồi đây." hắn nói.
Bà Hill sau quầy bar nhìn hắn trân trối, một hai người khách cũng quay đầu lại, mấy người đang chơi phi tiêu bỗng im bặt.
"Không thể nào..." bà Hill thốt lên. Hắn đứng bên cửa lắc mạnh đầu, cười lớn với bà.
"Ra xem đi," hắn bảo, "nhưng tối nay đừng bắt tôi dỡ xuống đấy."
Hắn cười thầm trong bụng, đi về góc quán quen thuộc của mình. Những người khác ùa ra cửa ồ lên kinh ngạc, vừa nói vừa cười. Hắn chẳng khác nào một người hùng, đám khách vây quanh hắn hỏi han không ngớt. Bà Hill rót whisky cho hắn, miệng liên hồi cảm ơn. Bà cười toét miệng, lắc lắc đầu. "Tối nay miễn phí cho ông." bà nói.
"Thế sao được," hắn nói, "Tối nay tôi bao. Cho một hai chầu nữa đi. Nào, các anh em."
Với họ, đêm nay ấm áp và vui tươi như một ngày hội, mang theo may mắn. Hắn liên tục chúc bà Hill, chúc bản thân và chúc cả thế giới may mắn. Khi nào thì đến Giáng sinh nhỉ? Tuần sau, hay tuần sau nữa? Kệ xác nó, lúc này đây chính là Giáng sinh tuyệt vời nhất rồi. Tuyết rơi cũng chẳng sao, thời tiết tồi tệ cũng chẳng hề gì. Lần đầu tiên hắn cảm thấy mình là một phần trong số họ, không còn tự cô lập trong góc nữa, thậm chí hắn còn chơi phi tiêu cùng bọn họ. Hắn cảm nhận được họ quý mến hắn, hắn tìm thấy cảm giác thân thuộc, không còn là "ông quý tộc" ở căn nhà bên đường lớn nữa.
Thời gian từng phút từng giây trôi qua, người đến kẻ đi, còn hắn vẫn ngồi đó. Không khí đặc quánh sự mông lung và dễ chịu, ấm áp quyện lẫn khói thuốc. Những gì hắn nghe thấy, nhìn thấy, dường như đều không có thật, nhưng hắn chẳng buồn bận tâm. Bà Hill nơi quầy bar đầy đặn, tươi vui, lại dễ tính, luôn chiều theo mọi yêu cầu của hắn, gương mặt bà lúc này như đang tỏa sáng lấp lánh về phía hắn.
Một khuôn mặt khác đột ngột lọt vào tầm mắt hắn, đó là một tá điền ở nông trại, người từng lái chung máy kéo với hắn hồi chiến tranh. Hắn nhoài người tới trước, vỗ vào vai người đó.
"Con bé đó sao rồi?" hắn hỏi.
Người kia đặt ly rượu xuống, nói: "Ông hỏi ai cơ ạ?"
"Anh nhớ mà. Con bé ở nông trại ấy. Hồi đó nó vắt sữa bò, cho lợn ăn. Một đứa con gái xinh xắn, tóc đen xoăn, lúc nào cũng cười tủm tỉm."
Bà Hill đang rót rượu cho khách khác, nghe thấy vậy liền quay lại.
"Ông đang nói đến May đấy à?" bà hỏi.
"Phải, đúng rồi, đúng cái tên đó, May." hắn nói.
"Sao thế? Ông chưa nghe chuyện à?" Bà Hill rót đầy ly rượu cho hắn, "Hồi đó ai nấy đều bàng hoàng, mọi người bàn tán mãi, đúng không Fred?"
"Vâng, bà Hill."
Người đàn ông lấy mu bàn tay quẹt ngang miệng.
"Chết rồi," gã nói, "Bị văng khỏi yên sau xe mô tô của một thằng cha. Đợt đó nó sắp sửa cưới rồi. Chắc cũng bốn năm trước. Khủng khiếp thật đấy, nhỉ? Con bé ngoan lắm."
"Hồi đó chúng tôi đều gửi vòng hoa viếng," bà Hill nói, "Mẹ nó viết thư cảm ơn gửi lại cho chúng tôi, xúc động lắm. Bà ấy còn cắt một mẩu tin trên báo địa phương kẹp vào nữa, đúng không Fred? Đám tang làm to lắm, bao nhiêu người đến viếng hoa. Tội nghiệp con bé May! Ai cũng quý nó."
"Vâng." Fred nói.
"Không ngờ ông lại chưa từng nghe chuyện này đấy!" bà Hill nói.
"Tôi chưa nghe," hắn nói, "Chẳng ai nói với tôi cả. Nghe mọi người kể tôi thấy buồn quá. Đau lòng quá."
Hắn nhìn chòng chọc vào nửa ly rượu trước mặt.
Những câu chuyện rôm rả xung quanh vẫn tiếp diễn, nhưng hắn đã rút khỏi cuộc trò chuyện. Giờ đây, hắn lại trở về đơn độc một mình, lặng lẽ ngồi trong góc tối. Chết rồi. Cô gái xinh xắn, tội nghiệp ấy đã chết rồi. Bị hất văng khỏi xe mô tô. Chết ba bốn năm rồi. Một gã tồi bất cẩn, phóng mô tô ôm cua quá nhanh, còn cô gái ôm chặt sau lưng gã, mới khoảnh khắc trước có lẽ còn đang cười lớn bên tai gã, khoảnh khắc sau đã đập người xuống đất... thế là hết.
Tên cô ấy là May. Ký ức trong hắn rõ nét dần, trước mắt hiện lên hình ảnh mỗi khi có người gọi tên, cô lại quay đầu nở nụ cười. "Tới đây!" Cô hét lớn, đặt chiếc xô kêu lách cách xuống sân, vừa huýt sáo vừa nện đôi ủng nặng nề bước về phía họ. Hắn từng ôm cô, từng hôn cô trong một thoáng chốc vụt qua. Cô gái nông trại có đôi mắt cười tên là May.
"Về hả ông?" bà Hill hỏi.
"Ừ, ừ. Tôi nghĩ tôi phải về thôi."
Hắn lảo đảo bước ra cửa, mở chốt. Vài tiếng đồng hồ vừa qua tuyết đã ngừng rơi, lớp tuyết đóng trên mặt đất đã đông cứng lại. Mái vòm nặng nề trên bầu trời rốt cuộc đã tan đi, những vì sao đang lấp lánh.
"Có cần giúp một tay với cái xe không?" có người hỏi.
"Không cần đâu, cảm ơn," hắn đáp, "Tôi tự làm được."
Hắn tháo móc rơ-moóc ra, để mặc nó rơi xuống, mấy khúc gỗ trên xe bỗng đổ dồn về phía trước nặng trịch. Để mai đi. Ngày mai nếu thích, hắn có thể quay lại giúp dỡ đống gỗ này xuống. Tối nay thì thôi. Hôm nay hắn làm thế là quá đủ rồi. Giờ đây hắn mệt rã rời, sức cùng lực kiệt.
Hắn phải xoay xở một hồi mới nổ được máy xe, nhưng xe chưa đi nổi nửa đường, hắn đã nhận ra việc chở đống gỗ đi tối nay là một quyết định hoàn toàn sai lầm. Tuyết xung quanh ngập sâu, vệt bánh xe lúc đi đã bị tuyết phủ lấp. Chiếc xe tròng trành, ngoằn ngoèo tiến lên. Bất chợt, bánh bên phải sụt vào tuyết, cả thân xe nghiêng ngả rồi lún hẳn vào ụ tuyết.
Hắn bò ra khỏi xe, nhìn quanh. Xe lún quá sâu, không có hai ba người giúp thì đừng hòng nhích nổi. Mà dẫu hắn có gọi được người giúp, phía trước tuyết cũng dày chẳng kém, hắn lái tiếp làm sao được? Thôi mặc xác nó, đợi sáng mai lại sức rồi tính sau. Giờ nấn ná ở đây cũng vô ích, tốn nửa đêm để hì hục đẩy kéo xe chẳng có nghĩa lý gì. Đây là đường nhánh, xe để ở đây cũng chẳng hỏng được, vả lại đêm nay chắc chẳng có ma nào đi vào đường này đâu.
Hắn bắt đầu đi bộ về nhà. Số hắn đen đủi thật, xe lại lún đúng vào ụ tuyết. Thực ra tuyết giữa đường không sâu lắm, chỉ ngập đến mắt cá chân hắn. Hắn đút sâu hai tay vào túi áo khoác, khó nhọc lê bước lên con dốc, hai bên đường trông như một hoang mạc trắng xóa mênh mông.
Hắn nhớ ra trưa nay mình đã cho con hầu về nhà, khi về tới nơi căn nhà chắc chắn sẽ lạnh lẽo hoang tàn. Lửa chắc đã tàn, lò sưởi chắc cũng vậy. Những ô cửa sổ không buông rèm sẽ lạnh lùng nhìn xuống hắn trong màn đêm, vả lại ở nhà cũng chẳng có bữa tối. Thôi thì, đều là lỗi của hắn cả, chỉ tự trách mình được thôi. Vào những lúc thế này, giá như có ai đó chờ ở nhà thì tốt biết mấy. Người đó sẽ chạy từ phòng khách ra sảnh, mở toang cửa trước để ánh đèn tràn ngập tiền sảnh. "Anh có sao không? Anh yêu. Em lo quá."
Lên tới đỉnh dốc, hắn dừng lại thở dốc, nhìn thấy ngôi nhà của mình lấp ló sau những rặng cây ở cuối đường nhỏ. Nó sừng sững trong bóng tối, lạnh lùng, không một ô cửa sổ nào hắt ra chút ánh sáng. Giờ phút này đứng giữa trời tuyết giá rét, hắn lại cảm thấy ở ngoài trời dưới bầu trời sao còn ấm áp hơn chui vào căn nhà u ám kia.
Hắn đi vào từ cánh cửa ngách không khóa, khép cửa lại, băng qua sân hiên bước về phía vườn hoa. Khu vườn im phăng phắc, không một tiếng động, tựa như có vị thần linh nào vừa ghé qua ếm bùa lên mảnh đất này, biến nó thành một cõi trắng bệch, tịch mịch.
Hắn chầm chậm bước qua tuyết, đi về phía cây táo.
Giờ đây, cái cây nhỏ đứng trơ trọi bên bậc thềm, không còn bị những cành cây bên cạnh che khuất nữa. Nó vươn những cành nhánh lấp lánh sắc trắng, dường như thuộc về một thế giới thần linh đầy huyễn hoặc và linh hồn. Hắn muốn đứng bên cái cây nhỏ, chạm vào những cành cây ấy để xác nhận xem chúng còn sống không, có bị tuyết vùi làm tổn thương không, để sang xuân nó lại có thể đơm hoa.
Nó ở ngay trước mắt, thế nhưng hắn lại lảo đảo ngã nhào xuống đất. Hắn vấp phải một vật bị tuyết vùi lấp, trẹo cả chân. Hắn toan cử động, nhưng bàn chân đã bị kẹt cứng. Cơn đau nhói ở mắt cá chân khiến hắn sực nhận ra, thứ làm hắn vấp ngã chính là gốc cây táo lởm chởm nham nhở mà hắn đã đốn hạ chiều nay.
Hắn chống cùi chỏ rướn tới trước, cố lết thân mình đi, nhưng tư thế ngã khiến chân hắn quặt về phía sau, bàn chân quặp vào trong, mỗi lần hắn cố rướn lên, bàn chân lại càng bị thân cây kẹp chặt hơn. Hắn thò tay xuống dưới tuyết, muốn bám vào mặt đất, nhưng thứ tay hắn chạm phải chỉ có những cành táo vụn nát. Chúng bị tuyết vùi, nằm rải rác quanh nơi cây táo đổ xuống. Hắn gào lên kêu cứu, nhưng thừa hiểu trong lòng rằng sẽ chẳng có ai nghe thấy tiếng hắn gào.
"Thả tao ra," hắn hét, "Thả tao ra." Như thể thứ đang siết chặt lấy hắn có thể rủ lòng thương mà buông tha hắn. Hắn gào thét, những giọt nước mắt vì bất lực và kinh hãi tuôn dài trên má. Bị cây táo già siết chặt thế này, có khi hắn sẽ phải nằm đây suốt đêm. Không hy vọng, không lối thoát, cho đến tận sáng mai người ta mới phát hiện ra hắn, mà đến lúc đó có lẽ đã quá muộn, có lẽ hắn đã chết rồi, cứ thế nằm thẳng cẳng giữa băng tuyết giá lạnh.
Toàn thân ướt sũng, hắn lại vùng vẫy thêm một lần nữa hòng thoát ra. Hắn chửi rủa, hắn thút thít nghẹn ngào. Vô ích. Không nhúc nhích nổi. Hắn mệt quá rồi. Hắn gục đầu lên cánh tay, nước mắt giàn giụa, cơ thể lún sâu dần vào nền tuyết. Đúng lúc ấy, một nhánh cây ướt lạnh chạm vào môi hắn, như một bàn tay ngập ngừng, rụt rè vươn tới tìm hắn giữa màn đêm.
